SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Sáng ngày 28/8/2026, tại Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh tổ chức Hội nghị triển khai các hoạt động về nâng cao năng suất và chất lượng dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Thành phố Hồ Chí Minh.

Hội nghị được tổ chức nhằm phổ biến các chủ trương, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp; hướng dẫn quy trình, hồ sơ và cơ chế quản lý, sử dụng kinh phí khi thực hiện nhiệm vụ; đồng thời chia sẻ các mô hình, giải pháp và kinh nghiệm thực tiễn trong nâng cao năng suất, chất lượng, trong đó có nội dung ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong cải tiến hoạt động của doanh nghiệp.

Tham dự Hội nghị có lãnh đạo Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, đại diện các phòng chuyên môn thuộc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh; Viện Năng suất Việt Nam, Công ty TNHH BSI Việt Nam và hơn 50 đại biểu đến từ các viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức khoa học và công nghệ, đơn vị tư vấn, đào tạo, chứng nhận, cùng các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố.

Mục tiêu hỗ trợ tối thiểu 1.000 doanh nghiệp giai đoạn 2026-2030

Phát biểu khai mạc, ông Lý Thái Hùng, Chi cục trưởng Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, cho biết Thành phố Hồ Chí Minh xác định doanh nghiệp là trung tâm của tăng trưởng; đồng thời, trong giai đoạn phát triển mới, nâng cao năng suất, chất lượng là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao sức cạnh tranh và hướng đến phát triển bền vững. Do đó, các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng tiếp tục được Chính phủ và Thành phố quan tâm triển khai.

tải xuống (1).png

Ông Lý Thái Hùng, Chi cục trưởng Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng phát biểu tại Hội nghị.

Thực hiện Quyết định số 1322/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa giai đoạn 2021-2030, Ủy ban nhân dân Thành phố đã ban hành Kế hoạch nâng cao năng suất, chất lượng dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026-2030.

Theo Kế hoạch, Thành phố định hướng triển khai các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, làm chủ và ứng dụng công nghệ tiên tiến, áp dụng tiêu chuẩn và hệ thống quản lý hiện đại. Một trong những mục tiêu của Kế hoạch là hỗ trợ tối thiểu 1.000 doanh nghiệp áp dụng các hệ thống quản lý, công cụ cải tiến năng suất, chất lượng, sản xuất thông minh và dịch vụ thông minh trong giai đoạn 2026-2030. Trong năm 2026, hỗ trợ tối thiểu 100 doanh nghiệp; tổ chức các lớp huấn luyện, bồi dưỡng, tập huấn về năng suất, chất lượng, chuyển đổi số, sản xuất thông minh và các nội dung liên quan.

Bên cạnh hỗ trợ doanh nghiệp, Thành phố cũng chú trọng phát triển nguồn nhân lực, kết nối mạng lưới các tổ chức hỗ trợ hoạt động năng suất với viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp.

Hướng dẫn doanh nghiệp tiếp cận nhiệm vụ đổi mới sáng tạo

Tại Hội nghị, bà Nguyễn Thị Thùy Dung, Phó Chi cục trưởng Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, giới thiệu các nhiệm vụ hỗ trợ doanh nghiệp theo Quyết định số 2127/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố và Kế hoạch số 1273/KH-SKHCN ngày 12/02/2026 của Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh.

tải xuống (3).png

Bà Nguyễn Thị Thùy Dung, Phó Chi cục trưởng Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng chia sẻ tại Hội nghị.

Nội dung giới thiệu tập trung vào định hướng, phạm vi và các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp trong lĩnh vực nâng cao năng suất, chất lượng, trong đó có áp dụng hệ thống quản lý, công cụ cải tiến năng suất chất lượng, truy xuất nguồn gốc, thực hành nông nghiệp tốt (G.A.P), năng suất xanh, ứng dụng công nghệ thông tin và công nghệ số, sản xuất thông minh, dịch vụ thông minh và chứng nhận sản phẩm, hệ thống quản lý phù hợp tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế.

Cũng tại Hội thảo, bà Trần Thị Kim Liên, Phó Trưởng phòng Quản lý Sở hữu trí tuệ và Đổi mới sáng tạo, Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh, hướng dẫn quy trình, hồ sơ đề xuất và tổ chức thực hiện nhiệm vụ đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực nâng cao năng suất, chất lượng. Theo đó, hồ sơ đề xuất được đánh giá theo các tiêu chí về sự cần thiết, tính mới, tính khả thi, hiệu quả và các yêu cầu liên quan. Đối với hồ sơ thuộc nhóm hỗ trợ doanh nghiệp, nhiệm vụ phải đạt mức điểm theo quy định mới đủ điều kiện xem xét, trong đó mức 70/100 điểm là ngưỡng được báo cáo viên lưu ý tại Hội nghị.

Việc hướng dẫn cụ thể quy trình, hồ sơ và tiêu chí đánh giá nhằm giúp doanh nghiệp chủ động rà soát nhu cầu, xác định nội dung cần hỗ trợ và chuẩn bị đề xuất phù hợp.

Làm rõ cơ chế tài chính thực hiện nhiệm vụ

Về cơ chế quản lý, sử dụng kinh phí và thanh quyết toán, ông Trần Hữu Chương, Phó Trưởng phòng Kế hoạch - Tài chính, Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh, đã giới thiệu các nội dung liên quan đến nguồn kinh phí hỗ trợ và trách nhiệm của các bên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Theo ông Chương, tùy theo nhóm nhiệm vụ và đối tượng hỗ trợ, mức ngân sách nhà nước hỗ trợ được xác định khác nhau. Trong đó, một số nhóm nhiệm vụ hỗ trợ doanh nghiệp có mức hỗ trợ tối đa 80% chi phí theo giá trị hợp đồng; nhiệm vụ nghiên cứu tạo ra sản phẩm, quy trình, dịch vụ hoặc mô hình kinh doanh mới có mức hỗ trợ tối đa 50% tổng dự toán kinh phí; nhóm nhiệm vụ tạo ra sản phẩm, dịch vụ hoặc quy trình công nghệ cải tiến đáng kể có mức hỗ trợ tối đa 30% tổng dự toán kinh phí. Đối với thử nghiệm và chứng nhận sản phẩm xuất khẩu chủ lực, mức hỗ trợ được trình bày là một lần, tối đa 30% giá trị hợp đồng.

