SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Chuỗi sự kiện phát huy mạnh mẽ vai trò định hướng, dẫn dắt, kết nối, hợp tác và chia sẻ trong hoạt động đổi mới sáng tạo.

Năm nay, Bộ KH&CN phối hợp UBND TP.HCM tổ chức chuỗi sự kiện Ngày hội Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Quốc gia TECHFEST VIỆT NAM 2021 kết hợp cùng Tuần lễ Đổi mới sáng tạo và Khởi nghiệp TP.HCM (WHISE 2021) với chủ đề “Đổi mới sáng tạo - Kiến tạo tương lai”. Dự kiến chuỗi sự kiện có trên 50 sự kiện được nhiều đơn vị như Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học và công nghệ (NATEC), Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài (Ủy ban NN về NVNONN), Sở KH&CN TP.HCM, Quỹ Khởi nghiệp Doanh nghiệp Khoa học Công nghệ Việt Nam (SVF), Văn phòng Đề án 844, Trung tâm Hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo Quốc gia (NSSC)… tổ chức xuyên suốt từ tháng 9-12/2021.

Trong TECHFEST – WHISE 2021, Tuần lễ Đổi mới sáng tạo và Khởi nghiệp TP.HCM (WHISE) là một sự kiện thường niên của về hoạt động đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp của cộng đồng khởi nghiệp sáng tạo tại Thành phố Hồ Chí Minh. WHISE cũng là cơ hội đặc biệt để cộng đồng khởi nghiệp cùng tổng kết hoạt động đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, đồng thời kết nối hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của Thành phố với các tỉnh lân cận nhằm góp phần xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo vùng và quốc gia. Bên cạnh đó, WHISE còn giới thiệu và giao lưu những mô hình khởi nghiệp thành công đến cộng đồng khởi nghiệp trong nước và quốc tế, đồng thời tôn vinh các tập thể, cá nhân có đóng góp tích cực vào hoạt động đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp của TP.HCM và cả nước.

Mang chủ đề Phát triển các giải pháp công nghệ và đổi mới sáng tạo hỗ trợ cộng đồng ứng phó đại dịch Covid-19, WHISE 2021 kỳ vọng chung tay cùng chính quyền Thành phố hỗ trợ người dân khôi phục cuộc sống bình thường, giúp doanh nghiệp tổ chức lại sản xuất sau dịch Covid-19. Toàn bộ sự kiện sẽ được tổ chức chính theo hình thức trực tuyến (online), với sự đồng tham gia và phối hợp của nhiều các đơn vị/tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo TP.HCM.

Ông Nguyễn Việt Dũng (Giám đốc Sở KH&CN TP.HCM) cho biết: “Chúng tôi kỳ vọng chuỗi sự kiện TECHFEST – WHISE 2021 không chỉ mang đến thông điệp về vai trò của nhà nước về kiến tạo, giữ lửa cho cộng đồng đổi mới sáng tạo trong những lúc khó khăn như hiện nay, mà còn phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò định hướng, dẫn dắt, kết nối, hợp tác và chia sẻ trong hoạt động đổi mới sáng tạo của Việt Nam”.

whise2019

WHISE năm 2019

WHISE 2021 có nhiều hoạt động đáng chú ý như:

+ Tổng kết các cuộc thi về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp: Bách Khoa Entrepreneurship and Innovation 2021; ý tưởng sinh viên với khởi nghiệp sáng tạo; Đổi mới sáng tạo trong sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; cuộc thi Ứng dụng AI; các cuộc thi STEM & STEAM cho học sinh gồm: ROBOT CHALLENGE 2021 - SROC2021 - Cấp Tiểu học và Cấp Trung học; Cuộc thi Lập trình & Robotics và Triển lãm sản phẩm STEM, Robotics

+ Chuỗi hoạt động của Thành đoàn TP.HCM tại WHISE 2021: Liên hoan Tuổi trẻ sáng tạo năm 2021; Cuộc thi Rung chuông vàng chủ đề Thanh niên thành phố và Đổi mới sáng tạo trong công tác hỗ trợ chống dịch cho Thành phố.

+ Các hoạt động hỗ trợ kết nối hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo: Hội thảo Chuyển đổi số; Sự kiện Gọi vốn đầu tư CiC 2021; Ứng dụng AI và IoT cho các dự án khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực y tế, Ký kết hợp tác với Vinacapital cho các dự án của Chương trình Speedup; Tổng kết Chương trình Startup Wheel 2021; Tổng kết và trao giải Giải thưởng Đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp TPHCM năm 2021 (I-STAR 2021).

Đặc biệt trong năm nay, sẽ diễn ra sự kiện Tổng kết và trao giải Chương trình “Tìm kiếm và kết nối các giải pháp đổi mới sáng tạo ứng phó dịch COVID-19 tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021 (HIS – COVID 2021)”. Được Sở KH&CN TP.HCM phát động từ tháng 7/2021 nhằm tìm kiếm những giải pháp đổi mới sáng tạo hỗ trợ cho Thành phố chống dịch, HIS – COVID 2021 đã thu hút 99 giải pháp đổi mới sáng tạo đăng ký tham gia. Sở KH&CN TP.HCM cũng đã lựa chọn 10 giải pháp xuất sắc nhất để giới thiệu cho cộng đồng và chính quyền Thành phố đưa vào triển khai, ứng dụng.

TECHFEST – WHISE 2021 hướng tới thúc đẩy giải pháp công nghệ của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, nền tảng đổi mới sáng tạo “mở” trong giải quyết vấn đề của xã hội trong bối cảnh Covid-19 và phục hồi nền kinh tế hậu Covid-19. Đây thời điểm startup cần nắm bắt cơ hội mới vươn lên, để “kiến tạo tương lai” thông qua sáng kiến công nghệ. Đồng thời, lấy sức mạnh trí tuệ của con người, sự đổi mới sáng tạo làm trung tâm phát huy kết hợp với sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Chuỗi sự kiện năm nay được kỳ vọng sẽ là một bệ đỡ vững chắc cho doanh nghiệp khởi nghiệp và doanh nghiệp đổi mới sáng tạo phát triển trong nước, vươn tầm thế giới.

Hoàng Kim (CESTI)

Dựa trên kinh nghiệm từ chuỗi công viên phần mềm Quang Trung, nhóm nghiên cứu trường Đại học Quốc tế (ĐHQG TP.HCM) đã đề xuất các giải pháp tối ưu nhằm xây dựng, quản trị hiệu quả các khu CNTT tập trung trên địa bàn TP và các tỉnh lân cận. 

Trong những năm qua, TP.HCM là địa phương đi đầu trong cả nước về hình thành và phát triển các Khu công nghệ thông tin (khu CNTT) tập trung, nổi bật có thể kể đến như Công viên phần mềm (CVPM) Quang Trung (QTSC), Khu công nghệ cao TP.HCM (SHTP), khu công nghệ phần mềm Đại học Quốc gia TP.HCM… và đạt được những thành quả đáng khích lệ. Đáng chú ý, TP.HCM cũng là địa phương duy nhất của cả nước thí điểm thành lập và vận hành Chuỗi CVPM Quang Trung.

Phát triển các khu CNTT tập trung được Đảng và Nhà nước xác định là một trong những định hướng trọng tâm phát triển của ngành công nghiệp CNTT, tạo nên động lực quan trọng để thực hiện công cuộc đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp trong giai đoạn tới.

Mặc dù đạt được những thành công nhất định, song sự phát triển các khu CNTT tập trung tại Việt Nam nói chung, TP.HCM nói riêng, vẫn còn nhiều hạn chế, dẫn đến tình trạng chưa thể hiện được vai trò tương xứng là trung tâm, động lực thúc đẩy phát triển mạnh mẽ của ngành CNTT.

Cụ thể, các khu CNTT tập trung chưa hình thành được các khu trọng điểm ngang tầm khu vực và quốc tế để thu hút đầu tư công nghệ cao từ nước ngoài cũng như động lực để thúc đẩy phát triển các khu CNTT tập trung khác trên cả nước; Chưa có sự đồng bộ trong việc phát triển khu CNTT tập trung để tạo thành chuỗi các khu, hướng tới việc tận dụng tối đa lợi thế cạnh tranh của các địa phương; Thiếu nguồn vốn đầu tư phát triển hạ tầng khu cũng như hỗ trợ việc ươm tạo các doanh nghiệp trong khu CNTT tập trung.

cntttt

Công viên phần mềm Quang Trung nhìn từ trên cao.

Chính vì vậy, Đại học Quốc tế (ĐHQG TPHCM) đã nghiên cứu, hoàn thiện “Tài liệu hướng dẫn triển khai và quản lý Khu công nghệ thông tin tập trung” nhằm mục đích đề xuất mô hình tổ chức, hoạt động cùng các quy trình quản lý, quản trị, vận hành Khu CNTT tập trung một cách khoa học, hiệu quả. Đây cũng chính là nhiệm vụ khoa học được Sở KH&CN TP.HCM nghiệm thu hồi trung tuần tháng 8/2021.

PGS.TS Trần Tiến Khoa, chủ nhiệm đề tài cho biết, bộ tài liệu được xây dựng dựa trên kinh nghiệm thực tiễn từ quá trình quản lý thành công của Chuỗi CVPM Quang Trung, qua đó cung cấp tài liệu hướng dẫn triển khai, quản trị và các chỉ tiêu đánh giá hoạt động cho các khu CNTT tập trung. Đồng thời, giúp thúc đẩy sự phát triển của các khu CVPM, khu công nghệ khác, tạo tiền đề cho việc hình thành phát triển Khu CNTT tập trung tại TP.HCM và các tỉnh thành lân cận.

