SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Kết quả cho thấy tiềm năng tái chế tro xỉ từ các lò đốt nhiên liệu, chất thải khuôn đúc và bùn thải không nguy hại từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, cũng như công nghệ tái chế các loại chất thải nêu trên đều là những vấn đề còn đang bỏ ngỏ.

Tính đến năm 2022, trong tổng số 17 khu chế xuất/khu công nghiệp (KCX/KCN) đang hoạt động trên địa bàn TP.HCM thì hiện chỉ có 3 KCX (Tân Thuận, Linh Trung 1, Linh Trung 2) và 3 KCN (Cát Lái 2, Đông Nam, Lê Minh Xuân) đã đầu tư trạm phân loại, trung chuyển chất thải các loại. Phần lớn KCN còn lại sử dụng dịch vụ do các đơn vị có chức năng thu gom trực tiếp tại các nhà máy có phát sinh. Tuy nhiên, việc thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải công nghiệp thông thường trong KCN/KCX chưa được kiểm tra, giám sát triệt để. 

tro1

Khảo sát các nguồn thải công nghiệp thông thường

Tổng thể, các nguồn phát thải chất thải công nghiệp nói chung và chất thải tro xỉ, bùn, chất thải khuôn đúc nói riêng chủ yếu là dạng phân tán và nhỏ lẻ, khó thu gom vì thế trong nhiều trường hợp chúng được quản lý tùy tiện, không có tính hệ thống và rất phức tạp ở các khâu quản lý tại nguồn, xả thải và xử lý. Thành phần chất thải công nghiệp thông thường đa dạng, biến động lớn, phụ thuộc vào nguyên liệu đầu vào, công nghệ, công suất, kỹ thuật vận hành... ảnh hưởng đến việc định tính để xác định tính nguy hại hay không nguy hại, đồng thời ảnh hưởng đến cơ hội tái chế và cộng sinh công nghiệp. Việc xử lý và thải bỏ vẫn còn bỏ ngõ, không thuộc phạm vi quản lý của Ban quản lý KCX/KCN, do vậy các thông tin liên quan cũng như các giải pháp xử lý đối với từng loại chất thải không được công bố cụ thể và khó xác định được mức độ phù hợp của công nghệ và mức độ an toàn của các giải pháp. Doanh nghiệp, cơ sở sản xuất cũng thiếu văn bản, thông tin hướng dẫn về hoạt động quản lý chất thải công nghiệp tại nguồn phát sinh, trong quá trình thu gom, vận chuyển, tái chế và cộng sinh công nghiệp, dẫn đến việc chưa có mô hình quản lý hiệu quả, khép kín từ công đoạn lưu trữ tại nguồn đến công đoạn tái chế hoặc xử lý cuối cùng.

tro2

Công nghệ đúc khuôn mẫu chảy và chất thải khuôn đúc tại một cơ sở sản xuất

Vì vậy, PGS.TS Lê Thị Kim Oanh (chủ nhiệm nhiệm vụ) và cộng sự ở Đại học Văn Lang đã triển khai nhiệm vụ khoa học và công nghệ “Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu về chất thải công nghiệp thông thường (tro, xỉ, vỏ khuôn đúc, bùn thải) từ các nhà máy công nghiệp trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và Xây dựng Sổ tay hướng dẫn xử lý và tái sử dụng”. 

Theo PGS.TS Lê Thị Kim Oanh, ở hầu hết trạm xử lý nước thải của các nhà máy, quy trình vận hành chưa được tuân thủ nghiêm ngặt, đặc biệt là các hoạt động xả bùn định kỳ, xử lý bùn tại nguồn và lưu trữ bùn riêng hay chung với các loại bùn/chất thải khác. Do vậy, trong quá trình cân bằng vật chất, không chỉ sử dụng số liệu đo đạc trực tiếp, hoặc số liệu thống kê theo tháng hay năm, mà còn phải dùng số liệu thứ cấp để tính toán lượng bùn phát sinh. Ngoài ra, tùy mục tiêu tái sử dụng, tái chế và xử lý cuối cùng mà ngưỡng nguy hại có thể giao động. Do vậy, đối với các loại chất thải đặc thù, cần có các quy định chi tiết, cụ thể hơn, làm cơ sở phát triển từng lĩnh vực tái chế.

tro3

 

Lấy mẫu chất thải phục vụ quá trình cân bằng vật chất

Sau khi thực hiện khảo sát, lấy mẫu và thu thập thông tin từ các bên liên quan trong hệ thống quản lý chất thải công nghiệp và công nghiệp nguy hại (tập trung vào 3 loại chất thải: tro xỉ, bùn từ trạm xử lý nước thải công nghiệp và chất thải khuôn đúc), PGS.TS Lê Thị Kim Oanh cho biết, có một số vấn đề cần lưu ý hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường, tăng cường tái sử dụng – tái chế, hướng đến mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn. Chẳng hạn như hệ thống văn bản, chính sách, quy định hiện hành liên quan đến việc quản lý chất thải công nghiệp/nguy hại tương đối đầy đủ, đáp ứng mục tiêu bảo vệ môi trường, nhưng vẫn thiếu các hướng dẫn thực thi hiệu quả nhằm giảm thiểu chi phí quản lý và xử lý, đồng thời tăng cường cơ hội tái chế và cộng sinh công nghiệp. Bên cạnh đó, cơ sở dữ liệu chưa được quản lý hiệu quả, chưa được số hoá, đây là vấn đề đặc biệt khó khăn cho các đơn vị làm công tác quản lý, các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu. 

tro4

Sân phơi bùn và máy nén bùn tại cơ sở được khảo sát

Nhóm thực hiện đã xây dựng 4 bộ cơ sở dữ liệu về chất thải công nghiệp trên địa bàn TP.HCM: (1) Tro, xỉ từ các lò đốt sinh nhiệt, sinh hơi của các cơ sở công nghiệp trong 17 KCN/KCX; (2) Bùn thải từ trạm xử lý nước thải của các ngành công nghiệp khác nhau và của trạm xử lý nước thải tập trung; (3) Chất thải khuôn đúc từ các công nghệ đúc trên địa bàn và (4) Các cơ sở thu gom, tái chế và xử lý. 

Từ những bộ cơ sở dữ liệu này, cơ quan quản lý sẽ có thêm nhiều số liệu, thông tin về chất thải, chủ nguồn thải và các đơn vị thu gom - xử lý chất thải, cũng như danh mục các giải pháp công nghệ có thể ứng dụng để tái sử dụng, tái chế và cộng sinh công nghiệp. Nhóm thực hiện cũng xây dựng 3 sổ tay hướng dẫn tái sử dụng và tái chế chất thải, phục vụ công tác quản lý các loại chất thải đã đề cập ở trên, kèm theo là một số giải pháp tái sử dụng, tái chế, cộng sinh công nghiệp được ứng dụng trong việc tái sử dụng, tái chế và cộng sinh công nghiệp các loại chất thải tro xỉ, bùn và khuôn đúc (có phân tích hiệu quả kinh tế và hiệu quả môi trường).

tro5

Sổ tay hướng dẫn tái sử dụng và tái chế chất thải

PGS.TS Lê Thị Kim Oanh khẳng định: “Cơ sở dữ liệu về thành phần, đặc tính và hệ số phát thải cho mỗi loại chất thải là nguồn cơ sở khoa học vô cùng hữu ích phục vụ thiết kế các chuỗi cung ứng liên quan đến chất thải công nghiệp thông thường, và là cơ sở để góp phần phát triển cộng sinh công nghiệp và kinh tế tuần hoàn. Ngoài ra, cơ sở dữ liệu này sẽ rất hữu ích phục vụ công tác quản lý và quy hoạch cơ sở hạ tầng quản lý chất thải công nghiệp.”.