Các mức hỗ trợ cụ thể được thực hiện theo từng nhóm nhiệm vụ và các điều kiện, yêu cầu tương ứng của quy định hiện hành.

Chia sẻ các mô hình cải tiến năng suất từ thực tiễn

Tại Hội nghị, TS. Nguyễn Tùng Lâm, Viện trưởng Viện Năng suất Việt Nam, đã chia sẻ một số mô hình và kinh nghiệm thực tiễn trong cải tiến năng suất, chất lượng. Trong đó, Công ty CP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông được giới thiệu với mô hình Năng suất xanh, tập trung vào các giải pháp tái sử dụng nước, tăng cường tái chế thủy tinh vỡ và giảm phát thải khí nhà kính. Công ty TNHH JCV CORP được dẫn chứng với việc áp dụng Lean Six Sigma và TPM; theo số liệu được báo cáo viên trình bày, 4 dự án Đai Đen triển khai trong năm 2024 mang lại mức tiết kiệm khoảng 658.225 USD/năm, đồng thời góp phần thúc đẩy hoạt động cải tiến liên tục trong doanh nghiệp.

TS. Nguyễn Tùng Lâm, Viện trưởng Viện Năng suất Việt Nam chia sẻ tại Hội nghị.

Đối với Bệnh viện Bạch Mai, báo cáo viên giới thiệu mô hình cải tiến quy trình khám bệnh ngoại trú tại Phòng khám Tim mạch, với kết quả giảm trung bình khoảng 14 phút thời gian làm thủ tục hành chính cho mỗi người bệnh.

Các trường hợp trên được chia sẻ như những ví dụ thực tiễn để các doanh nghiệp, tổ chức tham khảo trong quá trình lựa chọn công cụ, giải pháp phù hợp với điều kiện và yêu cầu hoạt động của mình.

Ứng dụng AI gắn với yêu cầu về chất lượng và niềm tin số

Một nội dung khác tại Hội nghị là chuyên đề về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong cải tiến năng suất, chất lượng do ông Đoàn Văn Khải, Giám đốc phụ trách mảng dịch vụ Kỹ thuật số, Công ty TNHH BSI Việt Nam, trình bày.

Theo số liệu được báo cáo viên chia sẻ, 81% người dùng tại Việt Nam tương tác với AI hằng ngày, trong khi tỷ lệ doanh nghiệp triển khai AI ở cấp tổ chức được nêu ở mức 18%, và chỉ khoảng 1,6% đưa AI vào hoạt động cốt lõi.

Ông Đoàn Văn Khải, Giám đốc phụ trách mảng dịch vụ Kỹ thuật số, Công ty TNHH BSI Việt Nam trình bày tại Hội nghị.

Từ thực tiễn ứng dụng, ông Khải lưu ý doanh nghiệp cần quan tâm đồng thời đến hiệu quả và các rủi ro khi sử dụng AI. Một trong những vấn đề được đề cập là khả năng AI tạo ra kết quả có chất lượng không đồng đều tùy từng loại tác vụ; do đó, việc kiểm soát của con người, bảo đảm an toàn thông tin, thẩm định chất lượng và quản trị rủi ro là những yếu tố cần được xem xét trong quá trình ứng dụng.

Nội dung trình bày cũng giới thiệu các tiêu chuẩn, công cụ và cách tiếp cận liên quan đến quản trị AI, an toàn thông tin và quản lý chất lượng, qua đó giúp doanh nghiệp từng bước xây dựng môi trường ứng dụng AI có kiểm soát.

Tăng cường kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp

Kết thúc các nội dung chuyên môn, Hội nghị dành thời gian trao đổi, thảo luận giữa cơ quan quản lý, báo cáo viên, tổ chức khoa học và công nghệ và cộng đồng doanh nghiệp. Các ý kiến tập trung vào chính sách hỗ trợ, quy trình đề xuất nhiệm vụ, cơ chế tài chính và khả năng ứng dụng các giải pháp khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và AI trong nâng cao năng suất, chất lượng.

Thông qua Hội nghị, các tổ chức, doanh nghiệp có thêm thông tin về định hướng, chính sách và các nhiệm vụ hỗ trợ của Thành phố; đồng thời có cơ hội trao đổi trực tiếp với cơ quan quản lý và các chuyên gia về những vấn đề phát sinh từ thực tiễn.

Đây cũng là một trong những hoạt động nhằm tăng cường kết nối giữa cơ quan quản lý nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức khoa học và công nghệ, đơn vị tư vấn, đào tạo, chứng nhận và doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy việc ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào hoạt động nâng cao năng suất, chất lượng trên địa bàn Thành phố.

Nguyễn Hà

Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh vừa tổ chức Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ "Nghiên cứu và phát triển giải pháp nâng cao hiệu năng hệ thống tính toán hiệu năng cao phục vụ ứng dụng trí tuệ nhân tạo".

Nhiệm vụ do Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh) chủ trì, PGS. TS. Thoại Nam làm chủ nhiệm. Kết quả nghiên cứu đã phát triển thành công các giải pháp tối ưu hạ tầng tính toán hiệu năng cao (HPC), đồng thời đặt nền tảng cho mô hình tích hợp giữa HPC và điện toán lượng tử.

Nâng cao hiệu quả khai thác hệ thống HPC

Theo nhóm nghiên cứu, tại TP. Hồ Chí Minh, nhu cầu ứng dụng HPC ngày càng tăng nhằm phục vụ các chương trình lớn như chuyển đổi số, phát triển và ứng dụng AI, đô thị thông minh… Tuy nhiên, hệ thống HPC thường phải xử lý khối lượng dữ liệu lớn, nhiều tác vụ đồng thời, đòi hỏi khả năng phân bổ tài nguyên, giám sát và khai thác CPU, GPU hiệu quả.

NTDThatangtinhtoanh1ok.JPG

PGS. TS. Thoại Nam trình bày báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ

Từ yêu cầu thực tiễn, nhiệm vụ được triển khai với mục tiêu nghiên cứu và phát triển giải pháp kỹ thuật giúp giám sát và gia tăng hiệu năng hệ thống, hiệu quả sử dụng của người dùng trên hệ thống máy tính hiệu năng cao hiện hữu nhằm phục vụ định hướng phát triển hạ tầng HPC của TP. Hồ Chí Minh cho các ứng dụng AI. Đồng thời nghiên cứu mở rộng, phát triển giải pháp kết hợp giữa tính toán hiệu năng cao và tính toán lượng tử, sẵn sàng phục vụ cho các ứng dụng AI tiên tiến của Thành phố trong tương lai gần.