Sau quá trình nghiên cứu, nhóm đã hoàn thiện nhiệm vụ khoa học với sản phẩm là tài liệu hướng dẫn triển khai và quản lý khu công nghệ thông tin tập trung, bao gồm 21 quy trình vận hành nội khu (chương trình đào tạo chi tiết cho từng đối tượng) và 2 chương trình đào tạo.

Định hướng chiến lược phát triển

Theo PGS.TS Trần Tiến Khoa, đối tượng mục tiêu của nghiên cứu này các nhà quản lý cấp C và trưởng nhóm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong ngành CNTT tại CVPM Quang Trung và Khu công nghệ cao TP.HCM.

Đại diện nhóm nghiên cứu cho biết, lý do chọn các cấp quản lý làm đối tượng nghiên cứu là vì họ đã đối mặt với một số vấn đề về quản lý, có đủ kinh nghiệm thực tế và đủ thẩm quyền để trả lời các câu hỏi về lãnh đạo, định hướng kinh doanh, năng lực năng động, lợi thế cạnh tranh và các vấn đề cấp quản lý tổ chức khác. Mặt khác, những người được hỏi này cũng có thể đưa ra những đánh giá khách quan để phản ánh phong cách lãnh đạo của cấp trên mà không làm sai lệch kết quả nghiên cứu.

cntttt1

Quá trình cải tiến liên tục: Các yêu cầu chính

Để thu thập dữ liệu từ những người trả lời được chọn, một bảng câu hỏi với cấu trúc được thiết kế và đánh giá bởi hội đồng chuyên gia gồm các nhà quản lý CNTT, để đưa ra những điều chỉnh ban đầu phù hợp với thực tiễn cơ bản của ngành này. Sau đó, một số trưởng nhóm hoặc quản lý cấp C của các doanh nghiệp vừa và nhỏ CNTT được chọn để trả lời bảng câu hỏi đã sửa đổi.

Sau thử nghiệm và điều chỉnh, khảo sát trực tuyến được gửi đến hơn 700 email của những người trả lời tiềm năng từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các email này được cung cấp bởi bộ phận dịch vụ khách hàng của CVPM Quang Trung.

Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng thực hiện một cuộc phỏng vấn chuyên sâu với 15 chuyên gia và 4 nhà quản lý công ty có quy mô lớn. Họ là những nhà quản lý cao cấp, CEO, giám đốc và trưởng nhóm có kiến thức, thông tin và kinh nghiệm trong lĩnh vực AI, CNTT, phần mềm… Công ty của họ không chỉ hoạt động trong ngành CNTT mà còn đặt trụ sở trong khu vực CVPM Quang Trung.

Từ kết quả thu về của khảo sát và các ý kiến của các chuyên gia, nhóm nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm phát triển mô hình Khu CNTT tập trung.

Cụ thể, trước hết các Khu CNTT tập trung cần xây dựng bộ tiêu chí cụ thể lựa chọn các thành viên gia nhập nhằm hình thành một hệ thống liên kết mạnh mẽ, đóng vai trò thúc đẩy khoa học và công nghệ ở các vùng kinh tế trọng điểm, từ đó tạo động lực lan tỏa cho các khu vực lân cận.

Không những vậy, cần tăng cường quảng bá mô hình Khu CNTT tập trung bằng nhiều hành động cụ thể với công cụ quảng bá phù hợp (trực tuyến kết hợp ngoại tuyến), nhằm thu hút sự quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp cũng như các thành viên tiềm năng gia nhập chuỗi trong tương lai.

cntttt2

Mô hình phát triển bền vững

Theo PGS.TS Trần Tiến Khoa, để xây dựng một mô hình Khu CNTT tập trung vững mạnh cũng cần có sự tăng cường liên kết với các trường đại học, trung tâm đào tạo tại địa phương, đồng thời xây dựng các chương trình đào tạo, nâng cao chuẩn đầu ra, cải thiện số lượng và chất lượng nguồn nhân lực cho ngành CNTT. Khuyến khích việc ứng dụng CNTT, ươm mầm cho các doanh nghiệp khởi nghiệp tại địa phương của mỗi thành viên trong chuỗi thông qua việc tiếp cận cơ sở hạ tầng chuỗi và tiếp cận nguồn vốn.

Khu CNTT tập trung nên tổ chức thường xuyên các buổi hội thảo chuyên đề, trao đổi định kỳ nhằm ghi nhận ý kiến và tìm giải pháp khắc phục. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh đào tạo kỹ năng vận hành, quản lý, chia sẻ kinh nghiệm cho các thành viên gia nhập chuỗi. Cung cấp đội ngũ chuyên gia và nguồn nhân lực chất lượng cao hỗ trợ các thành viên mới trong giai đoạn đầu và thường xuyên trao đổi các đoàn đến học tập kinh nghiệm.

Ngoài ra, các thành viên mới nên tận dụng tối đa kinh nghiệm phát triển của CVPM Quang Trung, xây dựng Khu CNTT tập trung hoàn chỉnh, cần quan tâm đến địa điểm phát triển có hệ thống cơ sở hạ tầng kết nối, nên quy hoạch phát triển có tầm nhìn chiến lược dài hạn để tận dụng tối đa lợi ích về quy mô.

Nhóm nghiên cứu cho biết, từ kết quả đề xuất của mô hình trên phát triển, nhóm cũng chuẩn hóa các quy trình triển khai quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển Khu CNTT tập trung sắp tới tại các địa phương và trở thành thành viên chính thức của chuỗi CVPM.

Bên cạnh đó, sản phẩm của đề tài cũng giúp cho Ban quản lý Khu CNTT tập trung tiếp cận được nhiều kiến thức ngoài quản trị còn hướng tới tăng trưởng, phát triển bền vừng và nắm kịp xu hướng. 

Sản phẩm của đề tài hiện đã và đang được ứng dụng ngay tại CVPM Quang Trung (TPHCM), đồng thời giúp Hội đồng Quản lý CVPM Quang Trung triển khai cho các thành viên trong chuỗi CVPM tại các địa phương đang và dự kiến thành lập khu CNTT tập trung. Sản phẩm của đề tài chủ yếu phục vụ cho Ban quản lý hay các doanh nghiệp được giao nhiệm vụ triển khai quản lý khu CNTT tập trung tại các địa phương. 

Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng giúp gia tăng hình ảnh thương hiệu CVPM Quang Trung thông qua công bố khoa học trên tạp chí có uy tín trên thế giới.

Thông qua quá trình thủy phân bằng enzyme, một nhóm chuyên gia tại Viện Hàn lâm khoa học công nghệ Việt Nam đã thu hồi thành công dịch protein, đồng thời hoàn thiện quy trình tổng hợp bột HA từ bã rắn thu được, qua đó giúp tạo ra hướng tiếp cận mới cho ngành vật liệu y sinh 

Thực tế cho thấy, với lợi thế đường bờ biển trải dài mang đến nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, Việt Nam có rất nhiều nhà máy chế biến các loại thủy hải sản, tuy nhiên phụ phẩm từ những cơ sở này như xương cá thường chỉ được "bán xổ" dưới dạng sản phẩm có giá trị thấp hoặc sử dụng làm thức ăn chăn nuôi với chuỗi giá trị kinh tế thấp.

Trong khi đó, khoa học đã chứng minh rằng, xương cá chứa hàm lượng canxi rất cao, cùng với đó là protein có giá trị và các axit amin thiết yếu. Do vậy, phụ phẩm xương cá rất giàu tiềm năng trong việc tạo ra các sản phẩm có giá trị là nano canxi và protein, hoàn toàn thích hợp để bổ sung vào nhiều loại thực phẩm. Trên thế giới, cũng đã có nhiều công trình khoa học nhận định xương cá là nguồn canxi từ thiên nhiên có tính ứng dụng cao, đặc biệt đây là nguồn thu nhận hydroxyapatite (HA) vốn là loại vật liệu được sử dụng nhiều trong ngành y sinh, cụ thể là cấy ghép xương nhân tạo, hoặc bào chế thuốc chữa trị bệnh thoái hóa xương.

Ý tưởng nghiên cứu đột phá

Tại Việt Nam và trên thế giới, việc thu hồi protein từ phụ phẩm xương cá không phải là quá mới, dẫu thế các nghiên cứu trước đó đều chỉ ra rằng hầu hết quá trình tổng hợp hydroxyapatite từ phụ phẩm xương cá hiện nay đều trải qua các công đoạn xử lý nguyên liệu ban đầu như nấu chín, sau đó đem nung nhằm tách hết thịt và mô còn sót lại trên bề mặt và các chất hữu cơ có trong xương, hoặc xử lý NaOH và H2O2, và các công đoạn này rõ ràng đã làm tăng chi phí cho quá trình sản xuất bột hydroxyapatite (HA) khiến việc ứng dụng triển khai vào thực tiễn gặp nhiều khó khăn.

