Việc xây dựng các "cầu nối" hiệu quả giữa trường đại học, doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý được xem là điều kiện tiên quyết để rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường. Đây cũng là nền tảng để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đóng góp mạnh mẽ hơn cho tăng trưởng kinh tế của TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới.
Thông điệp trên được nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế chia sẻ tại Hội thảo "Từ nghiên cứu đến thị trường: Thúc đẩy hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp nhằm thương mại hóa đổi mới sáng tạo", diễn ra ngày 15/7 tại TP. Hồ Chí Minh. Hội thảo do Sunwah Innovations, Brinc và Trung tâm Đổi mới sáng tạo Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh (VIH) đồng tổ chức. Trong khuôn khổ chương trình, Liên doanh Sunwah - Brinc cũng chính thức ra mắt, mở ra mô hình hợp tác mới nhằm kết nối trường đại học, doanh nghiệp, nhà đầu tư và các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp, góp phần thúc đẩy thương mại hóa công nghệ và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Thành phố.
Thương mại hóa kết quả nghiên cứu, rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường
Trong nhiều năm qua, TP. Hồ Chí Minh đã hình thành hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo với sự tham gia của các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ, quỹ đầu tư và cộng đồng khởi nghiệp. Tuy nhiên, để các kết quả nghiên cứu thực sự tạo ra giá trị kinh tế, vẫn cần các giải pháp kết nối chặt chẽ hơn giữa các chủ thể trong hệ sinh thái, từ đó thu hẹp khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường.
Tại hội thảo, các chuyên gia nhận định rằng thách thức hiện nay không nằm ở việc thiếu ý tưởng hay thiếu công nghệ. Việt Nam có nhiều nhà khoa học, nhóm nghiên cứu và doanh nghiệp giàu tiềm năng, nhưng không ít kết quả nghiên cứu vẫn dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm, chưa được thương mại hóa thành sản phẩm hoặc dịch vụ phục vụ thị trường. Vì vậy, điều cần thiết không chỉ là tạo ra thêm các công trình nghiên cứu mà phải xây dựng được những "cầu nối" hiệu quả để chuyển hóa tri thức thành giá trị thực tiễn.
Ông Nguyễn Đức Huy, Phó Giám đốc Trung tâm HCMC C4IR phát biểu tại hội thảo
Theo ông Nguyễn Đức Huy, Phó Giám đốc Trung tâm Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 tại TP. Hồ Chí Minh (HCMC C4IR), đổi mới sáng tạo chỉ thực sự tạo ra giá trị khi kết quả nghiên cứu được kết nối với nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường. Trong định hướng phát triển trở thành trung tâm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hàng đầu khu vực, TP. Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D), đồng thời gắn hoạt động nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp và các ngành kinh tế.
Một trong những nội dung được các diễn giả tại hội thảo nhấn mạnh là việc thay đổi tư duy trong hoạt động nghiên cứu. Thay vì tập trung hoàn thiện công nghệ rồi mới tìm kiếm đầu ra, các chiến lược thương mại hóa, khai thác tài sản trí tuệ và mô hình kinh doanh cần được tính toán ngay từ những giai đoạn đầu của quá trình nghiên cứu. Khi doanh nghiệp cùng tham gia xác định nhu cầu, đặt hàng và đồng phát triển giải pháp, khả năng đưa công nghệ ra thị trường sẽ cao hơn đáng kể.
Các đại biểu tham dự hội thảo
Các chuyên gia cũng cho rằng, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cần dựa trên mô hình hợp tác "Ba nhà" (Triple Helix), trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo cơ chế, chính sách; trường đại học, viện nghiên cứu tạo ra tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao; doanh nghiệp cùng các nhà đầu tư dẫn dắt nhu cầu thị trường, đầu tư và thương mại hóa công nghệ. Khi ba chủ thể tham gia ngay từ quá trình hình thành ý tưởng nghiên cứu, cơ hội hình thành các sản phẩm có giá trị thương mại sẽ được nâng lên rõ rệt.
Chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn, các diễn giả quốc tế cho rằng thương mại hóa đổi mới sáng tạo không thể chỉ dựa vào nỗ lực của từng nhà khoa học hay từng doanh nghiệp riêng lẻ. Điều quan trọng là xây dựng một hệ sinh thái đủ năng động, nơi các trường đại học, doanh nghiệp, quỹ đầu tư, cơ quan quản lý và các tổ chức hỗ trợ cùng chia sẻ nguồn lực, thông tin và cơ hội hợp tác để công nghệ có thể phát triển xuyên suốt từ ý tưởng, nghiên cứu, thử nghiệm đến thương mại hóa.
