Vườn ươm DNCN 10 Tháng Mười Một 2014 2:30:00 CH

Đánh giá kết quả hoạt động ươm tạo doanh nghiệp công nghiệp giai đoạn 2007-2013 và phương hướng hoạt động giai đoạn 2014-2020

 

Trong giai đoạn 2007-2013 mô hình ươm tạo doanh nghiệp (DN) công nghệ được thành phố thử nghiệm với 3 trung tâm ươm tạo là: Trung tâm ươm tạo DN Khu Nông nghiệp công nghệ cao, Trung tâm ươm tạo DN công nghệ Đại học Nông Lâm và Trung tâm ươm tạo DN công nghệ Đại học Bách khoa. Số DN đã và đang ươm tạo ở các trung tâm này khoảng 30 DN, trong đó có 3 DN đã tốt nghiệp và một số DN sẵn sàng tốt nghiệp. Các lĩnh vực ươm tạo đa dạng về cơ khí nông, lâm, ngư nghiệp, công nghệ sinh học ứng dụng trong nông nghiệp, chế biến bảo quản nông sản, thủy hải sản, sản xuất cây con giống, điện - điện tử…

I.       Đánh giá kết quả hoạt động giai đoạn 2007-2013

1.   Về  mục tiêu và chiến lược của các trung tâm ươm tạo so với nhu cầu thực tế của thị trường

Nhìn chung, mục tiêu và chiến lược hoạt động phù hợp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và nhu cầu thị trường Việt Nam. Các Trung tâm ươm tạo (TTUT) trong các trường Đại học đã buớc đầu thu hút được sự quan tâm của giới sinh viên và giảng viên, tại TTUT Khu Nông nghiệp công nghệ cao, sinh viên cũng là nhóm đối tượng khách hàng có tỷ lệ cao hơn hẵn so với các nhóm đối tượng khác (DN mới hoặc đang trong hoạt động trong lĩnh vực Nông nghiệp).

Việc tạo dựng một môi trường với những hỗ trợ giúp doanh nghiệp giảm thiểu một phần rủi ro trong giai đoạn đầu phát triển là thật sự cần thiết, đặc biệt là những doanh nghiệp trẻ. Việc giảm được một phần rủi ro và chi phí đầu tư cho giai đoạn khởi nghiệp là một trong những nguyên nhân chính giúp thu hút sự quan tâm của các doanh nghiệp đã tiếp cận, tìm hiểu và đăng ký tham gia vào hoạt động ươm tạo tại các TTUT.

2.   Về hiệu quả ươm tạo doanh nghiệp công nghệ

Thu hút/ sử dụng vốn tài trợ: Các TTUT hiện đang sử dụng nguồn vốn Nhà nước thông qua Sở Khoa học và Công nghệ hoặc Khu Nông nghiệp Công nghệ cao. Do những đặc thù về cơ chế, tính chất hoạt động của TTUT chưa đủ sức hấp dẫn các nhà tài trợ, cũng như còn thiếu nhân lực có kiến thức, kinh nghiệm sâu trong vận động tài trợ. Do đó, nên việc huy động nguồn vốn tài trợ cho các hoạt động của các TTUT thực sự khó khăn.

Cung cấp dịch vụ hỗ trợ Doanh nghiệp: TTUT cung cấp các khóa đào tạo về kỹ năng quản lý, vận hành doanh nghiệp và các kỹ thuật chuyên sâu. Hầu hết các doanh nghiệp đánh giá cao chất lượng các chương trình đào tạo. Ngoài ra, các TTUT cũng có dịch vụ hỗ trợ về nghiên cứu thị trường, tư vấn, quảng bá và xúc tiến các hoạt động thương mại thông qua nhiều hình thức như hội thảo, hội chợ, truyền thông trên website.

Quy trình hoạt động: Các TTUT đã hoàn chỉnh mô hình và quy trình ươm tạo từ tuyển chọn, tiền ươm tạo đến ươm tạo. Các quy chế hoạt động, tiêu chí cũng đã được ban hành tại các TTUT nhằm đảm bảo sự vận hành cơ bản của hoạt động ươm tạo.

Trang thiết bị/hạ tầng: Tất cả các TTUT đều đã hoàn chỉnh về trang thiết bị văn phòng để doanh nghiệp hoạt động, bao gồm: Văn phòng làm việc, hệ thống điều hòa, máy tính và máy in, các hệ thống thông tin liên lạc… Ngoài ra, các TTUT còn cung cấp các dịch vụ miễn phí khác như phòng họp, hội trường.