Do đó, nhóm nghiên cứu tại Viện Công nghệ hóa học (Viện Hàn lâm khoa học công nghệ Việt Nam) đã mạnh dạn đề xuất nhiệm vụ khoa học công nghệ với "mục tiêu kép", đó là kết hợp quá trình thủy phân trích protein có trong phụ phẩm xương cá với quá trình tổng hợp hydroxyapatite (HA) từ bã rắn sau quá trình thủy phân, tất cả nhằm tiết kiệm tối đa chi phí cho quá trình sản xuất hai dòng sản phẩm có giá trị cao là protein và bột HA.

nanoca

Sản phẩm của đề tài.

Đồng thời, để hướng đến khả năng sản xuất trên quy mô lớn và đại trà, đồng thời đảm bảo tối đa các tiêu chuẩn về an toàn - vệ sinh thực phẩm, nhóm nghiên cứu đã chọn giải pháp xây dựng quy trình thủy phân protein bằng enzyme bởi hiện nay protein thủy phân từ phương pháp enzyme đã và đang được ứng trong nhiều lĩnh vực như phụ gia thực phẩm, thực phẩm chức năng, dược phẩm và mỹ phẩm.

"Protein thủy phân thu được bằng phương pháp enzyme là lựa chọn lý tưởng để sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, tùy theo việc xử lý sản phẩm, ví dụ như bổ sung trong thực phẩm, thực phẩm chức năng, thậm chí là y sinh", TS. Nguyễn Trí nhấn mạnh. Tuy nhiên, chi phí cao của enzyme vẫn là một trong những trở ngại khiến việc sản xuất ở quy mô công nghiệp gặp khó khăn về kinh tế. Do đó, nghiên cứu sử dụng enzyme để thủy phân protein từ phụ phẩm cá có giá trị thấp và đồng thời sử dụng chất thải rắn của quá trình thủy phân nhằm tạo ra thêm sản phẩm bột canxi hydroxyapatite (HA) ở kích thước nano có giá trị nhằm giảm giá thành sản phẩm, hướng đến sản xuất quy mô công nghiệp là rất có ý nghĩa.

nanoca1

Quy trình tổng hợp protein từ xương cá được hoàn thiện, và thử nghiệm thành công.

Sau thời gian nghiên cứu, nhóm thực hiện đã hoàn thiện quy trình xử lý, thủy phân 3 loại xương cá (hồi, chẽm, ngừ) bằng enzyme để sản xuất chế phẩm protein thủy phân hòa tan trong nước định hướng ứng dụng trong thực phẩm chức năng. Đồng thời, xây dựng quy trình sử dụng chất thải của quá trình thủy phân để sản xuất bột HA có kích thước nano, có độ tinh sạch và tính tương thích sinh học cao bằng phương pháp thủy nhiệt.

Các quy trình này cũng đã được đưa vào thử nghiệm ở quy mô pilot 30 kg xương/mẻ để hoàn thiện quy trình sản xuất bột nano canxi hydroxyapatite và protein thủy phân bằng enzyme.

nanoca2

Quy trình tổng hợp bột nano canxi hydroxyapatite là "hướng đi mang tính đột phát" của đề tài, giúp tiết kiệm và tận dụng nguồn bả rắn mà nhiều nghiên cứu trước thường không khai thác.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu suất thu hồi protein đối với 3 loại xương cá hồi, cá chẽm và cá ngừ đạt từ 60 đến 83%; còn hiệu suất tổng hợp bộ HA đạt từ 44 đến 56% tùy vào từng loại xương (so với lượng bã rắn ban đầu).

Đáng chú ý, sản phẩm bột HA kích thước nano thu được có độ tương thích sinh học cao và có khả năng bổ sung canxi cho răng. Các thử nghiệm đã nhóm nghiên cứu thực hiện, kiểm chứng với số liệu thống kê minh bạch, khoa học.

Ngoài ra, các sản phẩm của công trình nghiên cứu là protein (dạng bột và paste), bột HA đều được kiểm nghiệm tại Viện Pasteur TPHCM, và nhận được đánh giá đạt chất lượng ở các chỉ tiêu về hóa lý, vi sinh.

Có thể khẳng định rằng, việc nghiên cứu thành công và triển khai hiệu quả kết quả nghiên cứu nói trên chắc chắn sẽ mang lại những thành công trong việc tận dụng xương cá để đồng thời thu được sản phẩm HA và chế phẩm protein thủy phân.

Cũng theo lời TS. Nguyễn Trí, quy trình sản xuất được hiệu chỉnh tốt nhất các thông số và vận hành đơn giản, hiệu quả, sạch và xanh. Kết quả nghiên cứu giúp cho các đơn vị sản xuất chế biến thủy hải sản không những nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng hiệu quả của sản phẩm và góp phần vào quá trình phát triển bền vững của xã hội, phù hợp với các tiêu chí của chính phủ về nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất phải đi đôi với chính sách bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Xét về hiệu quả kinh tế xã hội, đại diện nhóm nghiên cứu khẳng định, đây là công nghệ thu hồi và tận dụng tối đa phụ phẩm xương cá nhằm tạo ra các sản phẩm có giá trị cao hơn hẳn, từ đó giúp cho giá trị của quy trình chế biến thủy hải sản tăng thêm giá trị và có nhiều cơ hội cạnh tranh hơn trên thị trường.

Bà Đặng Thị Phương Ninh, Giám đốc công ty phát triển kinh tế Duyên Hải (COFIDEC) cho biết, đơn vị này hiện bán xương cá phế phẩm ở mức giá 4.000 đồng/kg cho nhiều nơi để làm nguyên liệu đầu vào cho sản xuất nước mắm, nước tương hay sản xuất thức ăn chăn nuôi.

"Qua việc nhóm nghiên cứu tại Viện Công nghệ hóa học hoàn thiện quy trình tổng hợp 2 loại hợp chất có giá trị kinh tế và ứng dụng rất cao, là dịch protein rất hữu ích ngành sản xuất thực phẩm và bột HA rất cần thiết cho lĩnh vực vật liệu y sinh, có thể tự tin để khẳng định rằng thành công của công trình nghiên cứu đã mở ra một hướng tiếp cận mới cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực thực phẩm, y học, đồng thời giúp nâng cao giá trị của nguồn phụ liệu loại ra từ các nhà máy chế biến thủy hải sản, trong đó có COFIDEC", bà Ninh chia sẻ, "Trong thời gian tới, nếu các đơn vị nhận chuyển giao công nghệ để triển khai thực tế hai quy trình này có nhu cầu thì phía COFIDEC cam kết cung ứng nguồn nguyên liệu đầu vào ở mức sản lượng tốt nhất, và mức giá thành hợp lý nhất".

Hoạt động quản lý, nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ (KH&CN) giai đoạn 2016-2020 được đánh giá là phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng. Nhiều kết quả nổi bật đã được ghi nhận trong việc đặt hàng nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng công nghệ để giải quyết các vấn đề thực tiễn, trọng tâm là 4 ngành công nghiệp chủ lực, 9 ngành dịch vụ, ngành công nghiệp hỗ trợ, 7 chương trình đột phá và quản lý phát triển đô thị của TP.HCM.

Theo báo cáo của Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM, trong giai đoạn 2016 - 2020, Sở đã tổ chức nghiệm thu 470 nhiệm vụ nghiên cứu KH&CN. Trong đó có 98,8% nhiệm vụ được ứng dụng vào thực tế (55,5% ứng dụng trực tiếp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, hoạt động quản lý cho các sở ngành, hoạt động chăm sóc sức khỏe người dân, 43,3% ứng dụng gián tiếp vào giảng dạy, tài liệu tham khảo…), tăng 2,5 lần so với giai đoạn 2011 - 2015.

Trong số các nhiệm vụ nghiên cứu KH&CN được ứng dụng, Chương trình Công nghệ Công nghiệp - Tự động hóa, Chương trình Điện, Điện tử và Công nghệ thông tin, Y tế, An ninh Quốc phòng là những chương trình có tỷ lệ ứng dụng cao nhất (trên 65%). Đối với các nhiệm vụ nghiên cứu KH&CN nghiệm thu, có 157 nhiệm vụ hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp (chiếm 33,4%), các nhiệm vụ này đều mang lại hiệu quả trong hoạt động phát triển kinh doanh của doanh nghiệp.

Báo cáo của Sở KH&CN cũng cho thấy, giai đoạn 2016 - 2020, hoạt động KH&CN Thành phố luôn bám sát các nghị quyết, quyết định của các cơ quan trung ương và đặc biệt là Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố nhằm tập trung nguồn lực đầu tư, phục vụ trực tiếp cho phát triển kinh tế - xã hội, trọng tâm là chương trình phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực, chương trình phát triển sản phẩm chủ lực ngành nông nghiệp, hỗ trợ các ngành dịch vụ và các chương trình đột phá.