Nhóm đã tiến hành các nội dung như nghiên cứu phát triển dịch vụ hỗ trợ tăng hiệu quả truy cập hệ thống HPC; phát triển công cụ phân tích hiệu quả sử dụng hệ thống HPC, giải pháp ảo hoá container sử dụng cho hệ thống HPC; phát triển công cụ giám sát và phân tích phục vụ hệ thống HPC; phát triển cảm biến ảo giám sát tại nút tính toán, giải thuật giám sát và phân tích dữ liệu dòng; nghiên cứu công cụ quản lý tài nguyên và giải pháp phân bổ tài nguyên…

Theo đó, một trong những kết quả nổi bật là hệ thống cổng truy cập gồm ba phân hệ HPC Portal, Access Portal và Resource Portal. Kiến trúc này giúp tổ chức việc truy cập, khai thác và quản trị tài nguyên HPC theo hướng tập trung, đồng thời tích hợp đăng nhập một lần (SSO), cơ chế bảo mật LDAP/LDAPS và mã hóa TLS/HTTPS. Hệ thống cũng phát triển dịch vụ ghi nhận ký hoạt động, hỗ trợ theo dõi và truy vết quá trình sử dụng tài nguyên.

Đề tài đồng thời chuẩn hóa quy trình đóng gói ứng dụng bằng công nghệ container Singularity/Apptainer với định dạng Singularity Image Format (SIF). Kết quả thử nghiệm cho thấy độ hao hụt hiệu năng so với chạy trực tiếp trên phần cứng vật lý dưới 1% đối với các bài kiểm thử Linpack, STREAM và từ 1% đến 3% đối với một số ứng dụng khoa học quy mô lớn như LS-DYNA, MILC. Kết quả này góp phần bảo đảm khả năng triển khai ứng dụng nhất quán trên các hạ tầng HPC khác nhau.

Ngoài ra, điểm đáng chú ý của đề tài là giải pháp giám sát hệ thống dựa trên cảm biến ảo eBPF (Extended Berkeley Packet Filter). Công nghệ này cho phép thu thập dữ liệu sâu tại các nút tính toán, đồng thời giảm đáng kể tài nguyên CPU dành cho hoạt động giám sát. Theo kết quả thử nghiệm, mức tiêu thụ CPU của công cụ giám sát giảm từ khoảng 10,6%-14% khi sử dụng các script truyền thống xuống còn 0,5%-1,5%. Việc giảm tải này giúp dành thêm tài nguyên cho các tác vụ tính toán thực tế trên hệ thống HPC.

NTDThatangtinhtoanh2.JPG

Kết quả đề tài cũng phát triển giải thuật nén dữ liệu dòng trực tuyến PLA (Piecewise Linear Approximation), hướng đến xử lý lượng lớn dữ liệu giám sát theo thời gian thực. Trên tập dữ liệu Leibniz HPC-ODA, giải thuật đạt tỷ số nén hơn 195 lần với sai số 1% và hơn 471 lần với sai số 5%, trong khi thông lượng xử lý đạt từ 1 triệu đến gần 4 triệu điểm dữ liệu/giây. Kết quả nghiên cứu về giải thuật nén dữ liệu đã được chấp nhận đơn đăng ký sở hữu trí tuệ và một công trình liên quan được trao giải Best Paper ACM SIG AI tại Hội nghị Khoa học Quốc tế IEA/AIE 2026 tại Malaysia.

Tạo nền tảng phát triển AI và điện toán lượng tử

Hội đồng nghiệm thu đánh giá nhiệm vụ có những đóng góp mới trong tiếp cận các kỹ thuật, công nghệ liên quan đến hệ thống HPC và điện toán lượng tử, một hướng nghiên cứu còn khá mới tại Việt Nam. Các giải pháp được phát triển bám sát xu hướng công nghệ tiên tiến, đồng thời giải quyết bài toán nâng cao hiệu năng, hiệu quả sử dụng và chia sẻ tài nguyên đối với các hệ thống tính toán mạnh quy mô lớn, đáp ứng yêu cầu tính toán phục vụ nghiên cứu, phát triển ứng dụng AI.

NTDThatangtinhtoanh4.JPG

Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ do Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh tổ chức ngày 27/8/2026

Kết quả nghiên cứu được đánh giá có khả năng tạo tác động thực tiễn đối với việc vận hành, khai thác các hệ thống HPC, trước hết là tại các đơn vị đang sở hữu hạ tầng tính toán mạnh. Việc tối ưu phân bổ tài nguyên, giảm tải hoạt động giám sát và nâng cao hiệu quả khai thác GPU có thể góp phần sử dụng hiệu quả hơn hạ tầng tính toán hiện hữu, đồng thời tạo điều kiện phát triển các nghiên cứu về AI, phân tích dữ liệu lớn và tính toán hiệu năng cao của Thành phố.

NTDThatangtinhtoanh5.JPG

Ngoài ra, việc kết nối HPC với điện toán lượng tử được xác định là một hướng tiếp cận mới, có ý nghĩa mở đường cho các nghiên cứu tiếp theo. Đồng thời mở ra hướng phát triển trong quá trình xây dựng năng lực nghiên cứu và làm chủ các công nghệ tính toán thế hệ mới.

Các giải pháp của đề tài đã được thử nghiệm trên hai hệ thống HPC tại Phòng Thí nghiệm Tính toán Hiệu năng cao, Trường Đại học Bách khoa và Trung tâm Công nghệ thông tin và Địa không gian thuộc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh. Kết quả thử nghiệm là cơ sở để xem xét khả năng mở rộng ứng dụng tại các trường, viện nghiên cứu và doanh nghiệp có hệ thống tính toán mạnh tương tự. Các sản phẩm phần mềm, công cụ giám sát, giải thuật điều phối tài nguyên và mô hình mô phỏng lượng tử được phát triển có khả năng tiếp tục hoàn thiện, chuyển giao và khai thác trong thực tế.

Kết quả của nhiệm vụ góp phần nâng cao khả năng khai thác hạ tầng HPC hiện hữu, tối ưu tài nguyên tính toán và tạo thêm cơ sở công nghệ cho nghiên cứu, phát triển các ứng dụng AI. Đồng thời, việc đặt nền tảng kết nối HPC với điện toán lượng tử mở ra hướng tiếp cận mới đối với những bài toán tính toán phức tạp, qua đó hỗ trợ định hướng phát triển hạ tầng tính toán hiệu năng cao và ứng dụng trí tuệ nhân tạo của Thành phố trong giai đoạn tới.

