SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Mục tiêu của việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ là nhằm thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; xử lý các bất cập, vướng mắc trong thực tiễn thi hành; nội luật hóa các cam kết quốc tế, tạo khuôn khổ pháp lý cụ thể cho hoạt động SHTT của Việt Nam; bảo đảm tính ổn định, thống nhất, đồng bộ, minh bạch, khả thi, dễ tiếp cận, hiệu lực và hiệu quả của hệ thống pháp luật SHTT, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày một sâu rộng.

Theo Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN), Luật Sở hữu trí tuệ được ban hành năm 2005 và được sửa đổi, bổ sung năm 2009 là dấu mốc quan trọng trong lịch sử xây dựng, phát triển và hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ (SHTT) của Việt Nam. Đạo luật này đã thay đổi toàn bộ cấu trúc của hệ thống các văn bản pháp luật trước đây về SHTT, chuyển từ hệ thống các văn bản pháp luật đơn hành thành một đạo luật chuyên ngành thống nhất, đồng bộ, làm nền tảng pháp lý cơ bản để điều chỉnh các vấn đề có liên quan đến việc bảo hộ và thực thi quyền SHTT. 

Là sự hợp nhất của ba đối tượng được bảo hộ quyền SHTT bao gồm: (i) quyền tác giả (QTG), quyền liên quan đến quyền tác giả (QLQ); (ii) quyền sở hữu công nghiệp (SHCN); và (iii) quyền đối với giống cây trồng (GCT), hiện tại ngoài Luật SHTT, còn có 11 Nghị định quy định chi tiết (17 nếu tính cả các lần sửa đổi) và 22 Thông tư/ Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành (30 nếu tính cả các lần sửa đổi).

Con số này thoạt nhìn có thể tạo ấn tượng về một hệ thống SHTT với các quy định đồ sộ về số lượng. Tuy nhiên, nếu tính trên công thức chung của hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam quy định về một lĩnh vực cụ thể thường có cấu trúc tầng bậc từ Luật - Nghị định quy định chi tiết - Thông tư hướng dẫn thi hành, bên cạnh đó có thể có thêm 1 Nghị định xử phạt hành chính, Thông tư hướng dẫn Nghị định xử phạt hành chính và một Thông tư liên quan đến tài chính thì sẽ thấy các văn bản pháp luật trong lĩnh vực SHTT cũng đi theo một cấu trúc và một số lượng tương tự. Bên cạnh đó, đối với một số vấn đề có sự giao thoa giữa lĩnh vực SHTT và các lĩnh vực khác thì có thêm một số thông tư hoặc thông tư liên tịch cho từng vấn đề cụ thể mà thôi (Ví dụ: vấn đề tên miền, tên doanh nghiệp xâm phạm quyền SHTT, vấn đề bảo mật dữ liệu thử nghiệm trong đăng ký thuốc, hay vấn đề kiểm soát biên giới đối với hàng giả mạo và sao chép lậu v.v.).

Một điểm đáng lưu ý là do đây là một đạo luật được ra đời trong bối cảnh kế thừa và khắc phục các hạn chế của các luật đơn lẻ trước đó, đồng thời tiếp thu những tiến bộ cũng như đáp ứng các yêu cầu khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) nên về cơ bản, nội dung của Luật SHTT đã bảo đảm tiêu chuẩn về tính đầy đủ và hiệu quả, mà bằng chứng cụ thể nhất là quãng thời gian thi hành ổn định tới 15 năm kể từ khi ban hành, trừ một số sửa đổi mang tính bổ sung vào năm 2009.

Tuy nhiên, trước bối cảnh mới với nhiều chuyển biến mạnh mẽ tác động đến mọi mặt của kinh tế - xã hội như quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu và rộng của Việt Nam thông qua việc tham gia các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, làn sóng của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng cũng như mục tiêu hướng tới một Chính phủ kiến tạo, việc sửa đổi Luật SHTT trong giai đoạn hiện nay trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.

Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã xác định một trong những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu là “hoàn thiện thể chế về SHTT theo hướng khuyến khích sáng tạo, bảo đảm tính minh bạch và độ tin cậy cao; quyền SHTT được bảo vệ và thực thi hiệu quả”.

shtt1Ảnh minh họa 

Theo đó, mục tiêu của việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ là nhằm thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; xử lý các bất cập, vướng mắc trong thực tiễn thi hành; nội luật hóa các cam kết quốc tế, tạo khuôn khổ pháp lý cụ thể cho hoạt động SHTT của Việt Nam; bảo đảm tính ổn định, thống nhất, đồng bộ, minh bạch, khả thi, dễ tiếp cận, hiệu lực và hiệu quả của hệ thống pháp luật SHTT, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày một sâu rộng.

Nội dung sửa đổi Luật SHTT lần này cơ bản sẽ tập trung vào 7 nhóm chính sách lớn, bao gồm: (i) Bảo đảm quy định rõ về tác giả, chủ sở hữu QTG, người biểu diễn, chủ sở hữu QLQ trong các trường hợp chuyển nhượng, chuyển giao quyền; (ii) Khuyến khích tạo ra, khai thác và phổ biến sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được tạo ra từ ngân sách nhà nước; (iii) Tạo thuận lợi cho quá trình thực hiện thủ tục đăng ký và xác lập quyền; (iv) Đảm bảo mức độ bảo hộ thỏa đáng và cân bằng; (v) Tăng cường hiệu quả hoạt động hỗ trợ về SHTT; (vi) Nâng cao hiệu quả của hoạt động thực thi quyền SHTT; và (vii) Bảo đảm thi hành đầy đủ và nghiêm túc các cam kết quốc tế trong quá trình hội nhập.

Đây là các nhóm chính sách lớn có tác động đến quan điểm, cách tiếp cận và hướng xử lý đối với cả hệ thống SHTT, bắt đầu từ các khâu sáng tạo, xác lập quyền, bảo hộ quyền, khai thác và thực thi quyền SHTT. Trong mỗi nhóm chính sách sẽ lại có những vấn đề bất cập của các đối tượng quyền SHTT khác nhau (QTG, QLQ, quyền SHCN, quyền đối với GCT) tại các công đoạn khác nhau, các điều khoản liên quan và phương hướng xử lý các bất cập này. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, các quy định liên quan đến xác định chủ thể nắm giữ quyền tài sản (chủ sở hữu, tác giả, người biểu diễn) sẽ được quy định rõ ràng và cụ thể hơn, giúp cho quá trình chuyển nhượng quyền sở hữu, chuyển quyền sử dụng trong các hợp đồng chuyển nhượng, chuyển giao QTG, QLQ được thuận lợi hơn.

Thứ hai, các quy định liên quan đến việc xác định quyền sở hữu, quyền khai thác đối với các nghiên cứu khoa học do nhà nước đầu tư vốn sẽ được quy định rõ ràng và chi tiết hơn, để từ đó khuyến khích phong trào biến các kết quả nghiên cứu thành các tài sản được bảo hộ quyền SHTT (sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí), tạo tiền đề để khai thác thương mại đối với các tài sản này trên thị trường được hiệu quả hơn.

Thứ ba, dù là quyền được xác lập tự động mà không qua đăng ký (trong lĩnh vực QTG, QLQ) hay phải đăng ký (lĩnh vực SHCN), thì các quy định liên quan đến thủ tục, thời hạn, thành phần hồ sơ v.v. cũng cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng gọn nhẹ, nhanh chóng, thuận tiện, minh bạch để khuyến khích, gia tăng hoạt động đăng ký, xác lập quyền SHTT nhằm tạo cơ sở, bằng chứng vững chắc trong việc xác định chủ thể quyền và đối tượng được bảo hộ, làm tiền đề cho việc khai thác quyền cũng như thực thi quyền sau này. 