Một số kết quả nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ nổi bật của giai đoạn này như sau:

+ Trong lĩnh vực cơ khí chế tạo và tự động hoá, các nghiên cứu đã góp phần thiết kế, chế tạo thành công nhiều chủng loại sản phẩm, thiết bị cơ khí đáp ứng yêu cầu kinh tế - xã hội, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thiết bị, cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm. Các nghiên cứu tập trung vào giải mã công nghệ chế tạo máy CNC; thiết kế, chế tạo robot; thiết kế, chế tạo hệ thống điều khiển tự động các quá trình sản xuất và công nghệ gia công; nghiên cứu thiết kế thiết bị, công nghệ phục vụ thu hoạch, bảo quản và chế biến nông sản;…

Có thể kể đến các sản phẩm như Chuỗi khuôn dập liên hoàn sản phẩm từ kim loại tấm. Hiện nay sản phẩm được chuyển giao, ứng dụng 4 bộ khuôn liên hoàn cho 2 doanh nghiệp (Công ty Cổ phần SX-TM-DV Saki và Công ty TNHH Sản xuất Cân Nhơn Hoà), giúp tăng năng suất lao động từ 71,43% đến 321,05%, tiết kiệm lao động từ 75% đến 84,71%, giảm chi phí đầu tư thiết bị từ 2,8% đến 51,52%, giảm điện năng tiêu thụ từ 2,17% đến 74,58%,… Một sản phẩm khác là Hệ thống cấp cán bàn chải tự động với các tính năng mở rộng và đạt độ ổn định cao. Hệ thống này giúp đơn vị ứng dụng thay thế được 135 công nhân (3 ca làm việc), giảm nhân công làm việc trong môi trường độc hại (ô nhiễm tiếng ồn, cường độ công việc cao, rung động lớn và liên tục…). Hiện nay, Công ty TNHH DV Kỹ thuật Thương mại Nhất Tinh sản xuất và bán được 90 máy với giá 720 triệu đồng/máy. Hoặc Hệ thống tự động tạo khoen dây giày phục vụ công nghiệp da giày, giúp đơn vị ứng dụng thay thế được 180 công nhân. Hiện Công ty TNHH DV Kỹ thuật Thương mại Nhất Tinh sản xuất và bán được 30 máy cắt-gập-hàn khoen dây giày tự động với giá 160 triệu đồng/máy. Ngoài ra, Dây chuyền máy vắt – sấy bã sẵn năng suất 1 tấn khô/giờ được chuyển giao ứng dụng thử nghiệm tại Công ty Cổ phần Fococev Bình Phước. Hiệu quả kinh tế mang lại là giá thành bã sắn vắt - sấy khô bằng thiết bị của dự án khi sấy bằng biogas là 1.400 đồng/kg, sấy bằng củi là 1.900 đồng/kg (với giá bã sắn tươi 125 đồng/kg, 8kg tươi/1kg khô), trong khi giá thị trường là 3.600 đồng/kg. Dây chuyền tự động dập nắp nhựa có giá thành bằng 80% - 90% giá sản phẩm nhập khẩu tương đương; Máy ép viên nhiên liệu Pellet BP-600 (bằng 60-70% giá sản phẩm nhập khẩu tương đương của Trung Quốc và Ấn Độ); Hệ thống băng tải đai tự động vận chuyển bao gói, giá thành bằng 50% giá sản phẩm nhập khẩu tương đương;…

Các sản phẩm hỗ trợ quy trình sản xuất có thể kể đến Quy trình sản xuất tinh gọn cho doanh nghiệp may, áp dụng tại Xí nghiệp 123, Công ty Cổ phần may Hữu Nghị. Kết quả nghiên cứu hỗ trợ doanh nghiệp giảm thời gian không tạo ra giá trị gia tăng ước tính xuống còn 4%. Quy trình công nghệ sơ chế, xử lý, đóng gói và bảo quản rau ăn lá sau thu hoạch đã giúp tăng thời gian bảo quản rau củ quả lên gấp 2-3 lần so với phương pháp truyền thống, giảm tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch xuống dưới 2% (biện pháp truyền thống hao hụt 10-15%), nhờ vậy giảm chi phí bảo quản và tăng hiệu quả sản xuất cho người dân.

07HDKHLVNCKH20162020h4.jpg

Sản phẩm thiết bị điện: đề tài Chế tạo dây hợp kim nhôm 6201 dùng để sản xuất cáp điện đã xây dựng được quy trình công nghệ nấu luyện hợp kim nhôm 6201 và sản xuất thử cáp hợp kim nhôm AAAC 7x2,7mm tại nhà máy sản xuất cáp điện. Sản phẩm hóa chất nhựa cao su: công nghệ chế biến mủ cao su thiên nhiên đạt tiêu chuẩn sản xuất lốp ô tô radial. Đây là kết quả của đề tài Nghiên cứu công nghệ chế biến mủ cao su thiên nhiên đạt tiêu chuẩn sản xuất lốp ôtô radial.

Sản phẩm đồ uống: các loại trà thảo mộc (chùm ngây, tía tô, lá vối); quy trình sản xuất sữa đậu nành bổ sung sữa bột nguyên kem và probiotic thay thế sữa cao năng lượng dành cho người bệnh nặng kém dung nạp lactose cần nuôi ăn bằng ống thông (sonde) và sữa đậu nành bổ sung sữa bột nguyên kem và probiotic. Đây được xem là quy trình có giá trị nhân văn trong việc ứng dụng bổ sung dinh dưỡng rộng rãi cho bệnh nhân nặng có thu nhập thấp (giá thành sản phẩm thấp hơn gần 50% so với giá sản phẩm cùng loại trên thị trường).

+ Trong lĩnh vực công nghệ thông tin và điện tử viễn thông, các nghiên cứu hướng đến tạo ra các sản phẩm thông minh phục vụ đề án “Đô thị thông minh” và “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ IV” dựa trên nền tảng công nghệ IoT, Blockchain, khoa học dữ liệu và trí tuệ nhân tạo; an ninh thông tin; công nghiệp vi mạch bán dẫn và cảm biến.

Có thể kể đến Công nghệ thiết kế, chế tạo bộ đèn LED và giải pháp quản lý chiếu sáng thông minh đồng bộ. Sản phẩm đang được triển khai thử nghiệm tại Đại học Quốc gia, Khu Công nghệ cao TP.HCM và định hướng áp dụng rộng rãi trên địa bàn Thành phố, phục vụ cho Đề án xây dựng TP.HCM trở thành đô thị thông minh. Từ kết quả nghiên cứu, Trường Đại học Bách Khoa tiếp tục hợp tác cùng Công ty Điện Quang triển khai dự án sản xuất thử nghiệm, tiến đến việc thương mại hóa và cung cấp sản phẩm ra thị trường. Thiết bị điều khiển tiết giảm năng lượng cho hệ thống chiếu sáng dùng đèn cao áp, đã được triển khai lắp đặt thử nghiệm ở Quận 6, giúp tiết kiệm khoảng 40% tổng năng lượng cho chiếu sáng. Kết quả nghiên cứu là nền tảng cho Công ty TNHH Vilight phát triển và hoàn thiện sản phẩm kinh doanh chiến lược của đơn vị, giúp doanh nghiệp đạt doanh thu khoảng 22 tỷ đồng. Trong năm 2018, trên cơ sở các sản phẩm mang hàm lượng KH&CN cao, Công ty TNHH Vilight đã được Sở KH&CN cấp Giấy chứng nhận Doanh nghiệp KH&CN. Mẫu ki-ốt căn-tin giao dịch thanh toán tự động, hệ thống bán và kiểm soát vé tự động đã được triển khai áp dụng trong trường học, phục vụ giao dịch thanh toán và quản lý cho khu nghỉ dưỡng, bến xe, doanh nghiệp. Đây là kết quả của đề tài Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ và thiết kế, chế tạo hệ thống máy giao dịch thanh toán linh hoạt đa năng. Công nghệ bảo mật hệ thống PACS (Picture Archiving and Communication System) ứng dụng chẩn đoán hình ảnh số và Hệ thống phần mềm khai thác dữ liệu DICOM trên nền Web phục vụ hội chẩn y tế qua thiết bị Mobile và Smart tivi do công ty Cổ phần công nghệ thông minh Ưu Việt (INext) nghiên cứu phát triển, hiện đã được ứng dụng tại nhiều bệnh viện trên địa bàn Thành phố,…

07HDKHLVNCKH20162020h2.jpg

+ Trong lĩnh vực vật liệu mới, nhiều nghiên cứu thành công và triển khai thương mại hóa sản phẩm phục vụ các ngành công nghiệp năng lượng, xây dựng, cơ khí chế tạo máy, điện tử, hóa dược. Một số sản phẩm tiêu biểu như: bột nanolycopen ứng dụng vào sản xuất viên nang chống nắng; keo tản nhiệt từ nền vật liệu carbonnanotube và graphen để ứng dụng trong các thiết bị điện tử; công nghệ MEMS trong chế tạo linh kiện cảm biến áp suất,…

+ Trong lĩnh vực công nghệ sinh học, nghiên cứu phát triển và ứng dụng các công nghệ nền tạo được các quy trình công nghệ, sản phẩm phục vụ các lĩnh vực công nghiệp chế biến, bảo vệ môi trường, đặc biệt nghiên cứu gen trong việc chọn giống cây, giống con chất lượng cao trong lĩnh vực nông nghiệp. Các nghiên cứu phục vụ chương trình giống, cây con chất lượng cao giai đoạn 2016-2025, qua đó đã góp phần thúc đẩy ngành nông nghiệp Thành phố phát triển theo hướng nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng, làm chủ công nghệ sản xuất giống cây, giống con và ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp. Giai đoạn 2016-2020, các nghiên cứu về nhân giống, chọn tạo giống đã góp phần sản xuất 71.198,4 tấn hạt giống các loại của 38 doanh nghiệp sản xuất kinh doanh giống cây trồng trên địa bàn Thành phố (trong đó có 11.000 tấn hạt giống rau), đáp ứng khoảng 1 triệu ha đất gieo trồng. Đồng thời lai tạo thành công các tổ hợp lai giữa nhóm lan nhập nội và nhóm lan rừng và chọn lọc 20 dòng lai được vào mẫu để nhân giống, công nhận giống mới và sản xuất cung cấp cho thị trường; xây dựng bộ sưu tập nguồn gen gồm 360 mẫu giống hoa lan các loại (lan rừng Việt Nam và lan ngoại nhập), 124 mẫu giống kiểng lá, 77 mẫu giống hoa nền, 100 mẫu giống dược liệu, trong đó có nhiều mẫu giống quý hiếm, phục vụ công tác bảo tồn, lai tạo giống mới và nhân giống cho sản xuất phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu.