Kết quả của nhiệm vụ là cơ sở khoa học đáng tin cậy cho cơ quan quản lý (điển hình như Ban Quản lý Khu công nghiệp và Khu Chế xuất TP.HCM - HEPZA) trong việc tổ chức, triển khai và xây dựng các văn bản pháp luật, giải pháp quản lý các loại chất thải, đồng thời còn là cơ sở khoa học phát triển cộng sinh công nghiệp và kinh tế tuần hoàn, đáp ứng mục tiêu số 12 “Tiêu thụ và sản xuất có trách nhiệm” về phát triển bền vững của Liên Hiệp Quốc. Việc xác định đầy đủ các thông số kỹ thuật liên quan đến chất thải (bao gồm: nguồn và định mức phát sinh, khối lượng, thành phần; hiện trạng thu gom, trung chuyển và vận chuyển; hiện trạng tái sử dụng, xử lý và thải bỏ; đồng thời chỉ ra các bất cập trong cơ cấu quản lý, các hệ thống các văn bản chính sách quản lý chất thải công nghiệp) cũng sẽ góp phần xây dựng thông tin hoàn chỉnh về chất thải tro, xỉ và bùn tại TP.HCM, tạo cơ hội để kết nối các nguồn thải đến các đơn vị xử lý có chức năng, hỗ trợ doanh nghiệp không vi phạm trong công tác chuyển giao chất thải.

 

Thông tin liên hệ:
Đại học Văn Lang
Địa chỉ: 69/68 Đặng Thùy Trâm, phường 13, quận Bình Thạnh, TPHCM
Điện thoại: (028) 71099246

Website: www.vlu.edu.vn

Email: k.moitruong@vlu.edu.vn 

Mạng liên kết thông tin khoa học và công nghệ (hệ thống STINET) vừa có sự tham gia của 5 đơn vị là các viện, trường tại TP.HCM, nâng tổng số lên 44 đơn vị thành viên trong năm 2022.

Đây là tín hiệu tích cực cho thấy hệ thống ngày càng có thêm nhiều nguồn tài liệu khoa học và công nghệ (KH&CN) phục vụ hoạt động nghiên cứu phát triển và đổi mới sáng tạo tại TP.HCM.

Theo Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN (đơn vị triển khai và vận hành STINET), mạng liên kết thông tin KH&CN TP.HCM được tổ chức thực hiện từ năm 2018, theo Quyết định số 6770/QĐ-UBND ngày 27 tháng 12 năm 2016 do Ủy ban Nhân dân Thành phố phê duyệt. Hệ thống hướng đến mục tiêu phát triển, làm phong phú nguồn lực thông tin KH&CN phục vụ hoạt động nghiên cứu phát triển và đổi mới sáng tạo của các nhà khoa học, cán bộ nghiên cứu - giảng dạy, sinh viên, học sinh, doanh nghiệp và cộng đồng; tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng để người dùng tiếp cận, khai thác hiệu quả nguồn lực thông tin KH&CN trên địa bàn TP.HCM.

08HDKHLVSTINETbai2h2ok.jpg

Nguồn lực thông tin trên hệ thống được tạo lập do sự liên kết giữa các thành viên trên tinh thần hợp tác, tự nguyện bao gồm các thông tin về kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN, sách, giáo trình nội bộ, luận văn, luận án, tạp chí chuyên ngành KH&CN, tài liệu hội thảo,...

Hiện tại, STINET có 44 đơn vị thành viên tham gia đóng góp gần 524.000 tài liệu thư mục, trong đó có hơn 109.000 toàn văn; phục vụ hơn 179.000 lượt truy cập. Hệ thống cho phép người dùng truy cập và tra cứu các tài liệu được chia sẻ từ các đơn vị thành viên theo cơ chế mở, không giới hạn quyền truy cập và không thu phí.

Với sự tham gia của 5 đơn vị trong năm 2022, hệ thống sẽ có thêm nhiều nguồn thông tin, tài liệu KH&CN phong phú, cho phép người dùng dễ dàng tiếp cận và khai thác phục vụ cho hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, phát triển sản xuất kinh doanh…

Các dạng tài liệu chủ yếu là sách, tạp chí, luận văn, luận án, giáo trình, kết quả nhiệm vụ KH&CN, tài liệu hội thảo – hội nghị,… được chia sẻ từ các đơn vị thành viên của hệ thống. Điển hình như nguồn lực được chia sẻ từ Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN (CESTI), Trường Đại học Kinh tế - Luật (ĐH Quốc gia TP.HCM), ĐH Quốc tế (ĐHQG-HCM), Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM, Thư viện Trung tâm ĐHQG TP.HCM, ĐH Sài Gòn, ĐH Công nghiệp TP.HCM, ĐH Tài nguyên và Môi trường TP.HCM, Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCM, Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM, ĐH Ngân hàng TP.HCM, ĐH Y dược TP.HCM, ĐH Công nghệ TP.HCM, ĐH Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM, ĐH Kiến trúc TP.HCM, ĐH Bách khoa TP.HCM,…

Người dùng có thể tra cứu và xem trực tuyến các tài liệu toàn văn có sẵn hoặc có link liên kết toàn văn đến website của từng đơn vị thành viên. Đặc biệt, các tài liệu dạng đề tài nghiên cứu (kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN), luận văn luận án và tài liệu hội thảo hội nghị của TP.HCM được chia sẻ toàn văn trên hệ thống, cho phép người dùng xem trực tuyến nội dung toàn văn của các đề tài nghiên cứu khoa học, các luận văn luận án và các tài liệu hội thảo khoa học.

08HDKHLVSTINETbai2h3.jpg

Để sử dụng, chỉ cần truy cập hệ thống, nhập từ khóa (một hoặc một vài cụm từ) vào ô tìm kiếm, hệ thống sẽ thực hiện tìm kiếm và hiển thị kết quả là tất cả các loại hình tài liệu của tất cả các đơn vị liên kết. Kết quả tìm kiếm sẽ được thống kê số lượng theo các loại hình tài liệu (luận án, luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học, bài trích, sách…) và theo từng đơn vị có trên hệ thống. Trang kết quả sẽ hiển thị thông tin cơ bản của tài liệu, người dùng có thể xem chi tiết thông tin tài liệu, xem nội dung toàn văn trực tuyến hoặc link xem toàn văn (nếu có) và liên hệ trực tiếp với đơn vị cung cấp tài liệu. Ngoài ra, STINET cũng có ứng dụng trên thiết bị di động với 2 nền tảng phổ biến là iOS và Android. Người dùng có thể tải app và thực hiện tra cứu, tìm kiếm thông tin bằng điện thoại. Trong quá trình tra cứu nếu gặp khó khăn hoặc có vấn đề cần hỗ trợ, người dùng có thể gửi yêu cầu hỗ trợ trên hệ thống hoặc liên hệ với chuyên viên hỗ trợ qua tin nhắn, điện thoại, email.

Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN cho biết, STINET sẽ tiếp tục phát triển hệ thống và mở rộng liên kết đến các tổ chức KH&CN, viện, trường khác trên địa bàn TP.HCM trong thời gian tới. Đồng thời tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi để người dùng tiếp cận, khai thác hiệu quả nguồn lực thông tin KH&CN trên địa bàn TP.HCM; lan tỏa và phát huy hiệu quả của hệ thống để phục vụ tốt hơn nữa nhu cầu tra cứu, tìm kiếm, chia sẻ thông tin, trao đổi hợp tác sản xuất kinh doanh cũng như công tác phát triển nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo trên địa bàn Thành phố.