Lam Vân

Ngày 28/8, Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo TP. Hồ Chí Minh (SIHUB) tổ chức Sự kiện trình diễn - kết nối công nghệ chuyên đề "Xe tự hành (AGV), Robot và bài toán thực tế: Tự động hóa nhà máy, kho vận - Hệ sinh thái Logistics tự chủ cho Doanh nghiệp Việt Nam".

Sự kiện nhằm kết nối doanh nghiệp với các giải pháp robot, AI và tự động hóa, đồng thời mang đến những góc nhìn cụ thể về khả năng ứng dụng công nghệ vào thực tiễn. Qua đó góp phần hình thành hệ sinh thái robot và tự động hóa có khả năng đáp ứng trực tiếp nhu cầu sản xuất, kho vận và logistics.

trinhdiencongnghe288h5ok.jpg

Toàn cảnh sự kiện

Kết nối công nghệ với bài toán thực tế

Phát biểu tại sự kiện, ông Nguyễn Hữu Yên, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh, nhấn mạnh vai trò ngày càng quan trọng của robot và tự động hóa trong định hướng phát triển công nghệ của Thành phố và cả nước.

Theo Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, công nghệ robot và tự động hóa được xác định là một trong 10 nhóm công nghệ chiến lược quốc gia. Đây là cơ hội để doanh nghiệp tiếp cận các nguồn lực mới, đồng thời đặt ra yêu cầu thúc đẩy nghiên cứu, làm chủ và chuyển giao công nghệ phù hợp với nhu cầu thực tế.

trinhdiencongnghe288h1ok.JPG

Ông Nguyễn Hữu Yên, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh, phát biểu tại sự kiện

Ông Nguyễn Hữu Yên cho rằng công nghệ chỉ thực sự phát huy giá trị khi được đặt vào đúng bài toán của doanh nghiệp và có sự kết nối hiệu quả giữa bên cung, bên cầu và năng lực nghiên cứu. Thay vì dừng ở nghiên cứu hoặc trình diễn công nghệ, Thành phố hướng tới hình thành một chuỗi liên kết hoàn chỉnh, bắt đầu từ bài toán thực tế của doanh nghiệp, lựa chọn giải pháp công nghệ, kết nối qua Sàn Giao dịch công nghệ, thử nghiệm có kiểm soát, hoàn thiện các tiêu chuẩn kỹ thuật và tiến tới ứng dụng, thương mại hóa.

Đây cũng là định hướng để công nghệ robot và tự động hóa không chỉ hiện diện trong các mô hình trình diễn, mà từng bước trở thành năng lực thực tế của doanh nghiệp.

Phân tích thực trạng ứng dụng robot tại Việt Nam, TS. Vũ Trí Viễn, Trưởng bộ môn Tự động Điều khiển, Trường Đại học Tôn Đức Thắng, cho biết thị trường tự động hóa công nghiệp Việt Nam đạt khoảng 2,52 tỷ USD năm 2024 và dự kiến đạt 4,21 tỷ USD vào năm 2030. Tuy nhiên, mức độ ứng dụng giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước vẫn còn khoảng cách lớn.

Trong khi khoảng 90% doanh nghiệp FDI lớn đã ứng dụng sâu công nghệ tự động hóa, tỷ lệ ứng dụng robot tại doanh nghiệp nội địa mới khoảng 5 - 15%, chủ yếu ở các dự án nhỏ lẻ. Đáng chú ý, có tới 57,6% doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) cho biết gặp khó khăn trong quá trình triển khai thực tế.

trinhdiencongnghe288h6ok.jpg

TS. Vũ Trí Viễn, Trưởng bộ môn Tự động Điều khiển, Trường Đại học Tôn Đức Thắng, trình bày báo cáo chuyên đề  

Theo TS. Vũ Trí Viễn, những trở ngại không chỉ nằm ở chi phí mua thiết bị mà còn đến từ hạ tầng nhà xưởng, chi phí tích hợp, nhân lực kỹ thuật, tiêu chuẩn và khả năng kết nối giữa các hệ thống. Với các doanh nghiệp đang vận hành nhà máy hiện hữu, việc đưa robot vào hoạt động càng phức tạp khi hệ thống sản xuất, kho vận và phần mềm quản lý đã được hình thành từ trước.

Một điểm nghẽn quan trọng là các thiết bị và phần mềm chưa có "ngôn ngữ" chung để giao tiếp. Mỗi hãng robot có thể sử dụng tiêu chuẩn và phương thức lập trình riêng, trong khi doanh nghiệp lại đang vận hành các hệ thống ERP, MES hoặc WMS khác nhau. Nếu không giải quyết được bài toán kết nối, việc đầu tư từng thiết bị riêng lẻ có thể tạo ra những "ốc đảo công nghệ" thay vì một hệ thống tự động hóa đồng bộ.

TS. Viễn đề xuất chuyển tư duy từ "tự động hóa từng khâu" sang xây dựng chuỗi logistics tự chủ, trong đó dữ liệu, hệ thống quản lý, robot và nhu cầu khách hàng được kết nối trong một quy trình thống nhất. Đặc biệt, doanh nghiệp được khuyến nghị sử dụng môi trường mô phỏng, Digital Twin để thử nghiệm và tối ưu các kịch bản trước khi đưa hệ thống vào vận hành thực tế, qua đó giảm rủi ro và chi phí thử - sai trong nhà máy.

AI mở rộng khả năng tự chủ của robot

Tại sự kiện, TS. Bùi Hà Đức, Phó Trưởng bộ môn Cơ điện tử, Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh đã giới thiệu về World Model (mô hình thế giới) - hướng phát triển AI cho phép robot xây dựng hiểu biết về môi trường vật lý, dự đoán các tình huống và mô phỏng trước khả năng xảy ra trước khi thực hiện hành động.

Theo TS. Bùi Hà Đức, robot truyền thống phát huy hiệu quả cao trong môi trường ổn định, có cấu trúc và quy trình lặp lại. Tuy nhiên, sản xuất hiện đại ngày càng hướng tới cá nhân hóa, trong khi môi trường kho vận luôn biến động bởi con người, hàng hóa và điều kiện vận hành. Vì vậy robot cần chuyển từ khả năng "làm theo lệnh" sang khả năng nhận biết, dự đoán và ra quyết định phù hợp.