Thứ tư, các quy định liên quan đến bảo hộ và thực thi quyền SHTT cần được rà soát, cân đối để bảo đảm mức độ bảo hộ thỏa đáng và cân bằng giữa một bên là quyền lợi của chủ thể quyền và một bên là quyền sử dụng, quyền tiếp cận tri thức, công nghệ của xã hội. Theo đó, việc rà soát, sửa đổi sẽ tập trung xử lý các vấn đề liên quan tới quyền tiếp cận tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng; hợp lý hóa cơ chế bảo hộ đối với sáng chế; bổ sung các trường hợp sáng chế, nhãn hiệu bị hủy bỏ hiệu lực nếu không đáp ứng những điều kiện nhất định; hợp lý hóa cơ chế bảo hộ quyền đối với giống cây trồng (cân đối giữa quyền của nhà tạo giống và quyền giữ giống của nông dân).

Thứ năm, các quy định nhằm đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ cho hệ thống SHTT (bao gồm hoạt động đại diện, giám định) cũng được rà soát để sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định trách nhiệm rõ ràng hơn, phân loại phạm vi hoạt động cụ thể và chi tiết hơn, đồng thời cắt giảm các điều kiện kinh doanh không thích hợp để phù hợp với quá trình cải cách thủ tục hành chính chung của đất nước.

Thứ sáu, các quy định liên quan đến thực thi quyền sẽ được sửa đổi nhằm bảo đảm cơ chế bảo vệ quyền SHTT được hiệu quả, hợp lý và khả thi hơn. Theo đó, việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính sẽ được quy định cụ thể, tránh chồng lấn sang các biện pháp mang bản chất dân sự, hoàn thiện các quy định về thực thi quyền trong môi trường số, sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến cách thức và phạm vi áp dụng các biện pháp kiểm soát biên giới đối với hàng xuất, nhập khẩu.

Thứ bảy, các quy định hiện có trong Luật SHTT nhưng chưa hoàn toàn tương thích với các cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam mới là thành viên (như cơ chế bảo mật dữ liệu thử nghiệm đối với nông hóa phẩm; kiểm soát biên giới của cơ quan hải quan v.v.) hay các quy định chưa xuất hiện nhưng phải thi hành theo cam kết quốc tế (như bảo hộ nhãn hiệu âm thanh; cơ chế đền bù cho chủ sở hữu sáng chế do chậm trễ trong thủ tục cấp phép lưu hành thị trường của dược phẩm là sáng chế v.v.) cũng sẽ được rà soát để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

Toàn bộ nội dung các chính sách cũng như các điều khoản dự kiến liên quan tới từng vấn đề trong mỗi chính sách đều đã được công bố công khai để lấy ý kiến trên trang thông tin điện tử của Bộ Khoa học và Công nghệ cũng như của Chính phủ trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Hồ sơ đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT để trình Quốc hội. Kết thúc Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIV hồi tháng 6 vừa qua, Đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT đã chính thức được Quốc hội đồng ý đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021 với dự kiến sẽ xem xét thông qua tại Kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XV vào tháng 6/2022.

Hiện nay, Đề cương các điều khoản cần sửa đổi, bổ sung trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT đang bắt đầu được dự thảo trên cơ sở các vấn đề đặt ra trong 7 nhóm chính sách nêu trên. Dự kiến, dự thảo Luật sẽ bắt đầu được đăng tải và gửi đi lấy ý kiến rộng rãi vào tháng 02/2021 theo đúng quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Có thể nói, hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực SHTT là một trong những khâu quan trọng nhất trong quá trình hoàn thiện hệ thống SHTT nói riêng và trong lộ trình lồng ghép vấn đề SHTT trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Bởi lẽ, nếu được xây dựng và và hoàn thiện trên cơ sở vừa đáp ứng nhu cầu nội tại của đất nước, vừa phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, lại vừa bảo đảm tính tương thích với xu hướng phát triển chung về SHTT toàn cầu, chính sách SHTT mới thực sự trở thành một động lực của kinh tế tri thức, của khoa học công nghệ, để từ đó kinh tế tri thức, khoa học công nghệ tiếp tục là động lực cho sự vươn mình của đất nước.

Bảo Lâm - vietq.vn

UBND TPHCM  vừa chỉ đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư triển khai Nghị quyết 68/NQ-CP ngày 12-5-2020 của Chính phủ về ban hành Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020 – 2025.
 
sgdt
 
Văn phòng UBND TP phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông lựa chọn, tái cấu trúc quy trình, cung cấp trên môi trường điện tử các thủ tục hành chính có nhu cầu lớn, liên quan đến hoạt động của người dân, doanh nghiệp trên Cổng dịch vụ công TP và kết nối, tích hợp với Cổng dịch vụ công quốc gia; tham mưu UBND TP ban hành và triển khai Kế hoạch số hóa kết quả giải quyết thủ tục hành chính giai đoạn 2020 - 2025; hoàn thành kết nối thanh toán trực tuyến các nghĩa vụ tài chính liên quan đến thủ tục hành chính trên Cổng dịch vụ công quốc gia. 
Ngoài ra, các sở, ban, ngành và UBND quận-huyện cũng sẽ cắt giảm triệt để các thủ tục hành chính còn chồng chéo, vướng mắc, không cần thiết trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh; đẩy nhanh tiến độ phê duyệt hồ sơ các dự án đầu tư còn tồn đọng; tiếp tục đổi mới phương thức làm việc thông qua việc xử lý hồ sơ công việc trên môi trường điện tử, thực hiện gửi nhận văn bản điện tử liên thông 4 cấp chính quyền; chuyển đổi từng bước việc điều hành dựa trên giấy tờ sang điều hành bằng dữ liệu.
Đẩy mạnh hình thức họp trực tuyến; đổi mới việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp; công khai đầu mối và thiết lập đường dây nóng để tiếp nhận kiến nghị của người dân và doanh nghiệp; tổ chức tiếp nhận, xử lý kịp thời các phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp...

Trà Giang - saigondautu.com.vn

Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP Mai Tiến Dũng, Chủ tịch Hội đồng tư vấn cải cách TTHC của Thủ tướng Chính phủ đề nghị các bộ, cơ quan, địa phương khi tiếp nhận ý kiến của doanh nghiệp cần xem xét thấu tình, đạt lý. Những ý kiến đề xuất của doanh nghiệp sẽ giúp Chính phủ cải cách thể chế, chính sách, thủ tục hành chính tốt hơn, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp.

ongmaitiendung

Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP Mai Tiến Dũng nêu ý kiến tại Hội nghị. Ảnh: VGP/Hoàng Giang


Thủ tục điều chỉnh vốn đầu tư còn phức tạp 
Trên tinh thần thẳng thắn, cởi mở, trong 4 tiếng, Hội nghị đối thoại với doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam nhằm góp phần giải quyết những khó khăn của doanh nghiệp trong bối cảnh COVID-19 đã ghi nhận hơn 30 ý kiến, đề xuất của đại diện doanh nghiệp Hàn Quốc cùng 26 phần trả lời của các bộ, ngành, địa phương liên quan đến một số vấn đề như: Thực hiện nhanh chóng việc nhập cảnh, cách ly cho doanh nhân, chuyên gia nước ngoài nhập cảnh, sửa đổi Luật Đầu tư, Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần giữa Việt Nam và Hàn Quốc, hỗ trợ phát triển năng lượng mặt trời, cấp giấy chứng nhận nguồn gốc xuất xứ hàng hóa, logistics …

Nêu ý kiến liên quan sửa đổi Luật Đầu tư, đại diện Samsung cho hay, theo Luật Đầu tư Việt Nam, nếu số vốn đầu tư tăng hoặc giảm nhiều hơn một tỉ lệ nhất định thì sẽ phải điều chỉnh và thay đổi giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Tuy nhiên, thủ tục thực hiện thì lại rất phức tạp, tốn nhiều thời gian nên các doanh nghiệp thường hay lo lắng về hiệu quả đầu tư, nhất là với ngành IT - vốn rất quan trọng về thời điểm đầu tư.

"Một công ty con của Samsung bị mất nhiều tháng để thực hiện thủ tục điều chỉnh giấy chứng nhận đăng ký đầu tư vào năm ngoái và cũng suýt bị lỡ mất việc sản xuất sản phẩm mới", đại diện Samsung nêu và cho biết nhờ sự hỗ trợ tích cực từ Chính phủ Việt Nam, Samsung đã giải quyết được mà không gặp vấn đề gì lớn, nhưng các công ty khác thì vẫn có thể gặp các khó khăn tương tự như vậy.