Lam Vân (CESTI)

Mẫu sinh phẩm hóa sinh đông khô với 6 thông số thường quy có độ ổn định và đồng nhất cao, đủ tiêu chuẩn để có thể triển khai trên quy mô lớn, đáp ứng được nhu cầu của các phòng xét nghiệm hiện nay. Làm chủ được công nghệ và quy trình sản xuất mẫu sinh phẩm hóa sinh đông khô còn giúp đảm bảo nguồn mẫu ổn định, duy trì việc kiểm soát chất lượng xét nghiệm được liên tục, giảm phụ thuộc vào nguồn cung ngoại nhập.

Xét nghiệm hóa sinh là một trong những chỉ định cận lâm sàng thường quy tại các cơ sở y tế. Kết quả xét nghiệm hóa sinh là căn cứ quan trọng cho các quyết định điều trị, chẩn đoán sớm và dự phòng bệnh, trong nghiên cứu khoa học trong y học... Do đó, việc bảo đảm độ tin cậy và chất lượng của kết quả xét nghiệm hóa sinh là hết sức quan trọng, cần tiến hành bằng hoạt động quản lý chất lượng xét nghiệm (bao gồm kiểm tra chất lượng và đảm bảo chất lượng). 

Để triển khai được kiểm tra chất lượng xét nghiệm, các các trung tâm kiểm chuẩn xét nghiệm cần phải có mẫu ngoại kiểm, đây là một dạng vật liệu - mẫu chuẩn đảm bảo đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật để có thể tiến hành triển khai ngoại kiểm, đánh giá chất lượng các phòng xét nghiệm một cách khách quan.

Hiện nay, nhu cầu sử dụng mẫu ngoại kiểm hóa sinh của các phòng xét nghiệm là rất lớn. Tuy nhiên, các mẫu kiểm chuẩn hóa sinh đang có tại Việt Nam chủ yếu phụ thuộc vào nhà cung cấp nước ngoài như Biorad (Mỹ), Randox (Anh), khiến cho hoạt động ngoại kiểm bị phụ thuộc (điều kiện vận chuyển, chính sách phân phối…) thiếu tính chủ động. Nguyên nhân là vì quy trình sản xuất mẫu sinh phẩm dùng trong kiểm tra chất lượng xét nghiệm thuộc dạng công nghệ được các công ty nước ngoài bảo mật rất chặt chẽ (liên quan đến thương mại). Một điểm yếu dễ thấy nữa, là giá thành cung cấp mẫu ngoại nhập cao, dẫn đến hoạt động ngoại kiểm khá tốn kém. Do đó, Trung tâm Kiểm chuẩn Xét nghiệm TPHCM đã triển khai nhiệm vụ khoa học công nghệ “Nghiên cứu chế tạo mẫu sinh phẩm đông khô dùng kiểm chuẩn xét nghiệm hóa sinh đối với sáu thông số thường quy” nhằm nghiên cứu sản xuất mẫu ngoại kiểm hóa sinh ngay trong nước. Đây là nhiệm vụ rất cấp thiết để các phòng xét nghiệm có thể chủ động nguồn mẫu với mức giá thấp hơn so với mẫu nước ngoài, giúp giảm đáng kể chi phí tham gia ngoại kiểm. 

Báo cáo trước Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ khoa học - công nghệ do Sở KH&CN TPHCM tổ chức hồi cuối tháng 6/2022 vừa qua, TS. Trần Hữu Tâm (chủ nhiệm nhiệm vụ) cho biết nhóm thực hiện đã sản xuất thành công mẫu sinh phẩm hóa sinh dạng đông khô, phù hợp để dùng trong ngoại kiểm tra chất lượng xét nghiệm hóa sinh. Mẫu chứa 6 thông số thường quy được sử dụng phổ biến tại các phòng xét nghiệm gồm: protein, glucose, cholesterol, triglyceride, Aspartat Aminotransferase (AST), Alanin Aminotransferase (ALT). Các thông số này cũng là những thông số phổ biến trong các chỉ định lâm sàng và cận lâm sàng dùng trong chẩn đoán và theo dõi tình trạng bệnh lý.

spkho1

Mẫu sinh phẩm hóa sinh dạng đông khô

Cụ thể, nhóm thực hiện đã áp dụng công nghệ đông khô (sấy thăng hoa) để sản xuất lô mẫu sinh phẩm hóa sinh (dạng lọ đông khô), đạt độ ổn định và đồng nhất trong thời gian 6 tháng (ở điều kiện bảo quản 25 – 30 độ C, độ ẩm 70 - 80%) tương đương với các mẫu ngoại kiểm hiện có trên thị trường. Mẫu được điều chế theo công thức, có bổ sung một lượng chính xác các thông số biết trước vào chất nền, có nguồn gốc giống với mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân, với nồng độ các thông số thường quy được kiểm soát và gia giảm có chủ đích nhằm đảm bảo cơ sở khoa học, đáp ứng các yêu cầu đặc biệt trong kiểm chuẩn và đạt được sự đồng nhất cao. 

spkho2

Kết quả tối ưu hóa quy trình đông khô

Nguồn nguyên liệu đầu vào của mẫu sinh phẩm là huyết tương không có sợi tơ huyết, màu vàng cam, âm tính với các loại virus (viêm gan B, viêm gan C, HIV, giang mai…). Mẫu sinh phẩm sau khi đông khô được tạo thành bánh nguyên khối, màu trắng, không bị đứt đoạn và bị trào. Mẫu sau khi hoàn nguyên phải tan hoàn toàn, không có cặn. Nồng độ các thông số hóa sinh củ mẫu đạt yêu cầu. Mẫu không có khuẩn lạc vi sinh vật mọc trên môi trường kiểm tra.

“Dạng mẫu sinh phẩm này khi sản xuất đòi hỏi kỹ thuật cũng như thiết bị sử dụng (cân, dụng cụ đong thể tích…) phải chính xác để đảm bảo độ ổn định và đồng nhất của mẫu. Mặt khác, đơn vị sản xuất cũng cần chuẩn bị sẵn các thiết bị, phương pháp chuẩn nhằm đánh giá mẫu sau khi sản xuất một cách chính xác.”, TS. Trần Hữu Tâm chia sẻ kinh nghiệm sản xuất mẫu sinh phẩm. 

Nhóm thực hiện cũng xây dựng quy trình sản xuất mẫu sinh phẩm hóa sinh dạng đông khô với quy mô 100 lọ mẫu/đợt sản xuất, đạt các tiêu chuẩn cơ sở về cảm quan cũng như chất lượng mẫu theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 17043, có tiêu chuẩn cơ sở kiểm tra nguyên liệu và thành phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 17043.

spkho3

Theo dõi hạn dùng của thông số glucose trong mẫu từ đề tài ở ba điều kiện bảo quản

Các lọ đông khô đã được gửi đến 20 phòng xét nghiệm để chạy thử nghiệm trên 4 dòng máy (Beckman Coulter AU680, Abbott Architect c8000, Mindray BA-88A, Roche Cobas c311) nhằm mục đích đánh giá sự tác động của môi trường thực tế đối với mẫu. Kết quả, 19/20 phòng xét nghiệm cho biết mẫu phù hợp để dùng hằng ngày (hoặc định kỳ) để kiểm chuẩn, giám sát chất lượng xét nghiệm hóa sinh lâm sàng. 