Bổ sung "mắt xích" kết nối nghiên cứu và thị trường
Việc hình thành các mô hình hợp tác như Sunwah - Brinc được kỳ vọng sẽ bổ sung một mắt xích quan trọng, cho thấy xu hướng phát triển mới của hệ sinh thái, hướng đến xây dựng cầu nối hiệu quả giữa trường đại học, doanh nghiệp khởi nghiệp, quỹ đầu tư và mạng lưới đối tác quốc tế, qua đó hỗ trợ các dự án công nghệ rút ngắn hành trình từ nghiên cứu đến thị trường.
Theo đại diện Sunwah Innovations, mục tiêu của liên doanh không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ các startup mà còn tạo ra những lộ trình thương mại hóa rõ ràng cho các kết quả nghiên cứu, kết nối hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong nước với các cơ hội toàn cầu. Trong khi đó, Brinc sẽ mang đến kinh nghiệm về tăng tốc khởi nghiệp, nguồn vốn, cố vấn chuyên môn và khả năng mở rộng thị trường quốc tế cho các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam.
Ở góc độ trường đại học, ông Trần Vũ, Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh cho biết đơn vị đang từng bước xây dựng mô hình đổi mới sáng tạo theo hướng khép kín, gắn kết nghiên cứu, đào tạo, khởi nghiệp và chuyển giao công nghệ. Bên cạnh việc hỗ trợ các nhóm nghiên cứu phát triển công nghệ, mô hình này còn thúc đẩy hình thành các doanh nghiệp khởi nguồn từ trường đại học (spin-off), đồng thời kết nối với doanh nghiệp, quỹ đầu tư và mạng lưới chuyên gia trong và ngoài nước nhằm nâng cao khả năng thương mại hóa các kết quả nghiên, dự án công nghệ trong các lĩnh vực trọng điểm như trí tuệ nhân tạo, vi mạch bán dẫn, công nghệ sinh học, năng lượng xanh...
Ông Trần Vũ, Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh trình bày tại hội thảo
Theo lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ, TP. Hồ Chí Minh hiện có nền tảng thuận lợi để hình thành các công nghệ mới, sản phẩm mới và doanh nghiệp công nghệ mới. Tuy nhiên, để khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực tăng trưởng, điều quan trọng không chỉ là tạo ra thêm các kết quả nghiên cứu mà phải xây dựng được cơ chế để tri thức được chuyển hóa thành công nghệ, sản phẩm và doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó, TP. Hồ Chí Minh tập trung triển khai các cơ chế, chính sách nhằm hoàn thiện hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo theo hướng đồng bộ, hiện đại và hội nhập quốc tế. Thành phố chú trọng phát triển mô hình đại học khởi nghiệp; hỗ trợ nghiên cứu gắn với nhu cầu doanh nghiệp; thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, bảo hộ và khai thác tài sản trí tuệ; phát triển doanh nghiệp khởi nguồn công nghệ; tăng cường kết nối cung - cầu công nghệ và mở rộng hợp tác quốc tế. Thành phố cũng triển khai Đề án phát triển mạng lưới trung tâm đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế, hướng tới hình thành các trung tâm có năng lực kết nối nguồn lực trong nước và quốc tế, tạo môi trường thuận lợi để các nhà khoa học, doanh nghiệp, nhà đầu tư và các tổ chức hỗ trợ cùng hợp tác phát triển.
Các chuyên gia, diễn giả tham gia phiên thảo luận tại hội thảo
Với vai trò cơ quan tham mưu, Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục phối hợp kết nối các chủ thể trong hệ sinh thái; thúc đẩy hợp tác nghiên cứu - phát triển, chuyển giao công nghệ, bảo hộ và khai thác tài sản trí tuệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu cũng như phát triển doanh nghiệp khởi nguồn công nghệ. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để đưa nhiều kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường, góp phần nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và tạo động lực tăng trưởng mới cho Thành phố.