Đại diện Samsung cho rằng nếu đầu tư thực tế giảm so với số vốn đầu tư đã cam kết (từ 10% trở lên) thì doanh nghiệp sẽ phải điều chỉnh giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. DN mong Chính phủ Việt Nam xem xét đến các phương án cải thiện để doanh nghiệp không phải mất nhiều thời gian cho các thủ tục điều chỉnh phức tạp và có thể đầu tư thêm dễ dàng và nhanh chóng hơn, trong trường doanh nghiệp tăng số vốn đầu tư.

Về xuất nhập khẩu, đại diện Samsung cho rằng các vấn đề về logistics như thủ tục hải quan quốc tế liên tục phát sinh do tác động từ đại dịch COVID-19 vẫn tiếp diễn. Nhiều công ty xuất khẩu ở Việt Nam đang gặp ít nhiều khó khăn trong nhập khẩu nguyên liệu và logistics cho xuất khẩu sản phẩm.

Ngoài ra, do việc tạm dừng khai thác các đường bay quốc tế như châu Âu là thị trường khai thác chính, nên ngành logistics hàng không cũng đang gặp nhiều khó khăn về phương diện thời gian và chi phí. DN cho rằng nếu có thể chuyển đổi số máy bay còn lại của Việt Nam - nơi có nhiều đường bay thăng đến châu Âu sang thành máy bay chở hàng tạm thời, thì điều này được kỳ vọng có thể giúp cả hãng hàng không và DN xuất khẩu được hưởng các lợi ích kinh tế.

Giám đốc Tập đoàn Lotte Kim Gun Ha nêu ý kiến đa số các công ty Hàn Quốc hiện đang tiến hành các dự án đầu tư và phát triển bất động sản tại Việt Nam đều đang phải đối mặt với vấn để chậm trễ trong cấp giấy phép kinh doanh, đặc biệt là khu Thủ Thiêm (TPHCM).

Doanh thu bị giảm rõ rệt do sự ảnh hưởng của dịch COVID-19, đại diện Tập đoàn Hyosung Việt Nam đề nghị gia hạn thêm thời gian nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Theo đó, ngoài chính sách hỗ trợ hiện tại là gia hạn thêm 5 tháng đối với thuế thu nhập doanh nghiệp của quý II/2020, xem xét cho doanh nghiệp gia hạn thêm cả thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp của quý III, IV/2020 cũng như tạo điều kiện cho doanh nghiệp dời thời gian kiểm toán định kỳ sang năm sau để doanh nghiệp có thể giảm bớt gánh nặng về nhân lực và vật chất… 

hq1

Đại diện doanh nghiệp Hàn Quốc nêu những khó khăn, vướng mắc và đề xuất kiến nghị. Ảnh: VGP/Hoàng Giang

Xây dựng một hệ thống hành chính thân thiện với doanh nghiệp       

Về việc cải thiện thủ tục hành chính, Chủ tịch Korcham Trung Nam Bộ Kim Heung Soo cho biết, có nhiều trường hợp, các cán bộ phụ trách của các bộ, ban, ngành luôn đặt lập trường của bản thân lên hàng đầu và hoàn toàn không suy xét đến lập trường của các nhà đầu tư nước ngoài. Đối với hệ thống hành chính liên quan đến đầu tư, Chính phủ Việt Nam nên xây dựng một cấu trúc hệ thống tập trung vào các doanh nghiệp và nhà đầu tư.

Đại diện Korcham Trung Nam Bộ kiến nghị tất cả các cơ quan của Chính phủ Việt Nam nên hướng đến sự tinh giản hóa thủ tục hành chính về kinh doanh. Khi công dân hoặc doanh nghiệp hỏi về các chế độ và thủ tục hành chính, thì các cơ quan Chính phủ nên phúc đáp cho công dân và doanh nghiệp càng nhanh càng tốt.

Bỏi nếu thiếu thông tin do mới vào thị trường Việt Nam hoặc do luật và quy định pháp luạt bị thay đổi, cơ quan có thẩm quyền sẽ khó có thể chủ động cung cấp thông tin, nhưng cần chỉ định người phụ trách để có thể cung cấp thông tin rõ ràng cho doanh nghiệp, khi được yêu cầu tư vấn. Chính phủ Việt Nam nên hệ thống hóa điều này để có thể đưa ra câu trả lời kịp thời cho các câu hỏi của doanh nghiệp. Vì 1 phút và 1 giây trong lĩnh vực kinh doanh cũng rất quan trọng, nên chính phủ càn phải liên tục đào tạo cho các cán bộ liên quan.

“Nếu Chính phủ Việt Nam có thể xây dựng một hệ thống hành chính thân thiện với doanh nghiệp thì Việt Nam sẽ có thể thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài hơn nữa”, đại diện Kocham Trung Nam Bộ nói.

Nêu ý kiến tại Hội nghị, Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP Mai Tiến Dũng nhấn mạnh, trong năm 2020 và những năm tiếp theo, Chính phủ, các bộ ngành, địa phương sẽ tập trung thực hiện có hiệu quả Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020 - 2025, kiểm soát chặt chẽ các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh, chuyển đổi phương thức quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm, tăng cường thừa nhận lẫn nhau.

Đồng thời, tích cực triển khai thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử theo hướng nâng cao chất lượng phục vụ, không gắn với địa giới hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, giảm chi phí xã hội và tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.

Bên cạnh việc cải cách thể chế, quy định, thủ tục hành chính, việc tổ chức thực thi quy định cũng sẽ được chỉ đạo quyết liệt và đôn đốc, kiểm tra, chấn chỉnh thường xuyên, liên tục để đảm bảo những kết quả cải cách sớm đi vào cuộc sống.

Đối với một số quy định bất cập tại các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Chính phủ sẽ đẩy nhanh tiến độ trình Quốc hội ban hành để sớm được thực thi trên thực tế.

Theo Bộ trưởng Mai Tiến Dũng, tinh thần của Thủ tướng là trong thời điểm hiện nay phải tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ kép. Trong khi chưa mở các chuyến bay thương mại, Thủ tướng đang tích cực giải quyết cho các chuyên gia, lao động, người thân của chuyên gia, doanh nghiệp, chủ đầu tư… nhập cảnh vào Việt Nam.

“Ngay khi nhận được văn bản đề xuất, có thể thông qua Đại sứ quán hoặc gửi thẳng lên VPCP, chúng tôi sẽ giải quyết trong 24h, qua đó chúng tôi yêu cầu các bộ, cơ quan cấp visa, thị thực nhập cảnh, giải quyết giấy phép lao động… và cho chuyên gia, doanh nhân có thể được thực hiện cách ly tại cơ quan, doanh nghiệp… dưới sự giám sát của y tế địa phương để bảo đảm công tác phòng chống dịch COVID-19”, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng nói.

Đồng thời đề xuất với các doanh nghiệp rằng thay vì thay đổi đổi chuyên gia, người lao động gây tốn kém cho doanh nghiệp có thể chuyển sang cách tiếp tục gia hạn visa, gia hạn giấy phép lao động…

Về kiến nghị dùng máy bay Vietnam Airlines để chở hàng, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng cho biết Thủ tướng đã chỉ đạo tăng cường các chuyến bay này; về kiến nghị của Lotte liên quan đến khu Thủ Thiêm, trong tuần tới, Thủ tướng sẽ làm việc với TPHCM để giải quyết, tháo gỡ vướng mắc…

Chủ tịch Hội đồng tư vấn cải cách TTHC của Thủ tướng Chính phủ cho biết, những ý kiến đề xuất của doanh nghiệp sẽ giúp Chính phủ cải cách thể chế, chính sách, thủ tục hành chính tốt hơn, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp.

“Các bộ, cơ quan, địa phương khi tiếp nhận ý kiến của doanh nghiệp cần xem xét thấu tình, đạt lý. Tinh thần của Thủ tướng là không hồi tố. Những vấn đề không đúng sẽ điều chỉnh, những gì bất cập trong chính sách sẽ sửa đổi theo hướng một luật sửa nhiều luật, một nghị định sửa nhiều nghị định”, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng nhấn mạnh.