Điều này chứng tỏ, mẫu sinh phẩm hóa sinh đông khô với 6 thông số thường quy có độ ổn định và đồng nhất cao, đủ tiêu chuẩn để có thể triển khai trên quy mô lớn, đáp ứng được nhu cầu của các phòng xét nghiệm hiện nay. Từ đó, việc sản xuất quy mô lớn mẫu sinh phẩm này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai ngoại kiểm, góp phần vào hoạt động nâng cao chất lượng xét nghiệm và liên thông kết quả xét nghiệm trong tương lai. Mặt khác, các cơ sở y tế cũng dễ tuân thủ và đạt các tiêu chuẩn, yêu cầu về đảm bảo chất lượng xét nghiệm. Riêng cơ quan quản lý chất lượng xét nghiệm có thể chủ động hoạch định và triển khai các chiến lược, kế hoạch quản lý chất lượng, kiểm chuẩn phù hợp với chính sách, mục tiêu đề ra. Làm chủ được công nghệ và quy trình sản xuất mẫu sinh phẩm hóa sinh đông khô còn giúp đảm bảo nguồn mẫu ổn định, duy trì việc kiểm soát chất lượng xét nghiệm được liên tục.

TS Trần Hữu Tâm và nhóm nghiên cứu cũng kiến nghị Sở KH&CN TPHCM hỗ trợ nhóm thực hiện mở rộng nghiên cứu thêm các thông số mới, cụ thể như Ure, Creatinin, Albumin, Bilirubin, Acid Uric... nhằm đáp ứng được nhu cầu phân tích hiện nay của các phòng xét nghiệm. 

"Bên cạnh đó, để tăng giá trị thương mại hóa của mẫu sinh phẩm hóa sinh đông khô, cũng sẽ cần đến những giải pháp cải tiến nhằm tăng tuổi thọ mẫu, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình triển khai chương trình ngoại kiểm", đại diện Trung tâm Kiểm chuẩn Xét nghiệm TPHCM thông tin thêm.

spkho4

Toàn cảnh hội đồng tư vấn nghiệm thu khoa học - công nghệ

Kết quả của nhiệm vụ chứng minh Việt Nam hoàn toàn có thể tự sản xuất được mẫu sinh phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật về mẫu kiểm chuẩn của thế giới. Hơn thế, kết quả này sẽ là cơ sở khoa học để triển khai mở rộng nghiên cứu, tạo ra thêm nhiều mẫu sinh phẩm phục vụ cho kiểm tra chất lượng các xét nghiệm khác như nước tiểu, đông máu, tim mạch,… Từ đó, có thể sử dụng trong đào tạo tập huấn, kiểm tra, hiệu chuẩn quy trình, thiết bị, hóa chất và tay nghề kỹ thuật viên xét nghiệm.

Thông tin liên hệ:
Trung tâm Kiểm chuẩn Xét nghiệm TPHCM
Địa chỉ: 75A Cao Thắng, P.3, Q.3, TPHCM
Điện thoại: (028) 38391090

Email: kcxntp@csql.vn 

Website: http://csql.gov.vn 

Thiết bị lọc cơ học dạng trống được công ty CENINTEC cải tiến và sản xuất thử nghiệm thành công, hỗ trợ năng suất lọc 94,32m3/h cùng mức tiêu thụ điện năng tối ưu, được đánh giá là giải pháp hữu ích để triển khai tại các đơn vị nuôi trồng thủy sản. 

Theo mục tiêu của Kế hoạch hành động quốc gia phát triển ngành tôm Việt Nam đến năm 2025, ngành tôm sẽ đạt giá trị xuất khẩu 10 tỷ USD vào năm 2025. Tại TPHCM, tôm nước lợ cũng được xác định là một trong những sản phẩm thuộc nhóm sản phẩm thủy sản chủ lực. Do đó, để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu 10 tỷ USD tôm vào năm 2025, ngành nông nghiệp Việt Nam đang bám sát "chiến lược" gia tăng mật độ nuôi với các mô hình nuôi thâm canh và siêu thâm canh bởi thực tế diện tích đất dành cho nuôi trồng thủy sản hiện nay không đủ để đảm bảo năng suất khi áp dụng mô hình nuôi quảng canh, cũng như quảng canh cải tiến.

Tuy nhiên, tại các mô hình nuôi thâm canh và siêu thâm canh đang được triển khai, đã phát sinh thực tế là một lượng lớn chất thải rắn lơ lửng đã sinh ra trong môi trường nuôi. Đồng thời, người nuôi cần phải bổ sung một lượng khoáng chất, hóa chất lớn để tạo môi trường phù hợp cho tôm sinh trưởng với mật độ cao, trong khi đó nếu chọn giải pháp thay nước để loại bỏ chất thải thì chi phí phát sinh sẽ rất cao. Ngoài ra, nguồn nước sạch từ sông - biển ngày càng trở nên khan hiếm do ô nhiễm từ công nghiệp và nông nghiệp, cũng trực tiếp mang đến sự rủi ro cho các mô hình nuôi tôm sử dụng nguồn nước tự nhiên để thay thế nước đã ô nhiễm trong ao.

Trước thực tế đó, một thiết bị hay hệ thống lọc nước hiệu quả, có khả năng loại bỏ chất thải rắn trong ao nuôi, nhằm tái sử dụng một phần lượng nước trong ao, đã và đang là lựa chọn của nhiều đơn vị nuôi tôm ở nhiều địa phương.

Cải tiến từ thực tiễn ứng dụng

Từ những năm 2018 và 2019, công ty CENINTEC cùng một số đơn vị liên quan đã chủ động ứng dụng giải pháp máy lọc cơ học vào thực tế quá trình nuôi tôm tại TPHCM và một số tỉnh thành lân cận. Tuy nhiên, qua quá trình thử nghiệm, cùng với việc nghiên cứu tài liệu tham khảo và tham vấn ý kiến từ chuyên gia, nhóm chuyên gia tại công ty CENINTEC nhận thấy còn một số hạn chế cần được nghiên cứu, cải tiến để các thiết bị lọc cơ học nhập ngoại hiện nay có khả năng ứng dụng có hiệu quả hơn trong thực tế sản xuất.

loccohoc1

Đại diện công ty CENINTEC giới thiệu thiết bị lọc cơ học dạng trống phiên bản cải tiến đến các thành viên Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ khoa học - công nghệ

TS Nguyễn Minh Hà, chủ nhiệm nhiệm vụ khoa học "Hoàn thiện thiết kế, công nghệ chế tạo thiết bị lọc cơ học dạng trống sử dụng trong nuôi tôm nước lợ" vừa được Sở KH&CN TPHCM nghiệm thu vào trung tuần tháng 7/2022 cho biết thiết bị lọc cơ học dạng trống về cơ bản giúp gom tụ chất thải rắn lại với mật độ rất cao so với nước trước khi lọc, qua đó giúp việc áp dụng các phương tiện cô đặc chất thải rắn để xử lý nhằm giảm ô nhiễm môi trường trở nên khả thi hơn. 