07HDKHLVNCKH20162020h1.jpg

+ Trong lĩnh vực nông nghiệp, một số kết quả nghiên cứu đáng chú ý như Thu thập và thuần dưỡng các loài cá tỳ bà bướm (Sewellia sp) đã điều tra điều kiện tự nhiên về nơi phân bố, đặc điểm sinh học, sinh sản của loài và tình hình khai thác các loài cá tỳ bà bướm tại các tỉnh miền Nam Trung bộ. Đề tài có thể chuyển giao quy trình thuần dưỡng cho các hộ nuôi cá cảnh, góp phần bảo tồn chuyển vị nguồn cá ngoài tự nhiên đang bị suy giảm và có nguy cơ tuyệt chủng. Kết quả nghiên cứu được Trại cá cảnh Tân Xuyên, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao ứng dụng trực tiếp vào hoạt động sản xuất. Đề tài Đánh giá tác động môi trường của việc nuôi hàu (Crassostrea spp.) bằng vỏ xe đã xây dựng được các phân vùng nghiên cứu, trạm thu mẫu và bố trí thí nghiệm theo điều kiện sinh thái, môi trường và kỹ thuật nuôi hàu; nghiên cứu được một số giải pháp để giảm thiểu tác động xấu và phát triển bền vững nghề nuôi hàu ở Cần Giờ. Kết quả nghiên cứu được huyện Cần Giờ ứng dụng để chuyển giao cho các vùng nuôi hàu. Đề tài Tạo vi nhũ tương (Chitosan - dầu neem - dầu vỏ hạt điều) sử dụng để phòng chống mọt gạo (Sitophilus oryzae) đã tiêu chuẩn hoá được nguồn nguyên liệu dầu vỏ hạt điều và nghiên cứu được quy trình tạo dung dịch vi nhũ chitosan-neem, tạo chế phẩm; thử nghiệm diệt mọt gạo (Sitophilus oryzae) quy mô phòng thí nghiệm và thử nghiệm trong kho chứa nhỏ; đánh giá được hiệu quả kinh tế; đánh giá độc tính của chế phẩm chitosan-neem dạng lỏng và dạng viên nén xông hơi. Kết quả nghiên cứu có thể chuyển giao cho doanh nghiệp sản xuất. Ngoài ra, các nhiệm vụ nghiên cứu KH&CN hỗ trợ chương trình phát triển sản phẩm chủ lực ngành nông nghiệp đã tập trung nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao mô hình, phục vụ phát triển nhóm sản phẩm thủy sản chủ lực và nhóm sản phẩm có tiềm năng ngành nông nghiệp của Thành phố. Cụ thể như rau, hoa - cây kiểng: quy trình trồng rau ăn lá, ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt trồng hoa (hương thảo, dừa cạn, hoa đồng tiền, hoa chuông, dạ yến thảo,…); heo (con giống, thịt): chọn lọc giống lợn Yorkshire và Landace có khả năng sinh sản cao; quy trình nuôi các loại thủy hải sản (tôm tít, tôm thẻ chân trắng, cua, cá);…

+ Trong lĩnh vực y tế, đã nghiên cứu và ứng dụng thành công những kỹ thuật tiên tiến của thế giới trong chẩn đoán hình ảnh kỹ thuật cao, sinh học phân tử và ứng dụng robot, laser trong phẫu thuật và vi phẫu thuật. Mô hình tiên lượng tử vong ở bệnh nhân chấn thương đã xác định các yếu tố tiên lượng tử vong sớm (trong 24 giờ đầu) và tử vong trong bệnh viện (30 ngày) ở bệnh nhân chấn thương. Sản phẩm của nhiệm vụ (Xây dựng mô hình tiên lượng tử vong ở bệnh nhân chấn thương vào khoa Cấp cứu Bệnh viện Chợ Rẫy) giúp cung cấp thêm dữ liệu cho cấp quản lý về tình hình chấn thương, nhằm tìm các giải pháp phòng ngừa chấn thương và giảm tỷ lệ tử vong do chấn thương.

+ Trong lĩnh vực môi trường và đô thị, đã Thiết kế và chế tạo thiết bị quan trắc ngập tại các điểm thường xuyên ngập nặng, kết quả nghiên cứu được Trạm Thủ Dầu Một (Bình Dương) và 3 điểm ngập nặng tại Quận 2, Quận Thủ Đức, Quận 9 (TP.HCM) ứng dụng. Đánh giá được Tác động xã hội của các đối tượng nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp trên địa bàn Thành phố, làm cơ sở khoa học đề xuất chính sách thu phí phù hợp hơn trong thời gian tới. Xây dựng được Phương pháp luận quy hoạch hệ thống chiếu sáng công cộng bằng đèn LED, đây là cơ sở để giúp cho cơ quan quản lý có tài liệu hướng dẫn chuyên sâu, giúp tiết kiệm thời gian và ngân sách trong việc đánh giá, thẩm định các tiêu chuẩn của các dự án chiếu sáng công cộng. Kết quả nghiên cứu về Bản đồ lan truyền ô nhiễm đối với nguồn nước đã ứng dụng các phần mềm hiện đại, giúp nhà quản lý giảm thiểu chi phí giám sát môi trường hàng năm, giúp dân cư sống phụ thuộc vào hệ thống sông/kênh nhận diện và giảm thiểu được rủi ro về sức khỏe từ nguồn nước bị ô nhiễm. Thông qua nhiệm vụ đã cung cấp công cụ và giải pháp hỗ trợ cho các nhà quản lý, giám sát môi trường trên địa bàn Thành phố.

Giai đoạn 2021 - 2025, hoạt động KH&CN TP.HCM gắn liền với nhiệm vụ tái cấu trúc các chương trình nghiên cứu khoa học - phát triển công nghệ và nâng cao tiềm lực KH&CN. Mục tiêu của chương trình tái cấu trúc là thực hiện có hiệu quả các chương trình nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm; nghiên cứu ứng dụng, phát triển, giải mã và chuyển giao một số công nghệ chủ chốt của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ IV để tạo ra các sản phẩm phục vụ doanh nghiệp và các đề án đô thị thông minh, đô thị sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển kinh tế - xã hội Thành phố; gắn kết các thành phần để hình thành hệ sinh thái hợp tác giữa khu vực nghiên cứu với khu vực công nghiệp nhằm tạo lập môi trường thúc đẩy phát triển công nghệ, làm chủ công nghệ, đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm; đưa Viện Công nghệ tiên tiến và Đổi mới sáng tạo vào hoạt động và sẽ là cầu nối giữa khu vực nghiên cứu với khu vực công nghiệp, đẩy mạnh hoạt động chuyển giao công nghệ cho các ngành công nghiệp, thương mại hóa kết quả nghiên cứu từ các trường, viện và hợp tác với các tổ chức quốc tế nghiên cứu phát triển công nghệ;…

Theo đó, các chương trình nghiên cứu KH&CN giai đoạn 2021 – 2025 gồm: nghiên cứu ứng dụng công nghệ phục vụ đô thị thông minh và chuyển đổi số; nghiên cứu phát triển công nghệ công nghiệp; nghiên cứu chăm sóc sức khỏe; nghiên cứu nông nghiệp công nghệ cao; nghiên cứu quản lý và phát triển đô thị; chương trình Vườn ươm khoa học và công nghệ Trẻ.

Lam Vân (CESTI)

Hệ thống Smart Elearning tiếp tục được giới thiệu đến các quận huyện, Thành phố Thủ Đức, các trường và cơ sở giáo dục thông qua hội thảo trực tuyến ngày 16/10: “Hệ thống Smart Elearning - Giải pháp tổng thể đào tạo và khảo thí trực tuyến cho khối K12”.

Hội thảo do Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM phối hợp cùng với Sao Mai Education Group tổ chức nhằm thúc đẩy ứng dụng giải pháp công nghệ giúp nâng cao hiệu quả kết hợp chuyển đổi số trong đào tạo.

Tại hội thảo, PGS.TS Nguyễn Ngọc Vũ (Chủ nhiệm CLB các Cơ sở Đào tạo, Bồi dưỡng tiếng Anh phía Nam - STESOL) cho biết, hiện nay, các trường trung học phổ thông ở nước ta đang nỗ lực tìm kiếm các giải pháp LMS phục vụ đào tạo trực tuyến. Các thầy cô giáo đã quen sử dụng các công cụ, phương pháp tích hợp công nghệ thông tin vào dạy học hiệu quả. Tuy nhiên, cần có giải pháp toàn diện hơn để đảm bảo dạy học online không phải là tạm thời mà là một giải pháp ổn định lâu dài, phục vụ cho chuyển đổi số. Đối với trường phổ thông, nền tảng dạy học trực tuyến cần chú ý đảm bảo các tiêu chí quan trọng: giao diện (tùy biến, đa dạng và hỗ trợ smartphone); công cụ kiểm tra/đánh giá (hỗ trợ nhiều định dạng câu hỏi để kiểm tra, đánh giá); bộ công cụ tạo bài giảng/học liệu cho giáo viên phải phong phú, đa dạng; công cụ báo cáo, hỗ trợ công tác quản lý; tích hợp hệ thống video conferencing.