Hoàng Giang-Gia Huy (baochinhphu.vn)

Dịch vụ chứng thực bản sao điện tử từ bản chính trên Cổng Dịch vụ công quốc gia dự kiến sẽ tiết kiệm được cho xã hội trên 428 tỷ đồng mỗi năm.

Sáng 4/6, tại Trụ sở Chính phủ diễn ra cuộc họp Tổ công tác triển khai dịch vụ chứng thực bản sao điện tử từ bản chính trên Cổng Dịch vụ công quốc gia dưới sự chủ trì của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng.

btMTDung
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng.
Dịch vụ chứng thực bản sao điện tử từ bản chính trên Cổng dịch vụ công quốc gia cung cấp tiện ích đặt lịch hẹn của người dân, doanh nghiệp đến thực hiện chức thực nhằm giúp giảm thời gian chờ đợi khi thực hiện thủ tục.

Với quy định bản sao điện tử được chứng thực từ bản chính có giá trị sử dụng thay cho bản chính đã dùng để đối chiếu chứng thực trong các giao dịch.

Như vậy, người dân, doanh nghiệp có thể thực hiện trực tuyến hoàn toàn đối với đa số các thủ tục hành chính đã được cung cấp trên môi trường điện tử, loại bỏ tình trạng nộp bản sao chứng thực, xuất trình bản giấy để xác minh.

Theo số liệu thống kê của Bộ Tư pháp, trong năm 2019 số lượng bản sao chứng thực được thực hiện là trên 102 triệu bản, nếu sử dụng lại được 30% kết quả chứng thực, chi phí xã hội sẽ tiết kiệm được trên 428 tỷ đồng mỗi năm.

 

Thảo luận tại cuộc họp, các đại biểu cho biết, trong quá trình triển khai dịch vụ này đang gặp một số khó khăn, vướng mắc như: vẫn còn một số văn bản pháp lý liên quan như mẫu bản sao điện tử được chứng thực, các yêu cầu kỹ thuật đối với bản sao điện tử chưa được quy định cụ thể. Tại một số địa phương chưa đảm bảo các thiết bị cần thiết, số lượng chữ ký số để thực hiện nghiệp vụ…

Ông Nguyễn Đăng Lực, Phó trưởng Ban Cơ yếu Chính phủ kiến nghị Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ hướng dẫn về quy trình nghiệp vụ, tài liệu điện tử được chứng thực cụ thể như vị trí, hình thức chữ ký số người tham gia con dấu ở cơ quan, quy trình điện tử cần phải dễ dàng hơn. Nghiên cứu cải tiến quy trình so với quy trình truyền thống hiện nay.

"Về mặt lưu trữ lâu dài cả tài liệu bản sao điện tử có chữ ký số thì cần phối hợp với đề án lưu trữ lâu dài của Bộ Nội vụ đặc biệt cần hướng dẫn đào tạo, tập huấn các cơ quan nhà nước đến cấp xã" - ông Lực nêu ý kiến.

Phát biểu tại cuộc họp, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng cho biết, Thủ tướng giao cho Văn phòng Chính phủ chủ trì cùng các cơ quan tiến hành tổ chức tốt dịch vụ công chứng từ bản chính trên Cổng dịch vụ Công quốc gia – đây là vấn đề mới và khó trong việc quản lý, phân cấp, sử dụng. Do đó, vấn đề chứng thực, xác thực như thế nào để ra một hồ sơ công chứng là một vấn đề quan trọng, cần có một quy trình thống nhất từ Trung ương đến địa phương và có một trình tự hợp lý để thực hiện.

Bộ trưởng Mai Tiến Dũng nhấn mạnh, triển khai dịch vụ chứng thực bản sao điện tử từ bản chính trên Cổng Dịch vụ công quốc gia sẽ tiến tới áp dụng trên toàn quốc. Do đó, các bộ ngành cần phối hợp cùng với Văn phòng Chính phủ xây dựng tài liệu, hướng dẫn việc chứng thực bản sao điện tử từ bản chính trên Cổng Dịch vụ công quốc gia và cung cấp cho tất cả các cơ quan có thẩm quyền chứng thực để thúc đẩy hiệu quả, tiến độ tập huấn trên toàn quốc trong thời gian tới.

"Dự kiến ngày 1/7/2020 chúng ta sẽ khai trương dịch vụ chứng thực điện tử, chứng thực bản sao điện tử từ cổng công đối với bản chính, đây là vấn đề rất quan trọng. Mặc dù thời gian không dài, chưa đến 1 tháng nhưng phải hoàn thiện pháp lý, hoàn thiện thể chế, nhưng đồng thời phải có quy trình chuẩn để khai trương sớm dịch vụ này" - Bộ trưởng Mai Tiến Dũng nhấn mạnh.

Tính đến ngày 3/6, Cổng dịch vụ quốc gia đã có trên 41 triệu lượt người truy cập, 159 nghìn tài khoản đang ký, 9 triệu hồ sơ được đồng  bộ trạng thái, trên 102 nghìn hồ sơ được thực hiện qua Cổng dịch vụ công quốc gia, tiếp nhận hỗ trợ trên 12 nghìn cuộc họp của người dân, doanh nghiệp. Đến nay Cổng dịch vụ đã tích hợp, cung cấp 458 dịch vụ công trực tuyến./.

 

Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Kế hoạch số 1856/QĐ-UBND kiểm tra, khảo sát công tác kiểm soát thủ tục hành chính năm 2020.

hccong
Hệ thống kios tra cứu thủ tục hành chính tại bộ phận một cửa Ủy ban Nhân dân Quận 2. (Nguồn: thanhuytphcm.vn)

Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nền hành chính công, phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dân và doanh nghiệp, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai nhiều giải pháp thực hiện đồng bộ, từ các cấp và ở nhiều lĩnh vực.

Cụ thể, Ủy ban Nhân dân thành phố đã ban hành Kế hoạch số 1856/QĐ-UBND kiểm tra, khảo sát công tác kiểm soát thủ tục hành chính năm 2020.

Ủy ban Nhân dân thành phố sẽ kiểm tra, khảo sát việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính tại các cơ quan, đơn vị, phát hiện những tồn tại, hạn chế để kịp thời chấn chỉnh.

Thành phố tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan, đơn vị trong công tác tiếp nhận và xử lý triệt để các phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức giải quyết thủ tục hành chính đảm bảo minh bạch, khách quan, công bằng, liên thông, kịp thời, chính xác, không gây phiền hà.

Thành phố cũng ghi nhận những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính, kịp thời có giải pháp tháo gỡ, biểu dương, nhân rộng các cách làm hay, có hiệu quả.

Về nội dung cụ thể, Ủy ban Nhân dân thành phố sẽ kiểm tra thủ tục hành chính về cấp phép xây dựng, đất đai tại Ủy ban Nhân dân Quận 5 và một phường thuộc quận; Ủy ban Nhân dân quận Gò Vấp và một phường thuộc quận; Ủy ban Nhân dân huyện Nhà Bè và một xã thuộc huyện, Ủy ban Nhân dân huyện Hóc Môn và một xã thuộc huyện.

Tại Sở Xây dựng, Ủy ban Nhân dân thành phố sẽ kiểm tra thủ tục hành chính về cấp phép xây dựng, việc tổ chức thực hiện cơ chế một cửa liên thông, khảo sát việc tiếp nhận, trả kết quả dịch vụ bưu chính công ích.

Tại Sở Công Thương, Ban Quản lý An toàn thực phẩm, Bưu điện thành phố, Ủy ban Nhân dân thành phố sẽ kiểm tra việc tổ chức thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông, khảo sát việc tiếp nhận, trả kết quả dịch vụ bưu chính công ích. Trong khi đó, tại Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Quận 3, Ủy ban Nhân dân thành phố sẽ kiểm tra việc thực hiện thủ tục hành chính qua hệ thống một cửa đất đai, việc khắc phục những tồn tại, hạn chế tại kỳ kiểm tra trước.