Lam Vân
Nhằm tăng cường kết nối, trao đổi kinh nghiệm và tìm kiếm cơ hội hợp tác trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, thương mại điện tử và phát triển doanh nghiệp, sáng 16/7/2026, Đoàn công tác thành phố Phổ Ninh, Trung Quốc do ông Lin Jianwen - Thị trưởng Chính quyền Nhân dân thành phố Phổ Ninh làm Trưởng đoàn đã đến thăm và làm việc với Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM.

Quang cảnh buổi làm việc giữa TP.HCM và thành phố Phổ Ninh.
Tiếp và làm việc với đoàn có ông Trần Trọng Tuyên - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM, cùng đại diện các phòng chuyên môn, đơn vị trực thuộc Sở; về phía thành phố Phổ Ninh có đại diện chính quyền, các cơ quan chuyên môn và cộng đồng doanh nghiệp địa phương.
Nhiều tiềm năng hợp tác từ thế mạnh của hai địa phương
Tại buổi làm việc, ông Trần Trọng Tuyên - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM đã giới thiệu khái quát về tiềm năng và định hướng phát triển của Thành phố sau quá trình hợp nhất. Với quy mô dân số, thị trường và không gian phát triển được mở rộng, cùng hệ thống khu công nghiệp, khu chế xuất, trường đại học, viện nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp quy mô lớn, TP.HCM đang đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Ông Trần Trọng Tuyên - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM phát biểu tại buổi làm việc.
Đồng thời, Thành phố tăng cường hợp tác quốc tế, hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, phát triển nhân lực, mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị quốc tế.
Ông Lin Jianwen - Thị trưởng Chính quyền Nhân dân thành phố Phổ Ninh cho biết địa phương có thế mạnh về dệt may, thương mại điện tử, logistics, dược liệu, chế biến thực phẩm và nông sản chất lượng cao; đồng thời sở hữu hệ thống sản xuất, cung ứng hàng hóa cùng mạng lưới doanh nghiệp kết nối với nhiều thị trường quốc tế. Những năm gần đây, Phổ Ninh đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong sản xuất, quản lý nhằm nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm.

Ông Lin Jianwen - Thị trưởng Chính quyền Nhân dân thành phố Phổ Ninh chia sẻ tại buổi làm việc.
Ông đánh giá Việt Nam là thị trường giàu tiềm năng, và bày tỏ mong muốn tăng cường kết nối với các cơ quan, hiệp hội và doanh nghiệp TP.HCM; đồng thời tiếp cận thông tin về chính sách và các chương trình hỗ trợ đầu tư trong những lĩnh vực hai bên cùng quan tâm.
Thúc đẩy kết nối doanh nghiệp và chuyển giao công nghệ
Tại buổi làm việc, hai bên đã trao đổi về các lĩnh vực có tiềm năng hợp tác trên cơ sở thế mạnh và nhu cầu phát triển của mỗi địa phương. Đại diện Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM đánh giá các lĩnh vực như dệt may, thương mại điện tử, logistics và chuỗi cung ứng của thành phố Phổ Ninh có nhiều điểm tương đồng với nhu cầu đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và mở rộng thị trường của các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố.
Trên tinh thần thống nhất cao, hai bên cam kết tăng cường chia sẻ thông tin, thiết lập các chương trình giao thương và kết nối cung - cầu công gắn với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp. Trọng tâm hợp tác sẽ hướng vào việc hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm đối tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đầu tư và thương mại hóa sản phẩm. Đặc biệt, hai địa phương sẽ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý chất lượng và truy xuất nguồn gốc đối với các nhóm hàng chiến lược như dệt may, dược liệu, thực phẩm và nông sản.
Bên cạnh hợp tác thương mại, hai bên sẽ tăng cường kết nối giữa mạng lưới các trung tâm đổi mới sáng tạo, vườn ươm, trường đại học và viện nghiên cứu. Thông qua đó, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp công nghệ, startup tham gia vào các chương trình ươm tạo, tăng tốc, triển lãm và diễn đàn xúc tiến đầu tư tại cả hai địa phương.
Kết thúc buổi làm việc, hai bên thống nhất tiếp tục duy trì đầu mối liên lạc, tăng cường trao đổi thông tin và nghiên cứu các nội dung hợp tác phù hợp trên cơ sở thế mạnh, nhu cầu phát triển của mỗi địa phương, góp phần thúc đẩy hợp tác về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển doanh nghiệp trong thời gian tới.

Đại diện Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM và thành phố Phổ Ninh trao quà lưu niệm tại buổi làm việc.