08HDKHLVhtSaomaih2.jpg

Ông Nguyễn Ngọc Vũ trình bày về các tiêu chí của một hệ thống Elearning cho trường phổ thông.

Bà Nguyễn Thị Hồng Liên (chuyên gia Elearning - Trung tâm Bồi dưỡng và Hỗ trợ Chất lượng Giáo dục, Hiệp hội các trường đại học cao đẳng Việt Nam) cho rằng, hệ thống dạy học online không chỉ tạo tính nhất quán dễ dàng cho giáo viên mà còn thuận lợi cho học sinh, từ việc thiết kế bài giảng, thiết kế nội dung học tập cho đến đánh giá/quản lý học sinh, tăng cường tính tương tác, nâng cao tính sáng tạo, chủ động của học sinh. Hiện nay, đối với tình hình dịch bệnh, một hệ thống dạy học trực tuyến tốt sẽ giúp thiết kế bài giảng một cách bài bản; nội dung hoạt động học tập lấy người học làm trung tâm; mục đích học tập đều hướng đến tăng cường giá trị học tập cho học sinh; thúc đẩy tính đồng sáng tạo, đồng học tập, tăng tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong lớp học; trong tương lai, thế hệ trẻ sẽ nhanh chóng tiếp cận tiến bộ công nghệ và hỗ trợ trở thành công dân toàn cầu.

Ông Đào Ngọc Hoàng Giang (Tổng Giám đốc Sao Mai Education Group) cho biết, đến nay, các cơ sở pháp lý phục vụ cho đào tạo trực tuyến đã tương đối hoàn chỉnh. Các quy định, công văn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động Thương binh Xã hội, Bộ Tài chính cũng đều yêu cầu tăng cường đầu tư, xây dựng hệ thống quản lý đào tạo trực tuyến chuyên nghiệp bao gồm hệ thống LMS, hệ thống LCMS và số hóa các hoạt động quản lý, đào tạo. Theo đó, hệ thống quản lý học tập (LMS) là một hệ thống dịch vụ quản lý việc phân phối và tìm kiếm nội dung học tập cho người học, tức là LMS quản lý các quá trình học tập. Hệ thống quản lý nội dung học tập (LCMS): một LCMS là một môi trường đa người dùng, ở đó các cơ sở đào tạo có thể tạo ra, lưu trữ, sử dụng lại, quản lý và phân phối nội dung học tập trong môi trường số từ một kho dữ liệu trung tâm. LCMS quản lý các quá trình tạo ra và phân phối nội dung học tập.

08HDKHLVhtSaomaih3.jpg

Ông Đào Ngọc Hoàng Giang giới thiệu về hệ thống Smart Elearning.

Do đó, Sao Mai Education Group đã xây dựng hệ thống Smart Elearning là một hệt thống đào tạo trực tuyến (LMS, LCMS) hoàn chỉnh. Hệ thống được phát triển dựa trên nền tảng Web (WBT – Web Based Training), là hình thức sử dụng website để đào tạo. Người dạy có thể soạn bài giảng trực tiếp trên web. Người học truy cập trang web để tham gia học tập và làm bài kiểm tra. Các thông tin của người học, tài liệu sẽ được lưu trữ trên các cloud server.

Về các chức năng, Smart Elearning được phân nhóm linh hoạt, phục vụ hoạt động của từng vai trò như lãnh đạo nhà trường, quản trị hệ thống, người dạy, người học. Đối với lãnh đạo, quản lý, có thể tạo lập khóa học bất kỳ, kết nạp thành viên trong khóa học, theo dõi tiến trình của người học, theo dõi lịch sử hoạt động người học, phân công giáo viên phụ trách khóa học, chọn ngôn ngữ, thay đổi giao diện,… Chức năng cho quản trị hệ thống: cho phép người quản lý xem chi tiết thông tin về toàn bộ học viên; các lựa chọn để tìm kiếm học viên, lọc danh sách; tra cứu dữ liệu học viên phục vụ công tác đào tạo; xem và xuất báo cáo hoạt động của người học;… Chức năng cho người dạy: soạn và phân bố tài nguyên cho người học; cung cấp nội dung học tới người học (các file văn bản, ebook, các file đa phương tiện); gửi thông báo tới một nhóm hoặc tất cả học viên; tạo diễn đàn trao đổi thảo luận với đồng nghiệp và học viên; tạo bài học mới, tạo chuỗi bài tập, tạo bài thi, kiểm tra trắc nghiệm, tự luận; giám sát hoạt động của học viên trong khóa học. Chức năng cho người học: xem các khóa học hiện hành; xem các báo cáo hoạt động trên hệ thống; sử dụng các diễn đàn để trao đổi học tập với thầy cô và các bạn; nhắn tin riêng cho quản trị, giáo viên hoặc bạn học; thực hiện các bài kiểm tra, đánh giá trực tuyến; theo dõi kết quả học tập.

Theo ông Giang, với bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, yêu cầu về đào tạo trực tuyến trong thời kỳ dịch bệnh đã và đang là xu hướng tất yếu trong tương lai, hệ thống Smart Elearning được thiết kế để giúp các đơn vị giáo dục đảm bảo, phát huy tối đa chức năng, nghiệp vụ đồng thời tạo điều kiện để người học chủ động về không gian, thời gian, địa điểm, học tập… Các chức năng chính nổi bật của Smart Elearning đáp ứng đầy đủ yêu cầu của một hệ thống đào tạo trực tuyến hoàn chỉnh như: xây dựng bài giảng và kho học liệu đào tạo trực tuyến; giảng dạy trực tiếp qua video conferencing; tổ chức thi, kiểm tra và đánh giá trực tuyến. Vì vậy, giảng viên có thể soạn thảo bài giảng trực tiếp trên web với kho bài giảng và học liệu dễ kiểm soát do được cấu trúc theo biên mục và đối tượng tùy chọn. Học viên chỉ cần kết nối internet là sẵn sàng để học tập, kiểm tra, thi… bằng mọi thiết bị. Hiện tại, Sao Mai có thể triển khai hoàn thiện hệ thống và hiệu chỉnh theo yêu cầu của các đơn vị có nhu cầu sử dụng. Đồng thời thiết kế nhiều mô hình phòng học online, offline, phòng học thông minh, đa chức năng, phục vụ linh hoạt, đa dạng cho các hoạt động đào tạo thực tế.

08HDKHLVhtSaomaih4.jpg

Phần thảo luận, chia sẻ tại hội thảo.

Chia sẻ tại hội thảo, bà Phan Thị Quý Trúc (Phó Trưởng phòng Quản lý Công nghệ và Thị trường công nghệ - Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM) cho biết, dưới góc nhìn về KH&CN, Sở rất ủng hộ, khuyến khích các hoạt động đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực giáo dục. Giải pháp đào tạo trực tuyến là một trong những hoạt động cần thiết của số hóa, ứng dụng công nghệ trong giáo dục và đào tạo. Tại TP.HCM, số lượng doanh nghiệp startup về công nghệ giáo dục chiếm khoảng 15%, trong đó tập trung vào giải pháp đào tạo trực tuyến. Elearning không chỉ ứng dụng cho học sinh, sinh viên mà cả các doanh nghiệp, công chức, viên chức cũng cần tiếp cận, làm quen với đào tạo trực tuyến. Định hướng của Thành phố trong phát triển lĩnh vực này là tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu R&D, thương mại hóa những giải pháp công nghệ ứng dụng chuyển đổi số trong giáo dục; hình thành hệ sinh thái công nghệ về giáo dục để có nhiều nguồn lực hỗ trợ, thúc đẩy phát triển những công nghệ chuyển đổi số về giáo dục; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ vào hoạt động quản lý, giảng dạy, đào tạo; hình thành chương trình hợp tác công tư để triển khai dài hạn cho việc phát triển những giải pháp đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong giáo dục. Về các chính sách hỗ trợ, Sở KH&CN TP.HCM hiện có nhiều chương trình cụ thể, tùy vào khả năng của mỗi doanh nghiệp, Sở có thể tư vấn hướng dẫn đăng ký những gói chính sách hỗ trợ từ nguồn vốn nhà nước.

Lam Vân (CESTI)

Nhóm chuyên gia tại Trường Đại học Bách Khoa, ĐHQG-TPHCM vừa chế tạo thành công pin mặt trời chất màu nhạy quang có sử dụng vật liệu nanocomposite trên cơ sở graphene làm điện cực catot và anot. Pin có khả năng cải thiện hiệu suất hơn 20% so với pin dùng vật liệu Pt và TiO2 truyền thống, đồng thời giảm đáng kể lượng vật liệu Pt và TiO2 sử dụng 

Thực tế cho thấy, sự gia tăng nhu cầu sử dụng năng lượng hóa thạch trên phạm vi toàn cầu đã và đang kéo theo nhiều vấn đề về ô nhiễm môi trường cũng như cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Các vấn đề trên đã thúc đẩy nhiều nhà khoa học nghiên cứu phát triển công nghệ năng lượng tái tạo như mặt trời, điện, gió, và thủy triều.