Để cải thiện môi trường kinh doanh, môi trường đầu tư, nâng cao Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của thành phố trong năm 2020 (đang có xu hướng giảm), Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã đề ra và yêu cầu các sở, ngành, quận, huyện khẩn trương thực hiện nhóm giải pháp duy trì các chỉ số đạt mức tốt theo hướng áp dụng tối đa công nghệ thông tin, tăng cường tiếp xúc, nắm bắt và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp về vốn, mặt bằng, đổi mới công nghệ, khuyến khích đầu tư và hợp tác với các trường đại học, dạy nghề có uy tín trong khu vực và thế giới.

Đối với các chỉ số cạnh tranh đạt mức bình quân so với cả nước (như Gia nhập thị trường, Tính minh bạch, Chi phí thời gian), Ủy ban Nhân dân thành phố sẽ triển khai các nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính, gắn trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cải cách hành chính, thực hiện hiệu quả cơ chế một cửa, một cửa liên thông, cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4, công khai công tác quy hoạch kế hoạch, tài liệu của thành phố và quận, huyện trên trang thông tin điện tử của thành phố, sở, ngành, quận, huyện.

Ngành chức năng khảo sát, đánh giá sự hài lòng và khắc phục hồ sơ trễ hạn, thực hiện nghiêm quy định về cung cấp, đăng tải thông tin đấu thầu. Các thủ tục hành chính được hoàn chỉnh theo hướng đơn giản hóa, rút ngắn quy trình, thời gian giải quyết.

Đối với các chỉ số đang ở mức kém (gồm tiếp cận đất đai, chi phí không chính thức, cạnh tranh bình đẳng, tính năng động, thiết chế pháp lý và an ninh trật tự), thành phố sẽ thực hiện ngay các giải pháp công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của 24 quận huyện trên trang điện tử.

Thành phố rút ngắn thời gian cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, công khai trách nhiệm của hoạt động công vụ, đề cao trách nhiệm người đứng đầu trong chương trình, kế hoạch phòng chống tham nhũng.

Thành phố đẩy nhanh tốc độ cổ phần hóa, sắp xếp các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn, kêu gọi đầu tư đối với các công trình trọng điểm.

Định kỳ hàng quý, thành phố đối thoại với doanh nghiệp và xây dựng quy trình giúp doanh nghiệp tố cáo các hành vi tham nhũng của cán bộ, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Trong khi đó, để giải quyết khối lượng công việc của thành phố ngày càng lớn, tính chất phức tạp của hồ sơ ngày càng tăng, tránh tình trạng hồ sơ tham mưu chậm, sai sót về hình thức và nội dung, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thành Phong vừa ký Công văn số 1855/UBND-HCTC. Công văn yêu cầu cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ chủ trì giải quyết vụ việc phải đảm bảo hồ sơ trình Ủy ban Nhân dân thành phố phải có chính kiến của cơ quan, đơn vị.

Đối với đơn vị, cơ quan phối hợp, Ủy ban Nhân dân thành phố yêu cầu phải chấm dứt tình trạng chờ văn bản chỉ đạo của Ủy ban Nhân dân thành phố, phiếu chuyển của Văn phòng Ủy ban Nhân dân thành phố mới thực hiện. Nếu quá thời hạn lấy ý kiến của cơ quan, đơn vị phối hợp không trả lời sẽ xem như đồng ý với ý kiến của cơ quan chủ trì nêu tại văn bản đề nghị và phải chịu trách nhiệm về các nội dung có liên quan thuộc phạm vi, chức năng tham mưu./.

Sáng ngày 19/5, tại trụ sở Chính phủ, Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ tổ chức Hội nghị trực tuyến công bố Chỉ số cải cách hành chính năm 2019 (PAR index 2019) của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính năm 2019 (SIPAS 2019).
Đồng chí Trương Hòa Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ, Trưởng ban Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ chủ trì Hội nghị.
Tham dự Hội nghị có đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đồng chí Lê Vĩnh Tân, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ; đồng chí Nguyễn Trọng Thừa, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Phó Trưởng ban Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ; các thành viên Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ; đại diện lãnh đạo các bộ, ngành ở Trung ương; tại các điểm cầu trực tuyến có đại diện lãnh đạo UBND và Sở Nội vụ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; đại diện lãnh đạo các cơ quan liên quan….

cscchc1
Bộ trưởng Lê Vĩnh Tân phát biểu tại Hội nghị
Phát biểu khai mạc Hội nghị, Bộ trưởng Lê Vĩnh Tân cho biết, năm 2019 là năm có nhiều chuyển biến tích cực, có sự bứt phá ngoạn mục của một số nội dung CCHC trong triển khai thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020. Chỉ số CCHC tiếp tục được khẳng định qua thực tiễn, là một trong những công cụ có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến chỉ đạo, điều hành và kết quả CCHC. Chỉ số CCHC cũng đã đảm bảo việc theo dõi, đánh giá một cách khoa học, hệ thống, định lượng và dựa trên kết quả, huy động sự tham gia của các tổ chức trong bộ máy nhà nước, tăng cường sự đánh giá của người dân, tổ chức và doanh nghiệp đối với quá trình triển khai CCHC của các bộ, tỉnh; đồng thời, hướng tới kết quả hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước với trọng tâm là phục vụ người dân, tổ chức và doanh nghiệp.

Thông qua Chỉ số CCHC, Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương nhận định được mục tiêu, định hướng nội dung, nhiệm vụ và giải pháp cho CCHC nhà nước giai đoạn tiếp theo.

cscchc2
Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo CCHC của Chính phủ Phạm Minh Hùng báo cáo tại Hội nghị
Báo cáo kết quả PAR index năm 2019 của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ, Vụ trưởng Vụ Cải cách hành chính, Bộ Nội vụ Phạm Minh Hùng cho biết, đối tượng xác định Chỉ số CCHC năm 2019 cấp Trung ương gồm 19 bộ, cơ quan ngang bộ (trừ Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Văn phòng Chính phủ). Trong đó, 02 cơ quan đặc thù là Ủy ban Dân tộc và Thanh tra Chính phủ có thực hiện đánh giá nhưng không xếp hạng chung với 17 bộ, cơ quan ngang bộ còn lại. Ở địa phương, đánh giá, xếp hạng cả 63 UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Kết quả Chỉ số CCHC năm 2019 các bộ tập trung vào 2 nhóm điểm: 

Nhóm A, đạt kết quả Chỉ số CCHC trên 90%, bao gồm 03 đơn vị: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Bộ Tài chính; Bộ Tư pháp. 

Nhóm B, đạt kết quả Chỉ số CCHC từ trên 80% đến dưới 90%, gồm 14 đơn vị: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Ngoại giao; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ Nội vụ; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Bộ Công Thương; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Xây dựng; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Y Tế và Bộ Giao thông vận tải. 

Giá trị trung bình Chỉ số CCHC của 17 bộ, cơ quan ngang bộ năm 2019 là 85.63%, tăng 2.95% so với năm 2018 (giá trị trung bình năm 2018 là 82.68%).

Năm 2019 không có Bộ nào có kết quả Chỉ số CCHC dưới 80%. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đạt Chỉ số CCHC năm 2019 cao nhất với kết quả là 95.40%. Bộ Giao thông vận tải có kết quả Chỉ số CCHC thấp nhất với giá trị 80.53%. 

16/17 đơn vị có Chỉ số CCHC tăng hơn so với năm 2018, trong đó, Bộ Giao thông vận tải có giá trị điểm số tăng 5.4% so với năm 2018, là đơn vị có điểm số tăng cao nhất so với các Bộ, cơ quan ngang Bộ. Bộ Công Thương có giá trị Chỉ số CCHC thấp hơn so với năm 2018 là 0.02%. 