World Model được kỳ vọng hỗ trợ robot nhận thức sâu hơn về mối quan hệ vật lý giữa các đối tượng, dự đoán tình huống để tăng mức độ an toàn và giải quyết bài toán Sim2Real - huấn luyện, thử nghiệm trong môi trường mô phỏng trước khi triển khai ngoài thực tế.

trinhdiencongnghe288h8ok.jpg

TS. Bùi Hà Đức, Phó Trưởng bộ môn Cơ điện tử, Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh, trình bày báo cáo chuyên đề tại sự kiện

Một kết quả thử nghiệm cho thấy, mô hình thế giới do nhóm nghiên cứu của TS. Bùi Hà Đức phát triển đạt độ chính xác trên 87% khi thử nghiệm trên bộ dữ liệu thực tế, dù được huấn luyện hoàn toàn trong môi trường mô phỏng. Nhóm cũng tối ưu mô hình để có thể chạy thời gian thực trên thiết bị nhúng NVIDIA Jetson Orin 8GB. Sự phát triển của AI cho robot cũng gắn với xu hướng dịch chuyển công nghệ từ robot công nghiệp truyền thống sang robot cộng tác (Cobots), khi robot bước ra khỏi không gian cách ly để làm việc trực tiếp cùng con người. Điều này đặt yêu cầu cao hơn về khả năng nhận biết và dự đoán tương tác vật lý, qua đó bảo đảm an toàn và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa người và máy.

Một số hình ảnh tham quan khu vực trình diễn - kết nối công nghệ tại sự kiện:  

trinhdiencongnghe288h2ok.JPG

Sự kiện trình diễn - kết nối công nghệ lần này quy tụ 13 đơn vị trưng bày giới thiệu 17 công nghệ, thiết bị gồm robot AGV/AMR, robot chó 4 chân VietRover, máy in 3D công nghiệp, camera AI, hệ thống hỗ trợ lái tự động phương tiện thủy, trợ lý AI cho logistics, giải pháp điều phối kho tự động và hệ thống SCADA/MES tích hợp.

trinhdiencongnghe288h3ok.JPG

Lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ, lãnh đạo SIHUB và các đại biểu tham quan các gian hàng  

trinhdiencongnghe288h4ok.JPG

Bên cạnh các nội dung chuyên sâu, chương trình giới thiệu một số giải pháp đang hướng đến những bài toán cụ thể của doanh nghiệp như blockchain trong kiểm soát tồn kho logistics, robot AGV và kiosk tích hợp trợ lý AI, hệ thống hỗ trợ lái tự động trên phương tiện thủy và nền tảng số hóa quy trình logistics.

trinhdiencongnghe288h7ok.JPG

Theo ông Nguyễn Hữu Yên, Sàn Giao dịch Công nghệ TP. Hồ Chí Minh đang đóng vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp và các nguồn cung công nghệ, với danh mục hơn 25.000 công nghệ, thiết bị từ hơn 2.500 nhà cung cấp. Thành phố sẽ tiếp tục phát huy vai trò kết nối, đồng thời triển khai các cơ chế hỗ trợ tài chính, ưu đãi lãi suất vay theo các nghị quyết của Hội đồng nhân dânThành phố, giúp doanh nghiệp tối ưu chi phí đầu tư và từng bước làm chủ công nghệ.

Lam Vân

Chiều ngày 28/8, Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh tiếp và làm việc với Công ty Samsung HCMC CE Complex (SEHC), trao đổi về hoạt động nghiên cứu và phát triển, định hướng trở thành doanh nghiệp công nghệ cao và khả năng mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ.

Ông Lê Văn Thăng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh, chủ trì buổi tiếp và làm việc với đoàn Công ty Samsung HCMC CE Complex do ông JongHae Lee, Phó Tổng Giám đốc phụ trách Tài chính, làm trưởng đoàn.

Quang cảnh buổi làm việc giữa hai bên.

Tăng kết nối R&D và phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp

Tại buổi làm việc, đại diện Samsung chia sẻ về quá trình hoạt động tại Khu Công nghệ cao Thành phố từ năm 2016, kết quả sản xuất, xuất khẩu và định hướng phát triển trong giai đoạn tới. Samsung HCMC CE Complex đã từng bước mở rộng quy mô sản xuất, xuất khẩu và đầu tư, trở thành một trong những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lớn trên địa bàn. Sản phẩm của doanh nghiệp hiện được cung cấp tới khoảng 60 quốc gia trên thế giới.

Ông JongHae Lee, Phó Tổng Giám đốc phụ trách Tài chính (ở giữa) trao đổi tại buổi làm việc.

Nghiên cứu và phát triển (R&D) được Samsung xác định là một trong những nguồn lực trọng tâm trong chiến lược phát triển lâu dài. Trong tổng số khoảng 5.373 nhân sự của doanh nghiệp, có 665 nhân sự làm việc trong lĩnh vực R&D. Samsung hiện vận hành trung tâm R&D, tập trung đào tạo đội ngũ chuyên gia, triển khai các hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ, qua đó nâng cao năng lực công nghệ và sức cạnh tranh của nhà máy. Bên cạnh hoạt động nghiên cứu và sản xuất, Samsung hiện đồng hành cùng 116 nhà cung cấp cấp 1 tại Việt Nam.

Từ góc độ quản lý nhà nước, Sở Khoa học và Công nghệ cho biết Thành phố đang quan tâm tăng cường kết nối doanh nghiệp với các trường đại học, cơ sở đào tạo và tổ chức nghiên cứu nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp công nghệ lớn trên địa bàn.

Việc Samsung phát triển mạng lưới hơn 100 nhà cung cấp cũng phù hợp với định hướng của Thành phố trong thu hút các nhà đầu tư lớn. Theo đó, doanh nghiệp không chỉ phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình mà còn được kỳ vọng tạo thêm cơ hội để doanh nghiệp địa phương nâng cao năng lực, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị.

Ông Lê Văn Thăng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh, chủ trì buổi tiếp và làm việc với đoàn.

Đại diện Sở cho biết sẵn sàng cung cấp thông tin về tiêu chí, điều kiện và khung quy định liên quan để Samsung chủ động nghiên cứu, chuẩn bị. Các nội dung chuyên môn cụ thể có thể tiếp tục được trao đổi khi doanh nghiệp hoàn thiện bước chuẩn bị và có đề xuất chính thức.

Mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ cao

Tại buổi làm việc, Sở Khoa học và Công nghệ cũng cho biết, khu Công nghệ cao Thành phố đang được định hướng mở rộng thêm hơn 190 ha, trong đó hơn 52 ha dự kiến dành cho phát triển các ngành công nghiệp, công nghệ chiến lược và thu hút các nhà đầu tư trong lĩnh vực công nghệ cao.

Cùng với đó, Thành phố định hướng phát triển các khu công nghệ số, không gian đô thị khoa học, công nghệ; đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển đổi các khu công nghiệp theo hướng xanh hơn, tăng cường sử dụng năng lượng sạch và nâng cao hàm lượng công nghệ trong hoạt động sản xuất.

Sở mong muốn Samsung tiếp tục phát huy tiềm lực tài chính, kinh nghiệm quản trị, năng lực nghiên cứu và công nghệ để mở rộng hoạt động đầu tư, tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển các lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ chiến lược của Thành phố.

Các đại biểu chụp hình lưu niệm.

Đại diện Samsung cho biết doanh nghiệp sẽ tiếp tục phát triển năng lực R&D, nâng cao sức cạnh tranh của nhà máy tại TP. Hồ Chí Minh và mở rộng hoạt động xuất khẩu. Đồng thời, cũng kỳ vọng tiếp tục nhận được sự đồng hành, hướng dẫn của các cơ quan Thành phố trong quá trình triển khai các kế hoạch phát triển thời gian tới.

Buổi làm việc góp phần tăng cường kết nối giữa cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp công nghệ lớn, đồng thời mở ra khả năng tiếp tục trao đổi, hợp tác trong phát triển nguồn nhân lực R&D, công nghệ cao và hệ sinh thái doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố.

Nguyễn Tuyết

Chương trình giáo dục vì sự phát triển bền vững dành cho học sinh ba cấp tại Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Rừng ngập mặn Cần Giờ đã được xây dựng, thử nghiệm thực tế và hoàn thiện cùng hệ thống học liệu, công cụ hỗ trợ. Kết quả tạo cơ sở để triển khai các hoạt động giáo dục trải nghiệm, giáo dục môi trường và từng bước nhân rộng tại TP. Hồ Chí Minh.

Quang cảnh Hội đồng nghiệm thu tại Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM ngày 27/8/2026.

Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh vừa tổ chức Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Thành phố “Nghiên cứu xây dựng và thử nghiệm áp dụng Chương trình giáo dục vì sự phát triển bền vững của UNESCO tại Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Rừng ngập mặn Cần Giờ”. Nhiệm vụ do Viện Công nghệ Tiên tiến chủ trì, TS. Lê Bửu Thạch làm chủ nhiệm.

Từ nhu cầu thực tiễn đến chương trình ESD cho ba cấp

Theo nhóm nghiên cứu, Cần Giờ có nhiều lợi thế để trở thành không gian học tập thực tiễn với hệ sinh thái rừng ngập mặn, đa dạng sinh học, lịch sử Rừng Sác, văn hóa cộng đồng và các sinh kế đặc trưng. Tuy nhiên, các hoạt động giáo dục môi trường, tham quan và du lịch sinh thái trước đây còn tương đối rời rạc, thiếu một khung chương trình thống nhất theo định hướng giáo dục vì sự phát triển bền vững của UNESCO.

Từ thực tiễn đó, nhiệm vụ đặt mục tiêu xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn để áp dụng Chương trình Giáo dục vì sự phát triển bền vững (ESD) tại Cần Giờ; xây dựng khung hoạt động, nội dung và lộ trình dành cho học sinh phổ thông, đáp ứng yêu cầu về hoạt động trải nghiệm; đồng thời xây dựng, thử nghiệm mô hình ESD phù hợp với điều kiện và nguồn lực thực tế.

TS. Lê Bửu Thạch làm chủ nhiệm nhiệm vụ trình bày báo cáo tại Hội đồng.

Để làm cơ sở xây dựng chương trình, nhóm nghiên cứu khảo sát 1.618 học sinh tại 9 trường thuộc ba cấp học, gồm cả khu vực Cần Giờ và nội thành TP. Hồ Chí Minh. Đồng thời khảo sát với 85 cán bộ, nhân viên, quản lý, hướng dẫn viên, giáo viên và các bên liên quan nhằm xác định nhu cầu, năng lực hiện có và khả năng tham gia chương trình.

Kết quả cho thấy học sinh ở cả ba cấp đều hứng thú với hoạt động học tập ngoài lớp học và có nhận thức tích cực về bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, vẫn tồn tại khoảng cách giữa nhận thức và hành động; mức độ tham gia thường xuyên vào các hoạt động thực hành, trải nghiệm thực địa có chiều sâu còn hạn chế.

Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đã xây dựng Chương trình Giáo dục vì sự phát triển bền vững tại Khu Dự trữ sinh quyển Cần Giờ đến năm 2030, tầm nhìn 2040 dành cho học sinh tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông. Chương trình tích hợp kiến thức tự nhiên, xã hội, lịch sử, văn hóa và sinh kế địa phương, gắn học tập với quan sát, trải nghiệm và thực hành tại Cần Giờ.

Nhóm nghiên cứu cũng hoàn thiện hệ thống học liệu gồm kế hoạch bài giảng, bài giảng điện tử, phiếu học tập, công cụ đánh giá, bộ câu hỏi và tài nguyên số; đồng thời xuất bản sách “Hướng dẫn vận hành Chương trình Giáo dục vì sự phát triển bền vững tại Khu Dự trữ sinh quyển Cần Giờ”.

Kết quả thử nghiệm tạo cơ sở nhân rộng

Chương trình được thử nghiệm với hơn 160 học sinh tại ba trường đại diện cho ba cấp học. Kết quả bước đầu cho thấy kiến thức và nhận thức của học sinh đều có xu hướng cải thiện. Ở cấp tiểu học, tỷ lệ điểm đạt được tăng từ 82,98% lên 92,95%; cấp trung học cơ sở, kết quả tổng hợp tăng từ 57,70% lên 88,52%; ở cấp trung học phổ thông, điểm trung bình chung tăng từ 3,02/5 lên 4,43/5 sau chương trình.

Kết quả nghiên cứu có thể được chuyển giao để các trường tổ chức hoạt động trải nghiệm, giáo dục môi trường và giáo dục địa phương. Trong giai đoạn 2026-2028, nhóm nghiên cứu đề xuất chuyển giao bộ chương trình, duy trì các trường nòng cốt và từng bước mở rộng đến các cơ sở giáo dục có nhu cầu, tạo cơ sở nhân rộng mô hình tại TP. Hồ Chí Minh.