Công nghệ để sản xuất điện từ năng lượng mặt trời bao gồm các thiết bị chuyển đổi trực tiếp bức xạ mặt trời thành hóa năng, nhiệt năng, và điện năng, điển hình là pin mặt trời. Trong thời gian qua, các nghiên cứu liên quan đến sản xuất pin mặt trời không ngừng cải tiến và mang lại nhiều kết quả khả quan, điển hình là sự xuất hiện của pin mặt trời chất màu nhạy quang (Dyesensitized Solar Sell - DSSC) hiện được nhiều quốc gia chú trọng phát triển vì giá thành sản xuất rẻ, nguyên vật liệu dùng để chế tạo điện cực của pin đa dạng. Đáng chú ý, sự phát triển mạnh của vật liệu nano như ống nano cacbon, cacbon vulcan hay graphene, cũng đã mở ra những hướng phát triển mới cho pin DSSC.

Trong đó, việc cải tiến điện cực catot và điện cực anot trong pin DSSC là những nghiên cứu được nhiều nhà khoa học quan tâm, và đây cũng là mục tiêu tổng được nhóm nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Trọng điểm ĐHQG-HCM Công nghệ Hóa học và Dầu khí (Key CEPP Lab), Trường Đại học Bách Khoa, ĐHQG-TPHCM khẩn trương đặt ra cho nhiệm vụ khoa học công nghệ “Nghiên cứu tổng hợp vật liệu nanocomposite trên cơ sở graphene ứng dụng trong pin mặt trời chất màu nhạy quang”.

TS. Phạm Trọng Liêm Châu là chủ nhiệm đề tài nói trên cho biết, phạm vi của đề tài tập trung nghiên cứu ứng dụng của các loại vật liệu nanocomposite mới trên cơ sở graphene (Gr) như graphene-platin (Gr-Pt) và graphene-titan dioxit (Gr-TiO2), qua đó vừa giúp giảm chi phí sản xuất, vừa đảm bảo hiệu suất chuyển hóa năng lượng của pin DSSC.

mt

Nguyên lý hoạt động của pin DSSC (ảnh nhỏ: sản phẩm pin DSSC hoàn thiện của đề tài)

Sau 2 năm nghiên cứu, nhóm đã thành công trong việc tạo ra các sản phẩm, gồm: Keo in lụa Gr-Pt và Gr-TiO2; điện cực catot Gr-Pt và anot Gr-TiO2. Từ đó xây dựng quy trình và lắp ráp thành công pin DSSC chế tạo từ điện cực catot và anot với vật liệu là Gr-Pt và Gr-TiO2, cải thiện hiệu suất chuyển hóa năng lượng cao hơn 7%, tăng hiệu suất hơn 20% so với pin chỉ hoàn toàn sử dụng vật liệu Pt và TiO2.

mt1

Keo in lụa Gr-Pt (trên) và Gr-TiO2 (dưới) sau khi tổng hợp

Đại diện nhóm nghiên cứu khẳng định, kết quả nói trên cũng đã tạo tiền đề để tiếp tục mở rộng việc nghiên cứu các sản phẩm khác từ vật liệu nanocomposite trên cơ sở graphene. Đồng thời, quá trình thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ nói trên của Đại học Bách Khoa TP.HCM đã đào tạo thành công 4 thạc sỹ thông qua các hoạt động nghiên cứu các sản phẩm thuộc lĩnh vực năng lượng như pin mặt trời hay pin nhiên liệu, từ đó sẵn sàng nguồn nhân lực chất lượng cao cho lĩnh vực đầy tiềm năng này. Cùng với đó, nhóm thực hiện đề tài triển khai 3 bài báo khoa học và đã lần lượt được đăng trên các tạp chí quốc tế có uy tín thuộc danh mục Wed of Science như Inorganic Chemistry Communications, Electronic Materials, Arabian Journal for Science and Engineering.

Vật liệu tổng hợp giúp giảm giá thành

TS. Phạm Trọng Liêm Châu cho biết, vật liệu được sử dụng làm catot trong pin DSSC phổ biến nhất hiện nay là Pt, còn thành phần chính của anot trong pin chủ yếu là TiO2.

“Catot làm từ Pt có điểm mạnh là dẫn điện tốt, khả năng xúc tác, độ bền hóa học và hoạt động ổn định. Anot chế tạo bằng TiO2 lại khá phổ biến bởi ưu điểm về độ bền khi chịu tác động của ánh sáng mặt trời. Tuy nhiên, Pt là kim loại quý có giá thành cao nên chi phí sản xuất pin DSSC cũng tăng theo. Còn với TiO2, các điện tử và lỗ trống trong hợp chất dễ tái tổ hợp, làm giảm hiệu suất của pin”, TS. Châu chia sẻ.

mt2

Từ trái qua: Điện cực catot Gr-Pt, anot Gr-TiO2 và pin DSSC được nhóm nghiên cứu chế tạo thành công

Trong khi đó, graphene sở hữu nhiều ưu điểm như khả năng dẫn điện, dẫn nhiệt cao, gần như trong suốt, diện tích bề mặt lớn, mềm dẻo, dễ thay đổi hình dạng,… được ứng dụng nhiều trong lĩnh vực năng lượng. Hơn nữa, nhờ diện tích bề mặt lớn và khả năng dẫn điện tốt, Gr tạo thuận lợi cho quá trình xúc tác phản ứng trở nên dễ dàng, tăng khả năng hấp phụ chất màu nhạy quang của điện cực, qua đó nâng cao hiệu suất chuyển hóa của pin DSSC.

Do vậy, việc chế tạo vật liệu nanocomposite kết hợp Gr với Pt và Gr với TiO2 được thực hiện nhằm tăng cường khả năng chuyển hóa năng lượng và giảm chi phí sản xuất pin. Cụ thể, việc kết hợp vật liệu Gr và Pt sẽ tiết kiệm tối đa vật liệu Pt khi sản xuất. Đối với TiO2, sự kết hợp với Gr giúp hạn chế sự tái tổ hợp của điện tử và lỗ trống, làm tăng khả năng dẫn điện và hiệu suất của pin.

Sau quá trình nghiên cứu, nhóm đã hoàn thiện quy trình chuyển hóa hợp chất cấu thành vật liệu Gr-Pt và Gr-TiO2 với sản phẩm thu được là vật liệu Gr-Pt chỉ chứa 53% khối lượng Pt, vật liệu Gr-TiO2 chứa khoảng 60% Ti và có mật độ liên kết cao trong cấu trúc vật liệu.

mt3

Ảnh chụp SEM cắt ngang của điện cực anot Gr-TiO2

Từ quá trình trên, nhóm tiếp tục tổng hợp điện cực catot từ vật liệu Gr-Pt và anot từ Gr-TiO2 cho pin DSSC bằng phương pháp in lụa. Phương pháp này có ưu điểm là chi phí thấp, quy trình chế tạo đơn giản, có thể áp dụng phủ vật liệu lên diện tích lớn, thường được áp dụng trong các nghiên cứu chế tạo điện cực trong pin DSSC.

mt4

Bề mặt của catot sử dụng mẫu keo Gr-Pt.

Thử nghiệm theo dõi độ giảm hiệu suất với điều kiện chiếu sáng liên tục trong thiết bị Solar-box cho thấy, hiệu suất pin giảm không quá 2% sau khi được chiếu sáng trong 1.000 giờ. Điều này chứng tỏ rằng, pin DSSC được chế tạo từ vật liệu nanocomposite trên cơ sở graphene có khả năng làm việc ổn định trong khoảng thời gian dài và có tiềm năng phát triển khi được thương mại hóa.

Đại diện nhóm nghiên cứu cho biết, quy trình tổng hợp vật liệu Gr-Pt hay Gr-TiO2 thành công góp phần thúc đẩy nghiên cứu các vật liệu chế tạo điện cực trong pin mặt trời. Bên cạnh đó, với hiệu quả làm việc của pin DSSC cũng có tiềm năng ứng dụng để chiếu sáng trong nhà và có thể mở rộng ứng dụng theo quy mô lớn hơn.

Nhìn chung, kết quả của công trình nghiên cứu đã mở ra một hướng phát triển hoàn toàn mới cho việc sản xuất pin quang năng từ vật liệu nanocomposite trên cơ sở graphene ở quy mô lớn với ưu điểm về chi phí nguyên vật liệu, khả năng sẵn sàng ở mức cao về nguồn nguyên liệu đầu vào cũng như nguồn nhân lực chuyên gia tại chỗ.

Được biết, trong suốt quá trình triển khai đề tài, nhóm chuyên gia Trường Đại học Bách Khoa, ĐHQG-TPHCM đã phối hợp chặt chẽ với công ty TNHH Pacifico Energy Vietnam để triển khai các công đoạn như tiếp nhận quy trình tổng hợp vật liệu, và từ đó sản xuất thử nghiệm pin DSSC, cũng như thực hiện các đo điểm liên quan về chất lượng, hiệu suất của sản phẩm pin mặt trời hoàn thiện.

Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ (thuộc Sở KH&CN TPHCM) vừa hoàn thiện bộ tiêu chí chuẩn quốc tế, phục vụ xây dựng cũng như hỗ trợ các vườn ươm khởi nghiệp theo chuẩn quốc tế, giúp nâng cao chất lượng ươm tạo, tạo nên các doanh nghiệp có giá trị cao. 