Khoảng cách giữa Bộ đạt Chỉ số CCHC năm 2019 cao nhất (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) với Bộ có kết quả Chỉ số CCHC năm 2019 thấp nhất (Bộ Giao thông vận tải) là 14.87% (năm 2018 khoảng cách này là 15.44% và năm 2017 là 20.23%). Điều này cho thấy các Bộ đã có nhiều sự cải thiện về điểm số, phản ánh những nỗ lực cải cách mạnh mẽ của nhiều bộ, ngành trong năm vừa qua. 
cscchc3
Bảng xếp hạng PAR index 2019 các bộ
Phân tích giá trị trung bình của các chỉ số thành phần theo từng lĩnh vực cho thấy, có 6/7 chỉ số thành phần có giá trị trung bình tăng hơn so với năm 2018, trong đó: Chỉ số thành phần “Công tác chỉ đạo, điều hành CCHC” có giá trị tăng cao nhất là 7.06% (từ 87.65% năm 2018 lên 94.71% năm 2019). Chỉ số thành phần “Xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ” có giá trị trung bình thấp nhất, là 79.16%; tuy nhiên, kết quả Chỉ số thành phần này của năm 2019 đã tăng 3.9% so với năm 2018 (từ 75.26% lên 79.16%). Chỉ số thành phần “Cải cách TTHC” tăng so với năm 2018, đạt 84.69%. Các chỉ số thành phần “Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước” (đạt 89.76%) và “Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức” (đạt 84.38%) đã tăng lên đáng kể so với năm 2018. Chỉ số thành phần “Cải cách tài chính công” có giá trị trung bình giảm so với năm 2018 là 2.61% (từ 82.94% năm 2018 giảm xuống còn 80.33% năm 2019). Chỉ số thành phần “Hiện đại hóa hành chính” có giá trị trung bình tăng cao thứ hai sau Chỉ số thành phần “Công tác chỉ đạo điều hành cải cách hành chính” với giá trị tăng 5.75% (từ 83.89% của năm 2018 lên 89.64% ở năm 2019). 

Kết quả Chỉ số CCHC 2019 của các tỉnh, thành phố được phân theo 3 nhóm như sau: 

Nhóm A, đạt kết quả Chỉ số từ 90% trở lên, gồm 01 tỉnh (Quảng Ninh). 

Nhóm B, đạt kết quả Chỉ số từ 80% - dưới 90%, gồm 43 tỉnh, thành phố. 

Nhóm C, đạt kết quả Chỉ số từ 70% - dưới 80%, gồm 19 tỉnh, thành phố. 

Theo đánh giá, Chỉ số CCHC 2019 của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có kết quả đạt giá trị trung bình là 81.15%, cao hơn 4.23% so với giá trị trung bình năm 2018 (đạt 76.92%) và là kết quả cao nhất trong 4 năm gần đây. So sánh giữa 63 địa phương, có 30 đơn vị đạt kết quả Chỉ số cao hơn giá trị trung bình của cả nước. Đáng chú ý, năm 2019 có 44 đơn vị đạt kết quả Chỉ số trên 80%, năm 2018 chỉ có 09 đơn vị đạt kết quả trong nhóm này. Điểm tích cực khác đó là, trong năm 2019 không có địa phương nào đạt kết quả dưới 70%, trong khi năm 2018 có tới 03 đơn vị thuộc nhóm này (Phú Yên, Kon Tum, Trà Vinh). 

Khoảng cách kết quả Chỉ số giữa đơn vị cao nhất và đơn vị thấp nhất trong bảng xếp hạng là 16.22%, tiếp tục được thu hẹp đáng kể so với các năm trước (khoảng cách giữa đơn vị cao nhất - thấp nhất năm 2018 là 19.53%; năm 2017 là 29.76% và năm 2016 là 27.77%). 

Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra, năm 2019, số lượng đơn vị có điểm đánh giá tăng so với năm 2018 là 62 tỉnh, thành phố, cao hơn nhiều so với kết quả đánh giá năm 2018 (chỉ có 19 đơn vị tăng điểm so với năm 2017). Trong số các đơn vị tăng điểm của năm 2019, Trà Vinh là đơn vị tăng cao nhất (+9.04), tăng thấp nhất là Cần Thơ (+0.15). Địa phương duy nhất có kết quả điểm đánh giá năm 2019 giảm so với 2018 là Đà Nẵng (-0.03); tuy nhiên, số giảm là không đáng kể và Đà Nẵng vẫn nằm trong nhóm 10 địa phương đạt kết quả Chỉ số CCHC cao nhất cả nước. 

cscchc4
Bảng xếp hạng PAR index 2019 các tỉnh
Theo kết quả xếp hạng, tỉnh Quảng Ninh tiếp tục có lần thứ 3 liên tiếp đứng đầu bảng xếp hạng Chỉ số CCHC 2019, với kết quả đạt 90.09%, cao hơn 5.45% so với đơn vị đứng ở vị trí thứ 2 là thành phố Hà Nội, đạt 84.64%. Tỉnh Đồng Tháp tiếp tục duy trì vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng, với kết quả Chỉ số CCHC đạt 84.43%, tăng cao hơn 0.72% so với năm 2018. Vị trí thứ 4 và thứ 5 trên bảng xếp hạng Chỉ số CCHC 2019 lần lượt thuộc về thành phố Hải Phòng (84.35%) và tỉnh Long An (84.33%). Đây cũng là những đơn vị có nhiều đổi mới, sáng tạo trong thực hiện CCHC những năm gần đây. 

Bến Tre là địa phương xếp vị trí thứ 63/63 tỉnh, thành phố, với kết quả đạt 73.87%. Chi tiết kết quả đánh giá cũng cho thấy, công tác CCHC năm 2019 trên địa bàn tỉnh Bến Tre còn khá nhiều tồn tại, hạn chế, như: Không hoàn thành một số nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao; chậm xử lý các văn bản trái pháp luật và những hạn chế, bất cập đã được cơ quan thanh tra, kiểm tra có thẩm quyền chỉ ra trong năm 2019; không kịp thời công bố, công khai TTHC theo quy định; nhiều nhiệm vụ về quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản công chưa hoàn thành hoặc thực hiện chưa đúng quy định... 

Năm 2019, nhìn chung, các chỉ số thành phần đều có sự cải thiện đáng kể về giá trị trung bình. Theo kết quả đánh giá, 7/8 chỉ số thành phần có giá trị trung bình tăng cao hơn so với năm 2018; Chỉ số thành phần duy nhất có giá trị trung bình giảm là “Đánh giá tác động của CCHC đến người dân, tổ chức và các chỉ tiêu phát triển KT-XH tại địa phương”, thấp hơn 3.89% so với năm 2018. Điều này cũng dễ hiểu khi Bộ Chỉ số áp dụng cho năm 2019 cho bổ sung nhiều tiêu chí mới và khó, đánh giá về mức độ thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển KT-XH của địa phương. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, năm 2019 có 5/8 chỉ số thành phần đạt giá trị trung bình trên 80%, trong khi đó, năm 2018 chỉ có 3 chỉ số thành phần đạt nhóm này. 

cscchc5
Quang cảnh Hội nghị
Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ Phạm Minh Hùng khẳng định, với những đổi mới, điều chỉnh kịp thời, kết quả xác định Chỉ số CCHC năm 2019 đã phản ánh sát với thực tiễn kết quả triển khai nhiệm vụ CCHC diễn ra tại bộ, địa phương trong năm đánh giá. Đặc biệt, Báo cáo này đã bổ sung các phân tích, so sánh kết quả giữa các địa phương, giữa các vùng kinh tế, giúp các tổ chức, cá nhân, đội ngũ nhà quản lý, nghiên cứu khoa học có được góc nhìn toàn diện, đa chiều và thực chất về kết quả đạt được, thuận lợi, khó khăn vướng mắc của từng vùng, miền; góp phần nâng cao hiệu quả tham mưu xây dựng, ban hành và triển khai các chính sách CCHC. Kết quả đánh giá đã ghi nhận sự tiến bộ, tích cực trong cả 6 nội dung CCHC mà các bộ, tỉnh đã đạt được./.

Thanh Tuấn - Bộ Nội vụ

Thời gian qua, Bộ KH&CN đã công khai tất cả các thủ tục hành chính về quản lý, kiểm tra chuyên ngành trên Cơ chế một cửa quốc gia (NSW), Cơ chế một cửa ASEAN (ASW).

bkhcnkn

Hiện, Bộ KH&CN đã kết nối 6 thủ tục kiểm tra chất lượng trên Cơ chế một cửa quốc gia.

Ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 1254/QĐ-TTg về phê duyệt Kế hoạch hành động thúc đẩy NSW, ASW, cải cách công tác kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và tạo thuận lợi thương mại giai đoạn 2018 - 2020, Bộ Khoa học và Công nghệ đã đăng ký xây dựng 6 thủ tục hành chính trên Cổng thông tin NSW.