Hội đồng nghiệm thu chụp ảnh cùng nhóm nghiên cứu.

Hội đồng thống nhất nghiệm thu nhiệm vụ, đồng thời đề nghị nhóm nghiên cứu tiếp thu, bổ sung một số nội dung theo góp ý để tiếp tục hoàn thiện kết quả nghiên cứu.

Nguyễn Tuyết

Ngày 24/8/2026, trường THPT Marie Curie tổ chức tập huấn “Phát huy năng lực đổi mới, sáng tạo thông qua xây dựng và triển khai sáng kiến trong hoạt động giáo dục tại trường THPT Marie Curie”. Gần 200 giáo viên, nhân viên nhà trường đã tham dự tập huấn.

Buổi tập huấn nhằm cung cấp thông tin toàn diện về các định hướng, chính sách cốt lõi và khung pháp lý thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2025 - 2030, các quy định hiện hành về sáng kiến cũng như thủ tục xét, công nhận hiệu quả áp dụng, khả năng nhân rộng, phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến, nhiệm vụ khoa học và công nghệ.

Tại buổi tập huấn, ông Trần Ninh Đông – Quyền Trưởng phòng Quản lý Sở hữu trí tuệ và Đổi mới sáng tạo (Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh) đã cung cấp một số thông tin về đổi mới sáng tạo và xây dựng sáng kiến trong môi trường giáo dục như Kế hoạch 177/KH-UBND (ngày 25/11/2025) về việc phát triển Hệ thống đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo hướng tới mục tiêu đưa Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo khu vực ASEAN và tiến vào Top 100 thành phố có hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo năng động toàn cầu giai đoạn 2026 – 2030; Kế hoạch 171/KH-UBND (ngày 04/5/2026) về việc triển khai chương trình hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp giai đoạn 2026-2035.

MarieTH1.jpg

Ông Trần Ninh Đông chia sẻ thông tin tại buổi tập huấn.

Bên cạnh những thông tin về định hướng, chính sách cốt lõi và khung pháp lý thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2025 – 2030, ông Trần Ninh Đông còn chia sẻ về tư duy tiếp cận vấn đề, hình thành và thiết kế ý tưởng, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo trong ngành giáo dục, hình thành và lan tỏa văn hóa đổi mới sáng tạo bền vững. Từ đó, giáo viên có thể chủ động tìm kiếm những phương thức mới, hiệu quả hơn để nâng cao chất lượng chuyên môn, quản lý và các hoạt động giáo dục tại nhà trường. Ngoài ra, ông Trần Ninh Đông còn thông tin về điều kiện để được công nhận sáng kiến ở cấp cơ sở, như có tính mới, đã triển khai thực tế hoặc áp dụng thử thành công, mang lại lợi ích thiết thực trong công tác chuyên môn – nghiệp vụ…

MarieTH2.jpg

Gần 200 giáo viên, nhân viên nhà trường đã tham dự tập huấn.

Buổi tập huấn chuyên môn đã khơi dậy tinh thần chủ động, sáng tạo và không ngừng đổi mới, động viên đội ngũ giáo viên, nhân viên của trường THPT Marie Curie tiếp tục phát huy năng lực chuyên môn, mạnh dạn đề xuất các giải pháp mới và biến những ý tưởng xuất phát từ thực tiễn thành những sáng kiến thiết thực, qua đó góp phần nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục và đáp ứng yêu cầu đổi mới.

Hoàng Kim

Ngày 25/8/2026, Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh tổ chức Hội nghị "Thúc đẩy hoạt động phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thông qua việc sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố".

Hội nghị nhằm cập nhật những quy định mới, giới thiệu Cẩm nang hướng dẫn sử dụng Quỹ cho doanh nghiệp, trao đổi, giải đáp về những vấn đề phát sinh trong quá trình trích, quản lý và sử dụng Quỹ.

Hnquykhcndnh2ok.JPG

Toàn cảnh hội nghị

Đưa nguồn lực Quỹ vào những bài toán đổi mới thực tế

Phát biểu tại hội nghị, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Hữu Yên nhấn mạnh, trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng tác động trực tiếp đến năng suất và năng lực cạnh tranh, nguồn lực tài chính dành cho nghiên cứu, phát triển và đổi mới là một trong những điều kiện quan trọng để doanh nghiệp chuyển hóa ý tưởng thành sản phẩm, công nghệ và các dự án cụ thể.

Hnquykhcndnh1sYenok.JPG

Ông Nguyễn Hữu Yên, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh, phát biểu tại hội nghị

Theo ông, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp được hình thành nhằm tạo sự chủ động cho doanh nghiệp trong bố trí nguồn lực cho nghiên cứu và phát triển. Tuy nhiên, điều quan trọng không chỉ là trích lập được bao nhiêu mà là nguồn Quỹ phải được sử dụng đúng quy định, thuận lợi, hiệu quả và gắn với nhu cầu đổi mới thực tế của doanh nghiệp. Mục tiêu đặt ra là biến nguồn quỹ thành nguồn lực có thể sử dụng được, thay vì chỉ tồn tại như một cơ chế tài chính trên sổ sách.

Hnquykhcndnh3.JPG

Đại biểu dự hội nghị

Thực tế triển khai cho thấy dư địa sử dụng nguồn lực này còn rất lớn. Đến nay, TP. Hồ Chí Minh ghi nhận 271 doanh nghiệp đã thành lập, trích lập và sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ, với tổng số tiền trích lập lũy kế 8.924,45 tỷ đồng. Tuy nhiên, số tiền đã chi sử dụng mới đạt khoảng 3.016,53 tỷ đồng, tương đương 33,8% số tiền trích Quỹ. Có 23 doanh nghiệp, chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước, không sử dụng hết Quỹ trong thời hạn 5 năm và đã thực hiện thủ tục điều chuyển về Quỹ phát triển khoa học và công nghệ Thành phố với tổng kinh phí khoảng 110 tỷ đồng. Những con số này đặt ra yêu cầu chuyển trọng tâm từ câu chuyện "trích lập bao nhiêu" sang "sử dụng nguồn lực cho năng lực công nghệ nào và tạo ra kết quả gì".