3.   Về hiệu quả sử dụng các nguồn lực của TTUT

Tỷ lệ doanh nghiệp lấp đầy tại các TTUT là 100%, hầu hết các doanh nghiệp đang hoạt động đều sử dụng các dịch vụ, các tiện ích do trung tâm cung cấp. Một số TTUT được hỗ trợ dưới hình thức thương hiệu hoặc được hỗ trợ đầu tư thêm các máy móc thiết bị; Các dịch vụ hỗ trợ đăng ký mẫu mã, kiểu dáng công nghiệp cho sản phẩm; Kết nối đầu tư cho doanh nghiệp; Tư vấn về đăng ký doanh nghiệp KHCN đều được các TTUT sử dụng tối đa.

4.   Về khả năng phát triển bền vững của TTUT

Trong giai đoạn 2007-2013, chi phí hoạt động của các TTUT đều được tài trợ từ các cơ quan quản lý (Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM, Khu Nông nghiệp Công nghệ cao). Các TTUT cũng đang từng bước tạo ra các nguồn thu khác nhau để có thể tự chủ về tài chính như: ký kết các hợp đồng liên kết đào tạo, dịch vụ nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ với các đối tác trong và ngoài tỉnh, liên doanh với các doanh nghiệp ươm tạo tại trung tâm.

II.      NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ KIẾN NGHỊ

Mặc dù đã đạt được một số thành công trong phát triển hệ thống các TTUT, song việc xây dựng và phát triển của các TTUT doanh nghiệp vẫn còn không ít bất cập, khó khăn: 

-       Khung pháp lý về vườn ươm vẫn còn sơ khai, phạm vi điều chỉnh còn hẹp và chậm được ban hành. Khái niệm về vườn ươm doanh nghiệp công nghệ chưa thực sự rõ ràng, không mang tính pháp định.

-       Các nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của TTUT còn hạn chế do khung pháp lý chậm được ban hành; thiếu nhận thức đầy đủ của cộng đồng doanh nghiệp về vai trò của TTUT và lợi ích trong tài trợ các TTUT. Việc huy động nguồn tài trợ cho hình thành và hoạt động cho các vườn ươm vẫn còn nhiều khó khăn. Nguồn tài trợ cho các vườn ươm còn rất hạn chế.

-       Các doanh nghiệp còn thiếu vốn để hoàn thiện công nghệ; Việc tiếp cận với các nguồn vốn của doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn do chưa thành lập quỹ hỗ trợ hoạt động ươm tạo doanh nghiệp.

-       Đội ngũ cán bộ hoạt động trong lĩnh vực ươm tạo doanh nghiệp mới hình thành,  và chưa có nhiều kinh nghiệm Cán bộ quản lý vườn ươm còn kiêm nhiệm nhiều, thời gian dành cho hoạt động của vườn ươm còn hạn chế. Bên cạnh đó, mức lương thấp khiến khó tìm được cán bộ quản lý vườn ươm chuyên nghiệp.

-       Chất lượng doanh nghiệp đầu vào còn hạn chế, doanh nghiệp chuẩn bị kế hoạch kinh doanh chưa hoàn chỉnh, còn mang tính lý thuyết.

-       Hạ tầng kỹ thuật không đủ đáp ứng cho nhu cầu các doanh nghiệp. Công tác triển khai xây dựng cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng gặp nhiều khó khăn ảnh hưởng lớn đến hoạt động của TTUT.

-       Chưa thiết lập đầy đủ mạng lưới chuyên gia để hỗ trợ cho các doanh nghiệp tham gia ươm tạo.

-       Các trung tâm chưa đủ nguồn lực để thực hiện tìm kiếm thị trường cho doanh nghiệp mà chủ yếu chỉ giúp các doanh nghiệp kết nối thị trường.

III.    PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC TTUT GIAI ĐOẠN 2014-2020

1.     Định hướng chung

-      Phấn đấu đến năm 2020, các TTUT sẽ trở thành một trong những đơn vị đi đầu trong lĩnh vực ươm tạo doanh nghiệp công nghệ trong trường đại học và khu Nông nghiệp, công nghiệp công nghệ cao.

-      Tiếp tục hỗ trợ hoàn thiện các mô hình cơ sở ươm tạo doanh nghiệp công nghệ phù hợp với điều kiện và yêu cầu thực tế của thành phố;

-      Phát triển các cơ sở hiện có theo hướng tăng dần tự chủ về tài chính, lấy doanh nghiệp ươm tạo làm trung tâm;

-      Mở rộng quy mô và hoạt động liên kết ươm tạo doanh nghiệp trong và ngoài thành phố, tăng cường hợp tác quốc tế.