Đại biểu hai bên chụp ảnh lưu niệm sau buổi làm việc.
Nguyễn Tuyết
Kế hoạch 336/KH-UBND đề ra 3 nhiệm vụ trọng tâm gồm: phát triển hạ tầng kỹ thuật ngầm và quản lý cột treo cáp viễn thông, phát triển hạ tầng trạm thu phát sóng thông tin di động và phát triển điểm cung cấp dịch vụ viễn thông công cộng.
UBND Thành phố Hồ Chí Minh vừa ban hành Kế hoạch số 336/KH-UBND về phát triển hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2035 nhằm xây dựng hạ tầng viễn thông hiện đại, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển hạ tầng số, kinh tế số, xã hội số và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Theo Kế hoạch, Thành phố đặt mục tiêu bảo đảm 100% phủ sóng 5G tại các khu vực trung tâm phục vụ hành chính và các khu vực trọng điểm, bảo đảm chất lượng băng thông trên 100 Mbps, không có vùng lõm sóng 5G, bảo đảm 100% mạng cáp truyền dẫn phục vụ cơ quan, tổ chức và hộ gia đình có khả năng truy cập tốc độ trên 1 Gbps.
Thành phố cũng đẩy mạnh quản lý, khai thác hiệu quả hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động, tăng cường chia sẻ, sử dụng chung hạ tầng giữa các ngành, lĩnh vực và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, vận hành.

Ảnh minh họa.
Để thực hiện các mục tiêu trên, Kế hoạch đề ra 03 nhóm nhiệm vụ trọng tâm. Nhiệm vụ thứ nhất, phát triển hạ tầng kỹ thuật ngầm và quản lý cột treo cáp viễn thông, tập trung ngầm hóa cáp viễn thông gắn với ngầm hóa lưới điện, giảm dần hệ thống cột treo cáp tại khu vực trung tâm và trung tâm hành chính các xã, phường, đặc khu; đồng thời tiếp tục mở rộng, kết nối các tuyến đã triển khai; tổng khối lượng khoảng 700 tuyến (tương đương 2.000 km).
Nhiệm vụ thứ hai là phát triển hạ tầng trạm thu phát sóng thông tin di động (cột ăng ten). Thành phố sẽ tập trung nâng cao chất lượng mạng thông tin di động để đáp ứng nhu cầu phát triển các dịch vụ mới trên nền tảng 4G, 5G và các thế hệ tiếp theo, thúc đẩy việc chia sẻ, sử dụng chung hạ tầng giữa các doanh nghiệp viễn thông nhằm giảm số lượng trạm độc lập.
Nhiệm vụ thứ ba là phát triển điểm cung cấp dịch vụ viễn thông công cộng. Thành phố sẽ hoàn thiện mạng lưới các điểm cung cấp dịch vụ viễn thông công cộng, xây dựng các trạm thông tin đa năng theo nguyên tắc chia sẻ, sử dụng chung hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ giữa các ngành, lĩnh vực.
Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh là cơ quan chủ trì tổ chức triển khai Kế hoạch; phối hợp với các sở, ngành, địa phương, doanh nghiệp và các đơn vị liên quan triển khai các nhiệm vụ theo lộ trình. Đồng thời, Sở là đầu mối tổng hợp thông tin, dữ liệu về hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động; theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện, báo cáo UBND Thành phố và đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai. Việc triển khai Kế hoạch 336/KH-UBND góp phần xây dựng hạ tầng viễn thông hiện đại, đồng bộ, tạo nền tảng phát triển hạ tầng số, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số và xây dựng đô thị thông minh trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Hoàng Kim
Phương pháp mới giúp giảm đau sau mổ, cải thiện thẩm mỹ và rút ngắn thời gian phục hồi ở bệnh nhân, quy trình kỹ thuật được chuẩn hóa phù hợp điều kiện trang thiết bị và nhân lực của hệ thống y tế trong nước.
Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh vừa tổ chức Hội đồng tư vấn đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không sử dụng ngân sách nhà nước “So sánh độ an toàn và hiệu quả của phẫu thuật nội soi một lỗ và nhiều lỗ trong điều trị thai ngoài tử cung tại Bệnh viện Hùng Vương”. Việc đánh giá được thực hiện trên cơ sở đề nghị của tổ chức chủ trì là Bệnh viện Hùng Vương.