Mở rộng không gian để doanh nghiệp chủ động đổi mới

Tại hội nghị, bà Huỳnh Lưu Thanh Giang, Phó Trưởng phòng Quản lý Công nghệ, Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh, giới thiệu những điểm mới của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 cùng các quy định liên quan đến việc thành lập, trích lập và sử dụng Quỹ.

Hnquykhcndnh6ok.JPG

Bà Huỳnh Lưu Thanh Giang, Phó Trưởng phòng Quản lý Công nghệ, (Sở Khoa học và Công nghệ) chia sẻ, giải đáp thông tin tại hội nghị 

Theo đó, khung pháp lý mới mở rộng hơn không gian để doanh nghiệp chủ động bố trí nguồn lực cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Mức trích lập tối đa được nâng lên 20% thu nhập tính thuế; đối tượng trích lập được mở rộng; Quỹ có thể tiếp nhận các nguồn đóng góp, tài trợ hợp pháp và phần kinh phí hình thành từ các nguồn lực hợp pháp khác ngoài ngân sách được mở rộng thời gian sử dụng theo quy định mới.

Đáng chú ý, Quỹ được sử dụng cho 6 nhóm nhiệm vụ, gồm nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo; hỗ trợ năng lực đổi mới công nghệ; đầu tư hoặc cùng đầu tư vào dự án khởi nghiệp sáng tạo theo quy định; nghiên cứu khoa học và công nghệ ở nước ngoài hoặc thuê đối tác nước ngoài thực hiện nghiên cứu; thực hiện các dự án trọng điểm, phát triển công nghệ chiến lược đối với doanh nghiệp nhà nước; và hoạt động chuyển đổi số của doanh nghiệp.

Hnquykhcndnh4.JPG

Đại diện doanh nghiệp đặt câu hỏi thảo luận tại hội nghị

Từ ngày 1/1/2026, doanh nghiệp có thể sử dụng Quỹ cho các hoạt động chuyển đổi số như xây dựng kho dữ liệu, số hóa quy trình, phát triển hệ thống tự động hóa, qua đó mở thêm một kênh nguồn lực để doanh nghiệp đầu tư cho năng lực số và nâng cao hiệu quả quản trị, sản xuất.

Sở Khoa học và Công nghệ đã xây dựng Cẩm nang hướng dẫn thành lập, trích lập và sử dụng Quỹ nhằm giúp doanh nghiệp, tổ chức và đơn vị sự nghiệp tiếp cận các quy định mới thuận lợi hơn. Theo hướng dẫn, doanh nghiệp được tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm thông qua việc xây dựng Quy chế chi tiêu sử dụng Quỹ nội bộ, quy định rõ trình tự, hồ sơ phê duyệt, nghiệm thu và lưu trữ hồ sơ.

Nhà nước kiến tạo hệ sinh thái, doanh nghiệp làm trung tâm

Theo ông Nguyễn Minh Huấn, Trưởng phòng Quản lý Công nghệ, Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh, việc khai thác hiệu quả Quỹ cần được đặt trong tổng thể hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo mà doanh nghiệp là trung tâm. Thành phố đang từng bước chuyển từ cách tiếp cận thiên về “danh mục công nghệ” sang xác định bài toán sản phẩm và nhu cầu thực tế. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, kết nối và đồng hành cùng doanh nghiệp nghiên cứu, phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược như thiết bị mạng viễn thông 5G, công nghệ sinh học, vật liệu mới.

Hnquykhcndnh7ok.JPG

Ông Nguyễn Minh Huấn, Trưởng phòng Quản lý Công nghệ (Sở Khoa học và Công nghệ) trao đổi, chia sẻ thông tin tại hội nghị 

Thành phố cũng chuẩn bị đầu tư các hạ tầng công nghệ dùng chung như kho dữ liệu lớn, hạ tầng tính toán phục vụ trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn và dữ liệu lớn. Đây là những hạ tầng có chi phí đầu tư lớn, vượt quá khả năng triển khai riêng lẻ của nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việc hình thành hạ tầng dùng chung được kỳ vọng góp phần giảm chi phí đầu vào và tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận, thử nghiệm và làm chủ công nghệ.

Ở khâu kết nối thị trường, Sàn giao dịch công nghệ Techport.vn phiên bản mới đang được vận hành theo hướng chuyển từ cung cấp thông tin sang giao dịch trực tuyến chuyên sâu. Trong 6 tháng đầu năm, Sàn đã kết nối gần 50 hợp đồng chuyển giao công nghệ với tổng giá trị giao dịch trên 30 tỷ đồng, tập trung vào các lĩnh vực AI, robot và tự động hóa.

Tại hội nghị, nhiều câu hỏi được đặt ra từ những tình huống phát sinh trong quá trình quản lý, sử dụng quỹ, cho thấy nhu cầu hướng dẫn không chỉ dừng ở quy định mà cần đi sâu vào từng trường hợp cụ thể.

Hnquykhcndnh5.JPG

Hội nghị dành nhiều thời gian thảo luận, giải đáp thông tin cho doanh nghiệp 

Đại diện PV OIL trao đổi về việc chuyển giao tài sản hình thành từ quỹ sang hoạt động sản xuất kinh doanh và cách chứng minh đóng góp của khoa học và công nghệ vào doanh thu. Đại diện SAGRI đặt vấn đề về khái niệm thương mại hóa sản phẩm và cơ chế quản trị quỹ. Trong khi đó, doanh nghiệp cũng quan tâm đến việc sử dụng quỹ cho các dự án chuyển đổi số, nhất là những dự án phục vụ trực tiếp cho quản trị và sản xuất.

Các vấn đề được Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh trực tiếp giải đáp, đồng thời ghi nhận những nội dung cần phối hợp liên ngành. Đối với các vướng mắc vượt thẩm quyền, Sở cho biết sẽ chủ trì kết nối với các cơ quan liên quan để cùng doanh nghiệp tháo gỡ.

Theo thông tin tại hội nghị, Kế hoạch số 98/KH-UBND ngày 22/9/2025 của UBND Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 50% tổng kinh phí Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp được sử dụng hiệu quả cho hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đến năm 2045 tỷ lệ này đạt trên 70%. Trên cơ sở đó, Sở Khoa học và Công nghệ kỳ vọng nâng tỷ lệ sử dụng thực tế từ mức 33,8% hiện nay lên 50%, thậm chí 60-65% trong giai đoạn tới.

Lam Vân

Clip hoạt động


Bản quyền © 2018 Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Thiết kế và phát triển bởi HCMGIS
Tổng số truy cập: 11537424