Trong đó, bao gồm kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ; cấp giấy chứng nhận lưu hành tự do; kiểm tra nhà nước về đo lường đối với phương tiện đo, lượng của hàng đóng gói sẵn nhập khẩu; phê duyệt mẫu phương tiện đo; cấp giấy phép tiến hành công việc bức xạ (xuất khẩu chất phóng xạ); cấp giấy phép tiến hành công việc bức xạ (nhập khẩu chất phóng xạ).

Tính đến nay cả 6 thủ tục trên đã được kết nối trên Cổng thông tin NSW. Tổng số hồ sơ xử lý trên Cổng thông tin NSW đối với thủ tục kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu thuộc trách nhiệm của Bộ Khoa học và Công nghệ là gần 69.000 lượt hồ sơ được đăng ký và xử lý.

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tính đến cuối tháng 4/2020, NSW đã có 198 thủ tục hành chính của 13 bộ, ngành kết nối tham gia, với hơn 2,9 triệu hồ sơ của khoảng hơn 37.000 doanh nghiệp được tiếp nhận, giải quyết. Kết quả này đã tăng đáng kể so với thống kê tại thời điểm ngày 31/1/2020 là 188 thủ tục hành chính của 13 bộ, ngành kết nối NSW, với hơn 2,8 triệu hồ sơ của hơn 35.000 doanh nghiệp.

Hà Thanh - vietq.vn

Ngày 9/5, thông tin từ Văn phòng Chính phủ cho biết, công tác cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh gắn kết với xây dựng Chính phủ điện tử đã có những kết quả tích cực trên tất cả các mặt, có nhiều bước tiến quan trọng trên tất cả các mặt, cung cấp dịch vụ công theo nhu cầu người dân trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia, góp phần thúc đẩy việc thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.

cchagopphanxdcp

Người dân Vĩnh Phúc đến Trung tâm Hành chính công nhận kết quả giải quyết thủ tục hành chính. Ảnh: Hoàng Hùng/TTXVN


Tính từ đầu nhiệm kỳ Chính phủ khóa XIV đến nay, Chính phủ đã cắt giảm, đơn giản hóa 3.893/6.191 điều kiện kinh doanh, 6.776/9.926 danh mục hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành và 30/120 thủ tục hành chính liên quan đến kiểm tra chuyên ngành. Tổng chi phí xã hội tiết kiệm được từ việc cắt giảm, đơn giản hóa ước tính khoảng hơn 18 triệu ngày công/năm, tương đương hơn 6.300 tỷ đồng/năm.

Hoạt động kiểm tra chuyên ngành có chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức theo hướng toàn diện, thực chất hơn. Nhiều bộ, cơ quan đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật để phân định đầu mối kiểm tra chuyên ngành, giảm chồng chéo về thẩm quyền. Trên cơ sở chỉ đạo của Thủ tướng, các bộ, ngành đã có phương án xử lý 1.501 mặt hàng có chồng chéo về thẩm quyền.

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới năm 2018, chi phí thông quan trực tiếp tại cửa khẩu cho 1 lô hàng giảm 19 USD; ước tính với 12 triệu tờ khai của năm 2018, doanh nghiệp tiết kiệm được trên 200 triệu USD, tương đương hơn 4.000 tỷ đồng thủ tục thông quan; tiết kiệm 17 triệu giờ lưu kho đối với 5,8 triệu tờ khai xuất khẩu, tiết kiệm 37 triệu giờ lưu kho đối với 6,2 triệu tờ khai nhập khẩu. Hiện nay, riêng hàng luồng xanh, thời gian thông quan chỉ còn 1-3 giây, tỷ lệ lô hàng nhập khẩu phải kiểm tra chuyên ngành chỉ còn 19,1%.

Tới đây, Chính phủ sẽ tiếp tục thực hiện thủ tục hải quan điện tử phù hợp chuẩn mực quốc tế và cải cách kiểm tra chuyên ngành theo hướng cơ quan Hải quan là đầu mối kiểm tra chuyên ngành tại cửa khẩu, bộ quản lý chuyên ngành thực hiện hậu kiểm.

Phát huy tinh thần chính phủ kiến tạo, chính phủ phục vụ, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh và cung cấp dịch vụ công trực tuyến, trong thời gian tới Chính phủ sẽ triển khai nhiều chương trình cải cách mới với một loạt nhiệm vụ, giải pháp mới.

Thời gian qua, việc thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử cũng được đẩy mạnh thông qua việc triển khai Cổng Dịch vụ công Quốc gia, Cổng dịch vụ công và Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh.

Khai trương từ tháng 12 năm 2019, Cổng Dịch vụ công Quốc gia (www.dichvucong.gov.vn) là đầu mối kết nối với các Cổng dịch vụ công và các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành, địa phương, giúp công khai, minh bạch các thông tin liên quan về thủ tục hành chính và cung cấp, hỗ trợ thực hiện dịch vụ công theo nhu cầu sử dụng của người dân, doanh nghiệp, phù hợp với từng đối tượng.

Tính đến ngày 7/5/2020, Cổng Dịch vụ công Quốc gia đã có trên 35 triệu lượt truy cập: Trên 134.000 tài khoản đăng ký; trên 7 triệu hồ sơ được đồng bộ trạng thái; trên 55.000 hồ sơ được thực hiện qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia; tiếp nhận, hỗ trợ trên 10.000 cuộc gọi của người dân, doanh nghiệp. Tổng chi phí xã hội tiết kiệm được khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến là khoảng 6.490 tỷ đồng/năm, trong đó, riêng Cổng Dịch vụ công Quốc gia đóng góp 3.036 tỷ đồng/năm.

Từ 8 nhóm dịch vụ công được cung cấp ở thời điểm khai trương, đến nay trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia đã tích hợp, cung cấp 389 dịch vụ công trực tuyến (160 cho công dân, 229 cho doanh nghiệp).

Cổng Dịch vụ công Quốc gia hiện đã cung cấp chức năng thanh toán trực tuyến, trong đó cho phép người dân, doanh nghiệp kê khai, nộp thuế điện tử, đề nghị gia hạn thuế, nộp phí, lệ phí, các nghĩa vụ tài chính khi giải quyết thủ tục hành chính và các dịch vụ công khác.

Để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp gặp khó khăn do đại dịch COVID-19, Văn phòng Chính phủ đang phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan xây dựng phương án kỹ thuật cung cấp 6 dịch vụ công trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia gồm: Hỗ trợ người lao động tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương; hỗ trợ người sử dụng lao động vay vốn để trả lương ngừng việc đối với người lao động; kê khai gia hạn nộp thuế doanh nghiệp; kê khai gia hạn nộp thuế cá nhân; tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất; tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị trong thực hiện hỗ trợ người dân, doanh nghiệp gặp khó khăn do đại dịch COVID-19.

Các dịch vụ công này trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia sẽ hỗ trợ cho 4 triệu đối tượng người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19, rút ngắn thời gian thực hiện từ 6 đến 10 ngày làm việc với từng đối tượng so với cách triển khai trực tiếp.

Để thúc đẩy việc thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, theo Văn phòng Chính phủ, ngày 8/4/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 45/2020/NĐ-CP về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.

Nghị định giúp tạo cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất cho việc thực hiện thủ tục hành chính trực tuyến trên môi trường điện tử, từ vấn đề xác thực, định danh cá nhân đến quy trình thực hiện, thanh toán trực tuyến, giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, trách nhiệm của các cơ quan trong xây dựng, kiểm soát chất lượng thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử... để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho công dân, tổ chức trong giao dịch trực tuyến với các chi phí xã hội thấp nhất, từng bước nâng cao tỷ lệ giao dịch trực tuyến trong các cơ quan hành chính nhà nước.

Chính phủ sẽ dành ưu tiên triển khai thực hiện Nghị định này để sớm đem lại lợi ích cho người dân, doanh nghiệp. Kế hoạch thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử của các bộ, ngành và địa phương sẽ được giám sát, đánh giá thường xuyên để nghị định được thi hành nhanh chóng và hiệu quả.

Trên cơ sở đánh giá tình hình thực hiện và đề xuất, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ sẽ có chỉ đạo cụ thể về các ưu tiên thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử trong từng thời kỳ.