Thai ngoài tử cung là cấp cứu sản phụ khoa thường gặp nhất trong ba tháng đầu thai kỳ, chiếm khoảng 1–2% các trường hợp có thai và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong mẹ trong giai đoạn này. Mục tiêu của nhiệm vụ nhằm đánh giá và so sánh tính an toàn cũng như hiệu quả giữa phẫu thuật nội soi một cổng (single-port laparoscopy – SPL) và phẫu thuật nội soi nhiều cổng (multi-port laparoscopy – MPL) trong điều trị thai ngoài tử cung tại Bệnh viện Hùng Vương.
Báo cáo tại buổi đánh giá, BSCKII. Huỳnh Xuân Nghiêm cho biết phẫu thuật nội soi cắt vòi tử cung là kỹ thuật chuẩn. Nhóm nghiên cứu thực hiện đổi mới nằm ở cách tiếp cận, là sử dụng một đường rạch duy nhất qua rốn thay vì 4 trocar (trocar là dụng cụ sử dụng trong phẫu thuật nội soi). Kỹ thuật SPL là bước tiến tiếp theo của phẫu thuật xâm lấn tối thiểu, hứa hẹn mang lại lợi ích về giảm đau sau mổ, cải thiện thẩm mỹ và rút ngắn thời gian phục hồi ở bệnh nhân.
Nhiệm vụ được thực hiện dưới hình thức nghiên cứu lâm sàng can thiệp – thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng (Randomized Controlled Trial – RCT) trên người bệnh, kết hợp với nghiên cứu hồi cứu y văn để xây dựng cơ sở khoa học và quy trình kỹ thuật chuẩn (SOP). Quy trình kỹ thuật được chuẩn hóa phù hợp điều kiện trang thiết bị và nhân lực của hệ thống y tế trong nước, chi phí triển khai thấp do tận dụng năng lực phẫu thuật nội soi sẵn có, chủ động về đào tạo, chuyển giao và cập nhật mà không phụ thuộc nguồn lực bên ngoài.
Đại diện nhóm nghiên cứu cho biết kết quả của nhiệm vụ là cơ sở để cập nhật và hoàn thiện phác đồ điều trị thai ngoài tử cung của Bệnh viện Hùng Vương và mạng lưới chỉ đạo tuyến chuyên ngành sản phụ khoa khu vực phía Nam, góp phần chuẩn hóa thực hành lâm sàng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Nhóm nghiên cứu cam kết tiếp tục đồng hành trong việc chuẩn hóa, đào tạo, chuyển giao kỹ thuật và hỗ trợ chuyên môn cho các đơn vị tiếp nhận, đồng thời sẵn sàng chia sẻ quy trình kỹ thuật, dữ liệu và kinh nghiệm triển khai nhằm bảo đảm áp dụng kỹ thuật SPL an toàn, hiệu quả trong hệ thống y tế.
Hoàng Kim
Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh vừa tổ chức Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ nghiên cứu về đánh giá rủi ro sự cố môi trường liên quan đến hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các khu chế xuất, khu công nghiệp. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung cơ sở khoa học và đề xuất các giải pháp giúp chủ động phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường trong thực tiễn.
Theo nhóm nghiên cứu, TP. Hồ Chí Minh hiện có 17 khu chế xuất (KCX) và khu công nghiệp (KCN) đang hoạt động với 19 hệ thống xử lý nước thải tập trung (XLNTTT), tổng công suất thiết kế khoảng 100.000 m³/ngày đêm. Mặc dù các hệ thống đều vận hành ổn định và đáp ứng quy chuẩn xả thải hiện hành, nguy cơ xảy ra sự cố môi trường vẫn hiện hữu do thiết bị vận hành liên tục, có thể bị "lão hóa", phát sinh lỗi hệ thống quan trắc hoặc tình trạng "sốc tải"…
PGS.TS. Vũ Văn Nghị, đại diện nhóm nghiên cứu trình bày các kết quả thực hiện nhiệm vụ
Nhiệm vụ "Nghiên cứu, đánh giá mức độ, quy mô, phạm vi tác động của các sự cố môi trường liên quan đến hệ thống xử lý nước thải tập trung của các khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh đến nguồn tiếp nhận và đề xuất các giải pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố và phục hồi môi trường có hiệu quả" do Viện Khoa học và Đổi mới Công nghệ chủ trì thực hiện, PGS.TS. Vũ Văn Nghị làm chủ nhiệm.