"Việc ứng dụng thiết bị lọc cơ học dạng trống để xử lý chất thải, nước thải trong ao nuôi tôm nước lợ là hoàn toàn mới, ưu việt hơn nhiều so với phương thức thay nước hiện được sử dụng rộng rãi", TS. Nguyễn Minh Hà chia sẻ, "Thiết bị lọc cơ học dạng trống có thể ứng dụng cho các mô hình nuôi tôm thâm canh và siêu thâm canh. Thiết bị lọc cơ học dạng trống mà công ty CENINTEC cải tiến, hoàn thiện đã được nghiên cứu nhằm tối ưu các thông số vận hành phù hợp cho ngành nuôi tôm, cụ thể là nâng cao năng suất lọc (thể hiện bằng lưu lượng lọc trong một đơn vị thời gian), tiết kiệm chi phí vận hành, giảm giá thành chế tạo, gia tăng độ tin cậy của thiết bị và tuổi thọ của các bộ phận công tác".

Là một phần của nhiệm vụ khoa học - công nghệ, TS. Nguyễn Minh Hà và cộng sự cũng đã hoàn thành báo cáo nghiên cứu các đặc tính của nguồn nước nuôi tôm để phục vụ nhu cầu cải tiến các giải pháp hệ thống lọc nước cơ học dạng trống đang được thương mại hóa và sử dụng rộng rãi ở các đơn vị nuôi trồng thủy sản. 

loccohoc2

Nguyên mẫu sản phẩm và thiết kế lọc cơ học sau khi cải tiến (1 - Nắp trên; 2 - Nắp trước; 3 - Hộp điện; 4 - Hộp động cơ; 5 - Công tắc; 6 - Ống cấp nước; 7- Hai ổ đỡ trống lọc; 8 - Ống thoát nước thải; 9 - Trống lọc).

So với các máy lọc cơ học dạng trống thông dụng, thì giải pháp cải tiến do công ty CENINTEC đề xuất không chỉ khắc phục được những vấn đề thường gặp như năng suất lọc thấp, thường xuyên phải thay các cơ cấu vận hành và vệ sinh béc phun - lưới lọc, mà còn đáng chú ý ở việc đảm bảo hiệu năng - chất lượng lọc nhờ kết hợp với một bộ phận được bố trí phía trước máy lọc cơ học nhằm lọc vỏ tôm cũng như tôm chết trong nguồn nước. 

Bởi lẽ, theo đại diện nhóm triển khai nhiệm vụ khoa học - công nghệ, lột vỏ là một đặc điểm khác biệt quan trọng của quá trình sinh trưởng của tôm so với cá. Với số lượng nhiều và kích thước nhỏ, tôm chết thường xuyên hơn, đặc biệt là khi lột vỏ. 

"Với kích thước lớn hơn nhiều so với phân tôm và thức ăn thừa, vỏ tôm và tôm chết cần được loại bỏ ra khỏi nước trước khi được lọc bằng thiết bị lọc cơ học để gia tăng lưu lượng lọc (năng suất lọc) của thiết bị", TS. Nguyễn Minh Hà nhấn mạnh. 

Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng bổ sung số béc phun; vị trí đặt và tần suất, áp suất phun rửa để tối ưu việc vệ sinh cụm lưới lọc, tang trống. Đơn cử, so với giải pháp cũ, giải pháp mới sử dụng 11 béc phun, trong đó 2 béc phun nằm tại 2 đầu là loại quạt tam giác vuông giúp làm sạch khu vực mép trống lọc.

loccohoc3

Quá trình di chuyển của dòng nước khi vào thiết bị lọc cơ học

Bên cạnh đó, để giảm thiểu trọng lượng của máy lọc, cũng như cải thiện độ bền của máy khi sử dụng trong môi trường nước mặn cũng như nước lợ, nhóm nghiên cứu tại công ty CENINTEC đã chủ động ứng dụng vật liệu nhựa cho một số bộ phận, cải tiến khả năng rửa tấm lọc, và thay đổi vị trí và tần suất hoạt động của đèn chiếu UV tích hợp. 

TS Nguyễn Minh Hà cho biết, máy lọc cơ học dạng trống là sản phẩm của nhiệm vụ có thể sử dụng lưới lọc với mắt lưới từ 37µm (mesh 400) đến 105µm (mesh 140) tùy theo yêu cầu của khách hàng. 

Kỹ sư Lê Đình Cẩn, thành viên nhóm triển khai nhiệm vụ - khoa học công nghệ thông tin thêm, thiết bị lọc cơ học sử dụng nguyên lý lọc cơ học dạng trống (gọi tắt là nguyên lý lọc trống) là một trong những nguyên lý xử lý nước thải, được sử dụng phổ biến rộng rãi trong các đơn vị nghiên cứu và các hệ thống nuôi trồng thủy sản đã được thương mại trên thế giới. Thiết bị gồm một trống lọc được bao phủ bởi một tấm lọc mịn với kích thước của các mắt lưới 37µm. Nước thải được đưa vào trống và khi tang trống quay, những hạt có kích thước lớn hơn mắt lưới sẽ được giữ lại trên bề mặt lưới lọc. Hệ thống vòi phun rửa ngược sẽ làm sạch những chất rắn lở lửng ở tấm lọc lưới, chất thải này sau đó được dẫn xuống máng thoát chất thải và đưa ra bên ngoài xử lý.

loccohoc4

Sơ đồ nguyên lý thiết bị lọc cơ học dạng trống

Ở mức tổng quát, thiết bị lọc cơ học dạng trống gồm các thành phần: cụm khung, cụm truyền động, cụm làm sạch, cụm tang trống, cụm cấp nước và máng thoát chất thải, cụm tủ điện. 

loccohoc5

Thiết kế 3D của thiết bị lọc cơ học

Quá trình ứng dụng máy lọc cơ học dạng trống (phiên bản cải tiến) vào thực tế nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh tuần hoàn tại Huyện Cần Giờ (TPHCM) đã cho thấy, các chỉ tiêu sinh học của nước sau lọc đạt kết quả tốt, đáp ứng các tiêu chuẩn trong nuôi trồng thủy sản.

Về hiệu quả, đại diện công ty CENINTEC cho biết, năng suất lọc của máy đạt tối thiểu 60m3/h phụ thuộc vào tổng lượng chất rắn lơ lửng (TSS) của nước cần lọc; và chi phí điện năng thực tế trong 1 tháng là 450kW, tương ứng tổng chi phí điện là 615.000 đồng/tháng. Nhóm triển khai khẳng định, giải pháp lọc mới đã giúp giảm 30% - 50% lượng nước thay hằng ngày cho các ao nuôi có thể tích 500-1.000m3 nước.

loccohoc6

Thiết bị lọc cơ học dạng trống được vận hành thực tế tại trang trại CENINTEC (huyện Cần Giờ, TPHCM)

Ngoài ra, các bộ phận xịt rửa bao gồm bơm và các béc phun bằng nhựa hoạt động tốt, lưới lọc sạch; thời gian cần cho hoạt động vệ sinh thiết bị lọc cơ học hằng ngày là 10 phút; công việc được thực hiện dễ dàng và thiết bị lọc cơ học được làm sạch do máng hứng chất thải và các nắp che có thể tháo rời. Đáng chú ý, tuổi thọ của lưới lọc với mắt lưới 37µm là 3,5 tháng với độ mặn của nước là 25ppt; thời gian dừng thiết bị lọc cơ học để thay lưới lọc là 18-20 phút.