Trong nhiều năm qua, đặc biệt là từ 2015, hoạt động khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo ở TP.HCM phát triển mạnh mẽ, từng bước trở thành động lực chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội gắn với phát triển kinh tế tri thức, tập trung nghiên cứu gắn kết với thực tiễn phục vụ phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm, góp phần vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thông qua nhiều chính sách nhằm thúc đẩy phát triển thị trường KH&CN và hoạt động hỗ trợ, tuyên truyền về đổi mới sáng tạo, nổi bật như Tuần lễ Đổi mới sáng tạo TPHCM (WHISE), Giải thưởng Sáng tạo TPHCM, Giải thưởng Đổi mới và Sáng tạo TPHCM (I-Star) được tổ chức thường niên, có thể khẳng định rằng TP.HCM là cái nôi của cộng đồng doanh nghiệp khởi nghiệp cả nước, xây dựng và phát triển thành công hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo có đầy đủ những hoạt động cơ bản như tuyển chọn, ươm tạo, kết nối thị trường, tăng tốc, hỗ trợ sau ươm tạo.

Để đáp ứng nhu cầu và tiềm năng phát triển của doanh nghiệp khởi nghiệp (startup) và doanh nghiệp mới thành lập, các cơ sở ươm tạo (vườn ươm) tại TP.HCM cũng đã có những bước tiến nhất định trong cả về số lượng và chất lượng hoạt động. Thực tế, 100% cơ sở ươm tạo trên địa bàn đều cung cấp không gian làm việc, không gian tổ chức sự kiện, cùng với nhiều thiết bị, cơ sở vật chất khác. Tuy nhiên, để được đánh giá và đạt xếp hạng cao trên thế giới, cơ sở ươm tạo phải đạt nhiều tiêu chí nhất định như cơ sở vật chất, chương trình ươm tạo, nội dung hoạt động, khả năng quản lý vận hành cũng như các mạng lưới liên kết kinh doanh trong và ngoài cơ sở ươm tạo. Hay nói cách khác, đây là những tiêu chí nhằm tăng cường khả năng hỗ trợ startup và doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo có thể thương mại hóa thành công các ý tưởng kinh doanh, công nghệ và tăng khả năng “sống sót” sau khi hoàn thành giai đoạn ươm tạo.

Sau quá trình khảo sát thực tế, nhóm nghiên cứu xây dựng mô hình vườn ươm khởi nghiệp theo chuẩn quốc tế do ThS. Huỳnh Kim Tước và các cộng sự tại Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN TPHCM (SIHUB) đánh giá Vườn ươm doanh nghiệp công nghệ cao  (SHTP-IC) thuộc Khu Công nghệ cao TP.HCM về cơ bản đã đáp ứng phần nào cơ sở hạ tầng phục vụ cho các hoạt động ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp tại TP.HCM, có quy trình vận hành ổn định. Tuy nhiên, số lượng nhân sự phụ trách chính cho lĩnh vực ươm tạo còn khá khiêm tốn (phần lớn là phụ trách hành chính và kỹ thuật), ngân sách dự chi hằng năm cho hoạt động ươm tạo còn thấp, chưa có kế hoạch đầu tư vào các hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp rõ ràng.

ut1

Khung cơ bản về đánh giá vườn ươm

Với phương án nâng cấp thành vườn ươm khởi nghiệp theo chuẩn quốc tế, SHTP-IC hoàn toàn có khả năng gia tăng số lượng doanh nghiệp có thể được ươm tạo, đồng thời nâng cao việc cung cấp dịch vụ ươm tạo cả về lượng lẫn chất. Trong đó, SHTP-IC cần bổ sung cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, đáp ứng nhu cầu của các dự án khởi nghiệp trong lĩnh vực Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo; mở rộng khu không gian làm việc và xưởng chế tạo mẫu với diện tích dự kiến 7.000m2 trên cơ sở huy động nguồn kinh phí xã hội hóa để tạo ra nơi làm việc cho hơn 50 doanh nghiệp khởi nghiệp với hơn 1.000 nhân sự; triển khai liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp trong hoạt động nghiên cứu, phát triển giải pháp/sản phẩm công nghệ, ươm tạo công nghệ cao và thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp; hợp tác triển khai các chương trình ươm tạo chuyên đề, chương trình tăng tốc với các đối tác trong và ngoài nước theo chuẩn quốc tế.

Mục tiêu cụ thể là đến cuối năm 2025, SHTP-IC hỗ trợ ươm tạo, phát triển 200 dự án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; hỗ trợ hình thành 30 doanh nghiệp khoa học công nghệ; hỗ trợ đăng ký 100 sở hữu trí tuệ; hỗ trợ nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo cho 50 doanh nghiệp. Đến cuối năm 2030, toàn bộ chỉ tiêu hỗ trợ tăng 100% so với 2025, riêng số dự án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tăng 150%. Qua đó, SHTP-IC sở hữu nhiều lợi thế trong việc tạo lập môi trường thuận lợi cho hoạt động hỗ trợ hình thành và phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp, tăng số lượng doanh nghiệp giàu tiềm năng có tốc độ phát triển cao dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới.

ut2

Quy trình ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp

Từ thực tế này, nhóm nghiên cứu tại SIHUB đã chọn SHTP-IC để đánh giá, xây dựng Bộ tiêu chí và triển khai thí điểm. Công cụ để đánh giá hiện trạng cơ sở hạ tầng, triển khai hoạt động và tổ chức vận hành tại SHTP-IC và đề xuất phương án nâng cấp thành vườn ươm khởi nghiệp theo chuẩn quốc tế là Bộ tiêu chuẩn các chỉ số đánh giá vườn ươm theo chuẩn quốc tế gồm 26 chỉ tiêu.

Bộ tiêu chuẩn đặc thù cho Việt Nam

Nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu 8 phương pháp đánh giá của các nước và tổ chức quốc tế, xác định được 86 tiêu chí để tham khảo, từ đó xây dựng Bộ tiêu chuẩn các chỉ số đánh giá vườn ươm theo chuẩn quốc tế với 26 tiêu chí, phân vào bốn nhóm, gồm: hạ tầng cơ sở, hoạt động và dịch vụ, quản lý vận hành, hiệu quả đầu ra. Bộ tiêu chuẩn này xây dựng trọng số và khung điểm cho hai loại hình vườn ươm là vườn ươm đại học và vườn ươm doanh nghiệp, đã được khảo sát và lấy ý kiến chuyên gia tại hội thảo “Giải pháp thúc đẩy phát triển doanh nghiệp KH&CN và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp KH&CN” do Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN phối hợp với Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN (Bộ KH&CN) tổ chức hồi tháng 10/2020.

ut3

Hội thảo Giải pháp thúc đẩy phát triển doanh nghiệp KH&CN và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp KH&CN

Điểm sáng tạo ở Bộ tiêu chuẩn là chi tiết hóa các tiêu chí, thang điểm và phương pháp tiến hành, tạo thuận lợi cho hoạt động chấm điểm và đánh giá, dễ dàng áp dụng trong quá trình quản lý việc vận hành vườn ươm theo chuẩn quốc tế. Do đó, Bộ tiêu chuẩn là công cụ để các cơ sở ươm tạo hiện hữu ứng dụng nhằm tham khảo và tự nâng cấp, đồng thời sẽ tạo dựng nên mô hình chuẩn cho các đơn vị, tổ chức muốn thành lập cơ sở ươm tạo mới (đáp ứng theo các tiêu chí trong Bộ tiêu chuẩn).

Không chỉ minh bạch vai trò của vườn ươm trong các chính sách phát triển doanh nghiệp và doanh nghiệp khởi nghiệp, thể hiện các khung điều kiện hỗ trợ doanh nghiệp qua các tiêu chí, Bộ tiêu chuẩn còn chỉ ra điểm yếu đang tồn tại để vườn ươm có định hướng phát triển hoàn thiện hơn, gắn kết các chính sách ươm tạo doanh nghiệp của vườn ươm với các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp của cơ quan quản lý nhà nước.

PGS. TS Nguyễn Anh Thi, Giám đốc Ban Quản lý Khu Công nghệ cao TPHCM, đồng thời là Chủ tịch hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ khoa học công nghệ "Nghiên cứu xây dựng mô hình vườn ươm khởi nghiệp theo chuẩn quốc tế" nhận xét rằng bộ tiêu chí theo tiêu chuẩn quốc tế được nhóm nghiên cứu xây dựng không chỉ có độ phù hợp cao với hoàn cảnh ở TP.HCM, mà còn có thể áp dụng mở rộng trên phạm vi cả nước.

 “Bộ tiêu chuẩn này hy vọng sẽ được thông qua sớm, sẽ giúp ích rất nhiều cho các chủ trương, chính sách hỗ trợ của nhà nước cho các vườn ươm”, TS. Nguyễn Văn Tuấn, thành viên hội đồng tư vấn nghiệm thu đề tài thông tin thêm.

Vì thế, Bộ tiêu chuẩn vừa được nhóm nghiên cứu tại SIHUB hoàn thiện chính là công cụ hỗ trợ đắc lực cho Sở KH&CN TP.HCM tổ chức đánh giá nhanh toàn bộ các vườn ươm, cụ thể hoá các chính sách khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo trên cơ sở đánh giá, phân loại các vườn ươm, tiến hành hướng dẫn các tổ chức, đơn vị trên địa bàn Thành phố tiếp cận và sử dụng Bộ tiêu chuẩn vào kế hoạch đầu tư, thành lập, vận hành các cơ sở ươm tạo

Clip hoạt động


Bản quyền © 2018 Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Thiết kế và phát triển bởi HCMGIS
Tổng số truy cập: 11537347