Mục tiêu của nhiệm vụ là nhận diện và lượng hóa rủi ro sự cố môi trường, đánh giá mức độ tác động đến nguồn tiếp nhận và đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp với điều kiện thực tế của TP. Hồ Chí Minh. Nhóm đã tiến hành các nội dung nghiên cứu tổng quan về sự cố môi trường từ hệ thống XLNTTT của KCX, KCN; khảo sát và đánh giá hiện trạng, nhận diện những rủi ro khi xảy ra sự cố đối với hệ thống XLNTTT; mô phỏng các kịch bản sự cố; đồng thời đề xuất giải pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố và phục hồi môi trường, xây dựng mô hình thí điểm nhằm kiểm chứng khả năng áp dụng trong thực tế.

Hình ảnh triển khai nội dung nghiên cứu: khảo sát thực địa hệ thống XLNTTT
Đại diện nhóm nghiên cứu cho biết, một trong những kết quả nổi bật của nhiệm vụ là xây dựng thành công bộ tiêu chí đánh giá chỉ số sự cố môi trường (EII) gồm ba nhóm tiêu chí: hiểm họa, phơi nhiễm và tính dễ bị tổn thương. Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đã phân hạng mức độ rủi ro đối với 19 hệ thống XLNTTT, gồm 5 hệ thống có mức rủi ro thấp, 7 hệ thống rủi ro trung bình và 7 hệ thống rủi ro cao. Kết quả này tạo cơ sở để cơ quan quản lý và đơn vị vận hành chủ động xây dựng kế hoạch giám sát, kiểm tra và lựa chọn giải pháp phòng ngừa phù hợp với từng hệ thống.
Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu áp dụng mô hình MIKE 11 để mô phỏng các kịch bản lan truyền chất ô nhiễm khi xảy ra sự cố môi trường. Kết quả cho thấy nồng độ các chất ô nhiễm tăng mạnh trong khoảng 12 giờ đầu và phạm vi ảnh hưởng trong một số kịch bản có thể lan xa tới 12,3 km, qua đó cung cấp cơ sở khoa học phục vụ xây dựng phương án ứng phó khẩn cấp. Kết quả nghiên cứu cũng góp phần định hướng chuyển từ phương thức xử lý sự cố mang tính bị động sang chủ động nhận diện nguy cơ và phòng ngừa từ sớm.
Trên cơ sở kết quả đánh giá rủi ro, nhiệm vụ đề xuất hệ thống giải pháp gồm 17 giải pháp phi công trình và 12 giải pháp công trình phù hợp với điều kiện vận hành thực tế tại các trạm XLNTTT. Các giải pháp này tập trung hoàn thiện quy trình quản lý, tăng cường giám sát và ứng dụng công nghệ thông minh trong theo dõi vận hành; bổ sung các hạng mục kỹ thuật như bể điều hòa, hồ sự cố và các công trình dự phòng nhằm giảm thiểu rủi ro khi xảy ra sự cố.
Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ được Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh tổ chức ngày 09/7/2026
Đáng chú ý, nhóm nghiên cứu đã xây dựng hai mô hình thí điểm tại Khu chế xuất Linh Trung I và Khu công nghiệp Lê Minh Xuân, đại diện cho hai hướng tiếp cận phi công trình và công trình. Với mô hình phi công trình, nhóm nghiên cứu đề xuất quy trình vận hành tận dụng tối đa dung tích các bể hiện hữu để lưu giữ nước thải trong thời gian xảy ra sự cố mà không phải đầu tư xây dựng mới. Trong khi đó, mô hình công trình đề xuất bổ sung hồ sự cố chuyên dụng kết hợp hệ thống giám sát và điều khiển tự động nhằm nâng cao khả năng kiểm soát, lưu giữ và tái xử lý nước thải. Hai mô hình đều hướng tới nguyên tắc không xả thải trong thời gian xảy ra sự cố, tăng khả năng phục hồi hệ thống, đồng thời tạo cơ sở để nghiên cứu nhân rộng tại các KCX, KCN có điều kiện tương đồng.