Về hiệu quả kinh tế, đại diện nhóm triển khai nhiệm vụ cho biết: Với ao nuôi tròn thể tích 1.000m3, áp dụng cho 30 ngày trước khi thu hoạch, giả định lượng nước thay giảm 30%, tương ứng 150m3/ngày, thì ở mức chi phí xử lý 1m3 nước là 3.300 đồng, số tiền tiết kiệm được trong 1 tháng vận hành, sau khi trừ chi phí vận hành, chi phí bảo trì và chi phí khấu hao thiết bị là 10,554 triệu đồng/tháng. Do đó, với tổng chi phí đầu tư là 90 triệu đồng bao gồm chi phí mua thiết bị, chi phí lắp đặt đường ống, máy bơm… thì thiết bị được hoàn vốn trong chưa đến 9 tháng hoạt động. "Vì thế, việc triển khai thành công của dự án sẽ tạo ra nguồn cung thiết bị có giá thành rất cạnh tranh, chỉ vào khoảng 30-80% giá của các thiết bị ở cùng mức công suất, qua đó tạo điều kiện cho các đơn vị, tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản dễ dàng nâng cấp, bổ sung nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất, đảm bảo chất lượng thành phẩm", đại diện công ty CENINTEC nhấn mạnh.

Có thể khẳng định rằng, giải pháp máy lọc cơ học dạng trống dùng cho nuôi tôm nước lợ vừa được công ty CENINTEC cải tiến, hoàn thiện và sản xuất thử nghiệm hàng loạt đã cho thấy trình độ cao của kỹ sư, chuyên gia Việt Nam trong lĩnh vực chế tạo các thiết bị cơ khí gắn liền với hoạt động nghiên cứu khoa học - công nghệ ứng dụng trực tiếp vào sản xuất nói chung, và nuôi trồng thủy sản nói riêng.

Có hai loại thiết bị lọc cơ học, được phân biệt bằng vị trí tương đối của đáy trống lọc với mặt nước đã lọc. Loại thứ nhất là loại chìm, với đáy trống lọc nằm chìm trong nước đã lọc; và loại thứ hai là đáy trống lọc nằm cao hơn mặt nước đã lọc. Hai loại thiết bị này khác nhau chút ít về kết cấu, và không dễ chuyển đổi từ loại này sang loại khác.

Loại lắp chìm có ưu điểm là ít mất áp hơn, do đó tốn ít năng lượng cho bơm nước. Tuy nhiên, loại này chỉ phù hợp để lọc chất thải rắn dễ chìm, ít bị phân rã và thường dùng trong môi trường nước ngọt. Lọc chìm được dùng nhiều cho các hệ thống lọc nước cho nuôi cá, khi chất thải cá vừa to, vừa nặng, dễ chìm trong nước ngọt. Tuy nhiên, sử dụng lọc chìm để lọc nước nuôi tôm kéo theo nhiều bất cập. Môi trường nước mặn và lợ có tỷ trọng cao khiến các chất thải rắn khó chìm. Chất thải trong nước nuôi tôm có kích thước lớn, độ nhớt cao, khó chìm. Do vậy, một lượng lớn chất thải sẽ lơ lửng trong trống lọc mà không lọc ra được.

Bên cạnh đó, các thử nghiệm thực tế tại trang trại của CENINTEC ở huyện Cần Giờ (TPHCM) đã chứng tỏ không thể sử dụng thiết bị lọc lắp chìm để lọc nước nuôi tôm do khả năng lọc kém, chất lượng nước sau khi lọc không đạt yêu cầu. Vì thế, nhóm chuyên gia khuyến nghị không dùng thiết bị lọc lắp chìm để lọc nước nuôi tôm.

 

 

Thông tin liên hệ:

Công ty Cổ phần Khoa học và Công nghệ CENINTEC

Địa chỉ: 91 Nguyễn Trọng Lội, P.4, Q.Tân Bình, TPHCM

Số điện thoại: 0983221831 - 0977757005

Email: minhhavs@gmail.com - cenintec.vn@gmail.com

Nét đẹp văn hóa đa dạng, độc đáo của đồng bào và các công trình tôn giáo, tín ngưỡng chính là ưu điểm trong thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. 

Ở TPHCM hiện nay, cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) đã sinh sống lâu đời, hình thành những khu vực cư trú tập trung của mỗi cộng đồng, để lại nhiều dấu ấn sắc nét về lịch sử, dân số, kinh tế, xã hội và văn hóa, góp phần tạo nên diện mạo của một thành phố văn minh, hiện đại, đa dân tộc, đa tôn giáo và đa dạng sắc thái văn hóa. Đặc điểm cư trú tập trung thành cộng đồng trên địa bàn dân cư của các tộc người này đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình cố kết cộng đồng dân tộc như cộng đồng tôn giáo Hồi giáo (Islam) của người Chăm, Phật giáo Nam tông của người Khmer hay tín ngưỡng thờ nhân thần của người Hoa, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá, tâm lý truyền thống của mỗi dân tộc. Đồng thời, trong điều kiện cư trú tập trung của các DTTS trong trường hợp người Hoa, người Chăm và người Khmer cũng tạo thuận lợi cho việc thực thi chính sách dân tộc, thực hiện công tác dân tộc trong các DTTS.

Trong giai đoạn 2010 – 2020, Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội đặc thù cho TPHCM. Các chính sách này đã được tổ chức thực hiện nghiêm túc và có kết quả trên thực tế. Nhờ đó, Thành phố tiếp tục phát huy vai trò là một trong hai đô thị đặc biệt của cả nước, trở thành trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế động lực của các tỉnh phía Nam. Đời sống của nhân dân tiếp tục được nâng lên, trong đó có đồng bào DTTS. Đa số người dân trong cộng đồng DTTS đều được Thành phố quan tâm về tinh thần, vật chất để phát triển kinh tế, nâng cao trình độ nhận thức, văn hóa của mỗi cá nhân và cộng đồng. Tuy nhiên, xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, cùng với những diễn biến bất thường về sự biến đổi khí hậu toàn cầu và nước biển dâng, tác động của dịch bệnh… đang ảnh hưởng mạnh đến quá trình phát triển và đời sống các DTTS ở TPHCM.

bdt1

Ban Dân tộc TPHCM bàn giao nhà tình thương cho đồng bào DTTS ở Quận 11.

Từ kết quả đánh giá tác động của các chính sách về kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh chính trị, môi trường đến đời sống các DTTS ở TPHCM, bà Nguyễn Thị Thanh Nga - chủ nhiệm nhiệm vụ khoa học và công nghệ “Nghiên cứu kết quả thực hiện chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2010-2020 và đề xuất chính sách phát triển kinh tế - xã hội dân tộc thiểu số giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2035” nhận định: “TPHCM cần thiết lập hệ quan điểm cơ bản và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần các DTTS ở Thành phố trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập và tăng tốc phát triển, phát triển nhanh và phát triển bền vững”.

Thực tế cho thấy, các DTTS trong trường hợp người Hoa, người Chăm và người Khmer ở TPHCM hiện đang đối mặt với nhiều thách thức trong phát triển. Trình độ học vấn và mặt bằng dân trí đồng bào nhìn chung còn thấp hơn so với trình độ học vấn và mặt bằng dân trí chung của cư dân Thành phố. Điều kiện chăm sóc sức khoẻ, cải thiện và bảo vệ môi trường còn kém, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Cộng đồng người Hoa với truyền thống buôn bán, kinh doanh lâu đời thường có mức sống tốt hơn.

Trong khi đó, đời sống cộng đồng người Khmer và người Chăm còn bấp bênh, thu nhập thấp do nguồn thu chủ yếu là từ buôn bán nhỏ (Chăm) và làm thuê, làm mướn (Khmer) theo tập quán truyền thống của mỗi dân tộc.