2.     Mục tiêu cụ thể:

a)   Về ươm tạo doanh nghiệp

-      Thiết lập 03 – 05  cơ sở ươm tạo doanh nghiệp công nghệ mới; Hình thành trên 50 doanh nghiệp KHCN mới ; Các cơ sở có khả năng tự chủ trên 50% về tài chính ; Tỷ lệ doanh nghiệp tốt nghiệp đạt trên 50%.

-      Xây dựng và phát huy tốt các nguồn lực để có thể hỗ trợ tốt nhất cho các doanh nghiệp tham gia ươm tạo; Hàng năm thu hút thêm 3-5 doanh nghiệp tham gia vào chương trình ươm tạo; duy trì số lượng doanh nghiệp thường xuyên tham gia ươm tạo từ 6-10 doanh nghiệp/năm; tỷ lệ doanh nghiệp tốt nghiệp đạt 50%.

b)   Về hạ tầng kỹ thuật và tiện ích:

-      Xây dựng và hoàn thiện các khung pháp lý cần thiết để đảm bảo tính khoa học và hiệu quả cao trong công tác quản lí khách hàng tham gia ươm tạo.

-      Phát huy tối đa các nguồn lực để thiết kế mở rộng, xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật và tiện ích đồng bộ, phù hợp với các lĩnh vực ươm tạo, phù hợp với định hướng phát triển của thành phố. Mục tiêu hệ thống hạ tầng kỹ thuật, tiện ích và dịch vụ đến năm 2020 sẽ đáp ứng được cùng lúc từ 10-20 doanh nghiệp tham gia ươm tạo tại mỗi trung tâm.

-      Xúc tiến các hỗ trợ thiết lập hệ thống quản lý chất lượng, quản lý môi trường, sản xuất tinh gọn, hệ thống thực hành sản xuất tốt, quản lý nguồn lực,… trên cơ sở gắn kết với chương trình năng suất - chất lượng – hội nhập của thành phố.

-      Cung cấp chuyên gia tư vấn thiết kế hệ thống quy trình sản xuất từ giai đoạn sản xuất thử cho đến sản xuất hàng loạt nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhanh chóng bước ra thị trường.

-         Mở rộng xây dựng quy trình, thủ tục vận hành mô hình ươm tạo ảo.

c)   Nguồn nhân lực

-      Nguồn nhân lực là yếu tố then chốt quyết định sự thành công; tập trung ổn định cơ cấu tổ chức bộ máy, đảm bảo số lượng phù hợp với từng giai đoạn phát triển của trung tâm; nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực bằng nhiều hình thức tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng trong nước và ngoài nước,… Bên cạnh đó, nghiên cứu xây dựng và trình UBND thành phố những cơ chế hỗ trợ, ưu đãi, tạo lập môi trường làm việc để gửi và thu hút nguồn nhân lực có trình độ cao.

d)   Về quản lý và phát triển nguồn vốn

-      Quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn kinh phí. Chú trọng việc vận động, tìm kiếm các nguồn kinh phí khác ngoài ngân sách bằng nhiều hình thức theo hướng khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào chương trình ươm tạo.

-      Sử dụng hiệu quả, đúng mục đích, đúng quy định các nguồn kinh phí của chương trình hỗ trợ ươm tạo từ ngân sách.

-      Vận động các doanh nghiệp tài trợ cho các sự kiện quảng bá do các trung tâm tổ chức, về lâu dài tiến tới việc nâng cao năng lực vận động tài trợ, xây dựng các chương trình, dự án dài hạn, cố gắng tiếp cận với các nguồn quỹ tài trợ trong và ngoài nước. Phấn đấu đến năm 2020 các trung tâm có thể tự chủ được trên 50% kinh phí hoạt động thường xuyên.

 

 


Số lượt người xem: 7036    
Xem theo ngày Xem theo ngày
  • 35 nam So KHCN 1
  • 35 nam So KHCN-2
  • 35 nam So KHCN-3
  • 35 nam So KHCN-4
  • 30 năm sau một chặng đường phát triển-2
  • 30 năm sau một chặng đường phát triển-1
  • Tư liệu phát sóng

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

1
6
3
7
1
6
1
1
Tìm kiếm