TTXVN/Báo Tin tức

Đó là chia sẻ của một cử tri trong chương trình “Lắng nghe và trao đổi” chủ đề “Dịch vụ công trực tuyến - Thực trạng và giải pháp” do HĐND TPHCM và HTV tổ chức ngày 10/5.

dvctt1

Người dân tìm hiểu các thủ tục trực tuyến tại UBND quận Bình Thạnh, TPHCM

Thuận tiện, tiết kiệm

Bà Võ Thị Hương (quận Bình Thạnh) cho biết đã lên mạng tra cứu và thực hiện các thủ tục dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3, cấp độ 4 từ hai năm qua. Bà Hương chia sẻ: Mình chỉ cần đăng ký tài khoản cá nhân, khi có nhu cầu làm thủ tục nào thì tra cứu qua cổng thông tin điện tử cần nộp những loại giấy tờ nào. Chỉ cần điền thông tin vào các biểu mẫu có sẵn trên mạng, sao chụp (scan) các giấy tờ cần thiết theo quy định và click chuột là xong.

“Làm thủ tục trực tuyến không tiếp xúc trực tiếp với cán bộ. Mình còn đánh giá chất lượng phục vụ của mấy ổng nên không còn sợ cán bộ nữa. Hồi trước đến làm thủ tục trực tiếp, cứ thấy mấy ổng cau mày, nhăn mặt là hồi hộp. Bây giờ hết ngán ngại mấy ổng rồi…”, bà Hương bày tỏ.

Bà Lại Thị Đan Thanh (kinh doanh bất động sản) nhận xét làm dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3, 4, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp (DN), thay đổi nội dung kinh doanh rất tiện lợi và tiết kiệm thời gian cho DN. Website của Sở Kế hoạch và Đầu tư TPHCM quy định khá đầy đủ trình tự thủ tục, khi có nhu cầu thay đổi nội dung kinh doanh chỉ cần lên website kiểm tra và thực hiện đúng bộ hồ sơ. Thao tác thực hiện trên cổng thông tin rất thuận lợi. Ngoài ra, sau khi hồ sơ đã nộp, người dân có thể giám sát, theo dõi tiến độ thông qua thông báo của Sở KHĐT qua email, tài khoản.
 
Theo Phó Chủ tịch UBND quận Bình Tân Phạm Thị Ngọc Diệu, mỗi năm, quận Bình Tân thực hiện khoảng 800 nghìn hồ sơ, thủ tục. Đến nay, UBND quận đã cung cấp 61 thủ tục trực tuyến cấp độ 3 (gồm 6 lĩnh vực) và 17 thủ tục cấp độ 4. Tỷ lệ người làm thủ tục trực tuyến từ 4% vào năm 2016 đã tăng lên 46% vào cuối năm 2019.

Vì sao còn một số  khó khăn?
 
Trả lời một số đại biểu về việc Sở Kế hoạch và Đầu tư (KHĐT) TPHCM đã có dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3, 4 nhưng DN vẫn tập trung làm thủ tục khá đông, Phó Giám đốc Sở KHĐT Trần Anh Tuấn cho biết, từ năm 2015 đến nay đã triển khai rất nhiều dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực đầu tư (4 thủ tục), thành lập doanh nghiệp sản xuất (57 thủ tục),… Sở KHĐT đã lập tổ công tác để hỗ trợ nhà đầu tư thực hiện thủ tục trực tuyến và thông thường chỉ cần hướng dẫn 2 lần là có thể hoàn chỉnh. Hồ sơ được xử lý chỉ trong 48 giờ. Vì vậy, thời hạn đăng ký thủ tục đầu tư rút ngắn từ 15 ngày xuống còn 8 ngày. Đánh giá chất lượng phục vụ qua nhiều kênh thì có trên 94% DN hài lòng.

Tuy nhiên ông Trần Anh Tuấn thừa nhận dịch vụ công trực tuyến vẫn còn gặp một số khó khăn. Nhiều người vẫn còn thói quen làm thủ tục theo kiểu truyền thống, muốn trực tiếp nộp giấy tờ cho cán bộ mới an tâm. “Việc sử dụng phần mềm, máy tính nộp hồ sơ một số DN còn lúng túng. Nhiều người có tâm lý e ngại mất an toàn thông tin. Hệ thống mạng đôi lúc đường truyền không tốt, bị ngắt quãng, người làm thủ tục phải thao tác lại từ đầu nên còn e ngại”, ông Tuấn cho hay.

Theo lộ trình của Chính phủ, từ nay đến năm 2025, toàn bộ thủ tục hành chính công phải cung cấp trực tuyến cấp độ 3, 4.


HUY THỊNH - tienphong.vn

Ngày 15 tháng 4 năm 2020 Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Quyết định số 1289/QĐ-UBND về phê duyệt quy trình nội bộ giải quyết thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ như sau:
I. Lĩnh vực Hoạt động khoa học và công nghệ
1. Đăng ký kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh, cấp cơ sở sử dụng ngân sách nhà nước
2. Đăng ký kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ không sử dụng ngân không sử dụng ngân sách nhà nước
3. Cấp giấy chứng nhận đăng ký chuyển giao công nghệ (trừ những trường hợp thuộc thẩm quyền của Bộ Khoa học và Công nghệ)
4. Cấp giấy chứng nhận đăng ký gia hạn, sửa đổi, bổ sung nội dung chuyển giao công nghệ (trừ những trường hợp thuộc thẩm quyền của Bộ Khoa học và Công nghệ)
5. Cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ
6. Cấp thay đổi nội dung, cấp lại giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ
II. Lĩnh vực Năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ và hạt nhân
7. Cấp giấy phép tiến hành công việc bức xạ (sử dụng thiết bị X-quang chẩn đoán trong y tế)
8. Gia hạn giấy phép tiến hành công việc bức xạ (sử dụng thiết bị X-quang chẩn đoán trong y tế)
9. Sửa đổi, bổ sung giấy phép tiến hành công việc bức xạ (sử dụng thiết bị X-quang chẩn đoán trong y tế)
10. Cấp lại giấy phép tiến hành công việc bức xạ (sử dụng thiết bị X-quang chẩn đoán trong y tế)
11. Cấp và cấp lại chứng chỉ nhân viên bức xạ
12. Khai báo thiết bị X-Quang chẩn đoán trong y tế
13. Phê duyệt kế hoạch ứng phó sự cố bức xạ hạt nhân cấp cơ sở (đối với công việc sử dụng thiết bị X-quang y tế)
III. Lĩnh vực Sở hữu trí tuệ
14. Cấp giấy chứng nhận tổ chức đủ điều kiện hoạt động giám định sở hữu công nghiệp
15. Cấp lại giấy chứng nhận tổ chức đủ điều kiện hoạt động giám định sở hữu công nghiệp
IV. Lĩnh vực Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng
16. Công bố sử dụng dấu định lượng
17. Điều chỉnh nội dung bản công bố sử dụng dấu định lượng
18. Cấp mới giấy phép vận chuyển hàng nguy hiểm là các chất ô xy hóa, các hợp chất ô xít hữu cơ (thuộc loại 5) và các chất ăn mòn (thuộc loại 8) bằng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa.
19. Cấp bổ sung giấy phép vận chuyển hàng nguy hiểm là các chất ô xy hóa, các hợp chất ô xít hữu cơ (thuộc loại 5) và các chất ăn mòn (thuộc loại 8) bằng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa.
20. Cấp lại giấy phép vận chuyển hàng nguy hiểm là các chất ô xy hóa, các hợp chất ô xít hữu cơ (thuộc loại 5) và các chất ăn mòn (thuộc loại 8) bằng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa
21. Miễn giảm kiểm tra chất lượng hàng hóa nhóm 2 nhập khẩu
22. Kiểm tra nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 nhập khẩu
23. Cấp giấy xác nhận đăng ký lĩnh vực hoạt động xét tặng giải thưởng chất lượng sản phẩm, hàng hoá của tổ chức, cá nhân

Page 1 of 6
Bản quyền © 2018 Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Thiết kế và phát triển bởi HCMGIS
Tổng số truy cập: 7138611