Mặc dù người Hoa, người Chăm và người Khmer có dân số trẻ, nhất là đối với lao động nhập cư và lực lượng lao động khá dồi dào, cũng được Thành phố tạo điều kiện để cải thiện trình độ lao động thông qua nâng cao giáo dục và đào tạo nghề nhưng vẫn còn gặp nhiều hạn chế. Nhiều lao động được đào tạo nhưng không có việc làm hoặc làm những công việc không phù hợp với ngành nghề được đào tạo. Việc kết nối đào tạo nghề với giải quyết việc làm chưa được quan tâm đúng mức. Vì thế, nhiều người chỉ có thể tìm được việc lao động phổ thông, lao động tự do, bán thời gian. Tỷ lệ người thiếu việc làm hoặc không có việc làm vẫn ở mức cao, dù trong gia đình số lượng người trong độ tuổi lao động ở mỗi gia đình là nhiều (từ 2 đến trên 4 người). 

bdt2

Hội quán người Hoa tổ chức đấu giá lồng đèn để gây quỹ chăm lo đồng bào có hoàn cảnh khó khăn

Mặt khác, sự thay đổi của cơ cấu kinh tế cũng như sự phát triển kinh tế không đồng đều ở các tỉnh thành thuộc khu vực Tây Nam Bộ dẫn đến hiện tượng một lực lượng lớn thanh niên người Khmer đã di cư từ các tỉnh ở Tây Nam Bộ vào TPHCM để tìm kiếm sinh kế. Chính những dòng chảy di cư như trên đặt ra nhiều thách thức cho việc đưa ra các chính sách quản lý và hỗ trợ vấn đề về di cư. Đó là những thách thức lớn đối với việc phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực có chất lượng cao trong các DTTS, đáp ứng yêu cầu thu hút lao động DTTS làm việc trong các thành phần kinh tế, tham gia các tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp để chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động và việc làm, nâng cao thu nhập, bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần, an toàn sinh kế, an sinh xã hội. 

bdt5

Cán bộ, hội viên phụ nữ Chăm Islam TPHCM tích cực, nỗ lực tham gia các phong trào, công tác an sinh xã hội

Bà Nguyễn Thị Thanh Nga cho biết, điểm mạnh trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào DTTS ở TPHCM là vô cùng đa dạng và phong phú. Nhiều công trình văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa, Chăm, Khmer đóng vai trò đặc biệt trong việc giữ vững cấu trúc cộng đồng dân tộc và lưu giữ, cũng như truyền tải giá trị văn hóa bên trong cộng đồng và ra bên ngoài. Tuy nhiên, Thành phố chưa có nhiều chính sách bảo tồn, phát huy các giá trị di tích lịch sử, các giá trị giải trí tinh thần, các phong tục tập quán, nghệ thuật, ẩm thực đặc trưng của đồng bào DTTS trên địa bàn Thành phố. Chính điều này đặt ra những thách thức trong chính sách phát triển văn hóa và du lịch của TPHCM trong việc tận dụng các nguồn lực văn hóa này. 

bdt3

Hoạt động tết của đồng bào Khmer

Vì thế, nhóm thực hiện nhiệm vụ đã kiến nghị TPHCM thực hiện việc phát triển du lịch kết hợp với văn hóa du lịch tâm linh của dân tộc Chăm, Hoa, Khmer, hướng đến việc vừa phát triển văn hóa, đồng thời cũng vừa phát triển kinh tế cho cộng đồng. Văn hóa phải gắn với việc phát triển về mặt sinh kế và trong các hoạt động du lịch từ phía cộng đồng. 

Trong đó, xây dựng các chính sách trong việc phát triển du lịch gắn với các công trình tôn giáo, tín ngưỡng của cộng đồng Hoa, Chăm, Khmer nhằm mục đích cải thiện sinh kế của cộng đồng thông qua du lịch. Nhiều nghề truyền thống của các cộng đồng đang dần bị mai một, việc xây dựng các chính sách đầu tư giáo dục phát triển nghề truyền thống đóng vai trò quan trọng trong việc kết hợp du lịch. Không gian văn hóa công cộng cũng nên được quan tâm, chăm sóc và phát triển để trở thành cầu nối trong việc giao lưu, phát triển văn hóa và cố kết các dân tộc với nhau. Từ đó, hướng đến điều hòa các mối quan hệ dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, đảm bảo sự phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội và an ninh – quốc phòng. 

bdt4

Một buổi đại lễ tại chùa Pothiwong (quận Tân Bình)

Bên cạnh đó, nhóm thực hiện còn đề xuất Thành phố kiến tạo Trung tâm phát triển cộng đồng để làm nơi kết nối, thông tin các chính sách của Đảng và Nhà nước đến với cộng đồng. Nơi đây cũng là nơi kết nối giao lưu văn hóa của cộng đồng với nhau. 

Ngoài ra, các chính sách hỗ trợ và nâng cao giáo dục cho cộng đồng Chăm, Hoa, Khmer cũng cần gắn liền với với chính sách xây dựng đội ngũ cán bộ người trong các nhóm dân tộc để hướng đến sự đa dạng và đại đoàn kết dân tộc, thấu hiểu vấn đề bên trong của cộng đồng hơn, nâng cao chất lượng, hoạt động hiệu quả trong công tác dân tộc. Từ đó, phát huy vai trò công tác vận động nhân dân của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, lực lượng cốt cán, người có uy tín trong đồng bào các dân tộc; kịp thời phát huy và nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến ở các lĩnh vực trong đồng bào các dân tộc.

Thông tin liên hệ:
Ban Dân tộc TPHCM
Địa chỉ: 108 Ngô Quyền, Phường 8, Quận 5, TPHCM
Điện thoại: (028) 38552202

Website: http://bandantoc.hochiminhcity.gov.vn/

Các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức sở hữu trí tuệ trong cộng đồng, xây dựng văn hóa ứng xử tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ ở thế hệ trẻ, xây dựng ý thức và trách nhiệm tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ, từng bước hình thành văn hóa sở hữu trí tuệ trong cộng đồng, dùng sở hữu trí tuệ làm công cụ hữu hiệu để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội.

Ngày 8/9/2022, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM đã tiếp ông Hasan Kleib (Phó Tổng Giám đốc Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới - WIPO).

220909hk1.jpg

Tóm tắt hoạt động đào tạo, huấn luyện về sở hữu trí tuệ, ông Nguyễn Việt Dũng (Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM) cho biết, Sở đã triển khai Chương trình đào tạo Quản trị viên tài sản trí tuệ với 3 cấp độ từ năm 2008. Đến nay, đã có trên 700 học viên tham dự, riêng trong năm 2022 đang đào tạo 54 học viên. Đây là chương trình đầu tiên của cả nước được lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ ghi nhận và chính thức trở thành nhiệm vụ trong Chiến lược Sở hữu trí tuệ đến năm 2030 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, với giải pháp “đào tạo chuyên gia về quản trị tài sản trí tuệ cho doanh nghiệp”. Nguồn nhân lực sở hữu trí tuệ tham gia chương trình đã ứng dụng triển khai quản trị tài sản trí tuệ tại một số doanh nghiệp nhỏ và vừa, góp phần ổn định hoạt động sản xuất - kinh doanh nhờ công cụ sở hữu trí tuệ.

Bên cạnh đó, kết quả nhiệm vụ khoa học và công nghệ còn được Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM “kết tinh” thành tài sản trí tuệ, được ghi nhận và xác lập quyền sở hữu. Hiện nay, mỗi năm có trên 60 nhiệm vụ khoa học và công nghệ được nghiệm thu tại Sở, trung bình 1 nhiệm vụ có ít nhất 1 đơn vị tài sản trí tuệ.

Ngoài ra, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM cũng nỗ lực đưa sở hữu trí tuệ đến gần hơn với thế hệ trẻ thông qua các cuộc thi, hoạt động chào mừng Ngày Đổi mới sáng tạo thế giới 21/4, Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 26/4 và Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18/5. Sở cũng sẽ đưa sở hữu trí tuệ vào khối tiểu học – phổ thông nhằm nâng cao nhận thức sở hữu trí tuệ trong cộng đồng, xây dựng văn hóa ứng xử tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ ở thế hệ trẻ, xây dựng ý thức và trách nhiệm tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ, từng bước hình thành văn hóa sở hữu trí tuệ trong cộng đồng, dùng sở hữu trí tuệ làm công cụ hữu hiệu để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội.

Ông Hasan Kleib bày tỏ ấn tượng tốt về số lượng đơn đăng ký xác lập quyền ở TP.HCM tăng cao trong 3 năm trở lại đây. Hơn thế, những hoạt động sở hữu trí tuệ ở Thành phố cũng hướng đến 3 nhóm đối tượng gồm phụ nữ, giới trẻ, doanh nghiệp nhỏ và vừa mà WIPO đang rất quan tâm. Ông Hasan Kleib cũng giới thiệu về Viện đào tạo về sở hữu trí tuệ tại Việt Nam sắp thành lập nhằm hỗ trợ Việt Nam sử dụng sở hữu trí tuệ như một công cụ thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Dịp này, ông Nguyễn Việt Dũng cũng đề xuất WIPO hỗ trợ chia sẻ các mô hình quản trị tài sản trí tuệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cơ chế chính sách tăng cường hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là trên môi trường số. Thêm vào đó là những bộ tài liệu, phương thức tuyên truyền sở hữu trí tuệ trong trường học để đưa sở hữu trí tuệ đến với giới trẻ hiệu quả hơn.

Hoàng Kim (CESTI)

Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM sẵn sàng đồng hành, hỗ trợ cho các đơn vị ngay trong giai đoạn đầu để làm quen, kết nối với các thành phần trong hệ sinh thái, đảm bảo nhận được thông tin từ chuyên gia, cùng tương tác với vấn đề muốn giải quyết, tìm ra giải pháp hoàn thiện.

Ngày 7/9/2022, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM tổ chức Hội nghị triển khai thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo trong khu vực công tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2022-2025.

Phát biểu tại Hội nghị, ông Nguyễn Việt Dũng (Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM) khẳng định: “Vấn đề có rất nhiều, nguồn lực thì có hạn, nhiệm kỳ thì ngắn, nên chọn vấn đề cần ưu tiên có thể giải quyết được ngay, có tính lan tỏa.”.

220907hk1.jpg

Ông Nguyễn Việt Dũng (Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM) phát biểu tại Hội nghị

Ông Nguyễn Việt Dũng cho biết, hiện nay, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM đang đồng hành cùng các Sở ban ngành, Thành phố Thủ Đức và UBND quận – huyện triển khai thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo trong khu vực công ở 3 nội dung cụ thể gồm:

+ Inno-Coffee: sự kiện kết nối hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Đây là cơ hội để các đơn vị có chung nhu cầu trình bày vấn đề cần giải quyết, nhận tư vấn từ phía chuyên gia (Viện – trường, doanh nghiệp), nhằm tìm kiếm hướng giải pháp đổi mới sáng tạo phù hợp để hợp tác triển khai.

+ R&D: chính sách hỗ trợ nghiên cứu phát triển giải pháp. Đây là chính sách áp dụng sau khi đơn vị đã tìm được hướng giải quyết vấn đề.

+ Sandbox: chính sách hỗ trợ thử nghiệm để các bên hoàn thiện giải pháp giải quyết vấn đề.

Phát hiện vấn đề và xác định vấn đề ưu tiên cũng chính là khâu quan trọng trong phương thức thực hiện triển khai xây dựng các bài toán lớn về hoạt động đổi mới sáng tạo trong khu vực công (cho một số lĩnh vực quản lý nhà nước cụ thể). Phương thức này gồm 5 bước: Xây dựng nội dung các bài toán lớn (khảo sát, đánh giá, phát hiện vấn đề, phân loại vấn đề, mô tả vấn đề để xây dựng nội dung bài toán); Công bố rộng rãi cho cộng đồng về nội dung bài toán lớn; Tuyển chọn đơn vị chủ trì thực hiện; Tổ chức phối hợp thực hiện; Triển khai ứng dụng các nội dung của bài toán lớn và đánh giá kết quả.

220907hk3.jpg

Ông Lê Thanh Minh (Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM) trình bày phương pháp xác định vấn đề ưu tiên

Theo đó, các đơn vị cần xác định rõ mục đích mong muốn là gì, sau đó tìm xem vấn đề phát sinh ở đâu. Đây là việc không phải của riêng cá nhân hay nhóm người nào đó nên rất cần có sự chỉ đạo xuyên suốt của lãnh đạo đơn vị trong việc định danh vấn đề, định danh nguồn nhân lực sẽ tham gia giải quyết. Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM sẵn sàng đồng hành, hỗ trợ ngay cho các đơn vị ngay trong giai đoạn đầu để làm quen, kết nối với các thành phần trong hệ sinh thái, đảm bảo nhận được thông tin từ chuyên gia, cùng tương tác với vấn đề muốn giải quyết, tìm ra giải pháp hoàn thiện.

Bà Chu Vân Hải (Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM) chia sẻ, từ năm 2021, bài toán quản trị chợ tại các quận - huyện đã được Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM triển khai theo phương thức 5 bước kể trên. Cụ thể, sau khi khảo sát nhu cầu ở các đơn vị, Sở nhận ra các quận Bình Thạnh và Phú Nhuận và nhiều đơn vị khác có vấn đề chung là gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý chợ. Sở đã theo sát và hướng dẫn các đơn vị viết bản mô tả vấn đề cần giải quyết. Trong buổi Inno-Coffee sau đó, lãnh đạo quận Bình Thạnh đã nêu rõ vấn đề trong nhu cầu quản lý chợ, mời Viện – trường và doanh nghiệp cùng tham gia góp ý để đặt hàng giải quyết vấn đề. Đến nay, bài toán quản trị chợ đã tiến hành đến bước 5 - triển khai ứng dụng trong thực tế.

220907hk2.jpg

Bà Chu Vân Hải (Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM) chia sẻ kinh nghiệm giải quyết bài toán quản lý chợ

Bà Chu Vân Hải khẳng định, ở bước 5 này, rất cần có sự cam kết của lãnh đạo để cung cấp nguồn lực, đưa cái mới vào ứng dụng. Sự tương tác giữa đơn vị cung cấp giải pháp đổi mới sáng tạo với đơn vị nhận chuyển giao cần được tiến hành liên tục để đảm bảo kết quả đạt hiệu quả tốt nhất. Từ đó, bài toán lớn về quản lý chợ có thể triển khai nhân rộng cho các đơn vị khác.

Dự kiến trong tháng 10/2022, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM sẽ tổ chức khóa tập huấn Govtech cho các thành viên trong tổ công tác thực hiện hoạt động đổi mới sáng tạo trong khu vực công của các đơn vị theo hình thức online.

Hoàng Kim (CESTI)

Clip hoạt động


Bản quyền © 2018 Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Thiết kế và phát triển bởi HCMGIS
Tổng số truy cập: 11537351