Thành viên hội đồng nhận xét, đánh giá kết quả nghiên cứu
Hội đồng nghiệm thu đánh giá nhiệm vụ được triển khai công phu, bám sát yêu cầu thực tiễn của TP. Hồ Chí Minh, đặc biệt là việc xây dựng được cơ sở dữ liệu phục vụ đánh giá rủi ro và lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các sự cố môi trường liên quan đến nước thải công nghiệp. Khung kế hoạch phòng ngừa, ứng phó và phục hồi môi trường được đề xuất theo quy định hiện hành, đáp ứng yêu cầu triển khai tại các KCX, KCN. Kết quả nghiên cứu được nhận định có giá trị khoa học và thực tiễn, góp phần bổ sung công cụ hỗ trợ cơ quan quản lý và đơn vị vận hành chủ động nhận diện nguy cơ, xác định các biện pháp kiểm soát rủi ro và xây dựng phương án phòng ngừa, ứng phó phù hợp.
Lam Vân
Ngày 9/7/2026, Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh tiếp và làm việc với Đoàn công tác tỉnh Aichi (Nhật Bản) trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc nhân kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Aichi (2016-2026).
Tại buổi làm việc, ông Hideaki Ohmura - Thống đốc tỉnh Aichi cho biết tỉnh Aichi là một trong những trung tâm công nghiệp hàng đầu Nhật Bản và là nơi đặt trụ sở của nhiều tập đoàn lớn, tiêu biểu như Toyota. Mối quan hệ giữa hai địa phương thường được duy trì thường xuyên thông qua nhiều hoạt động, trong đó Lễ hội Việt Nam - Thành phố Hồ Chí Minh tại Aichi đã trở thành hoạt động thường niên tiêu biểu, góp phần tăng cường hiểu biết và giao lưu kết nối doanh nghiệp giữa hai bên.
Ông Hideaki Ohmura phát biểu tại buổi làm việc
Phát biểu tại buổi làm việc, ông Lê Văn Thăng - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh đã gửi lời chúc mừng cho mối quan hệ hợp tác hữu nghị 10 năm giữa hai bên và cho biết, tỉnh Aichi là nơi tập trung ngành kinh tế mũi nhọn mà Thành phố đã và đang tập trung phát triển như robotics, công nghệ cao, công nghệ vũ trụ,... Với lợi thế bổ sung sẵn có của hai bên, ông hi vọng sau phần giới thiệu về Khu đô thị Khoa học - Công nghệ Bắc Thành phố Hồ Chí Minh sẽ mở ra một chương mới trong quan hệ hợp tác quốc tế, đặc biệt là trong việc thu hút các doanh nghiệp từ tỉnh Aichi tham gia vào hệ sinh thái khoa học công nghệ của Thành phố, góp phần hiện thực hóa Khu đô thị Khoa học - Công nghệ Bắc Thành phố trở thành điểm đến tiềm năng của các doanh nghiệp quốc tế trong thời gian tới.
Ông Lê Văn Thăng phát biểu tại buổi làm việc
Cũng tại buổi làm việc, đại diện phía tập đoàn Becamex đã trình bày tổng quan về Khu đô thị Khoa học - Công nghệ Bắc Thành phố Hồ Chí Minh cũng như những định hướng phát triển khu vực này trong tương lai. Theo đó, mô hình này tạo ra không gian và cơ hội để các ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp cùng cộng hưởng nguồn lực, thúc đẩy chuyển dịch mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, lấy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực trung tâm cho phát triển trong giai đoạn mới.
Thành công của buổi làm việc không chỉ là dấu mốc thắt chặt mối quan hệ hữu nghị trong 10 năm qua mà còn là một trong những tiền đề quan trọng để Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định tầm vóc chiến lược của các dự án trọng điểm, đồng thời thể hiện quyết tâm của Thành phố trong việc thu hút các nguồn lực công nghệ cao và kinh nghiệm từ các tập đoàn lớn tại Nhật Bản, đặc biệt đến từ Aichi.
*Một số hình ảnh tại buổi làm việc
Bộ công cụ đánh giá tăng trưởng xanh hỗ trợ theo dõi ở cấp vi mô theo ngành/lĩnh vực và ở cấp vĩ mô theo không gian quản trị đô thị, có thể tích hợp vào quy trình quản trị công và hỗ trợ ra quyết định chính sách ở cấp địa phương.
Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh vừa tổ chức Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ “Nghiên cứu xây dựng bộ công cụ đánh giá tăng trưởng xanh cho các ngành/lĩnh vực Thành phố Hồ Chí Minh”. Đây là nhiệm vụ do Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế tuần hoàn (ĐHQG Thành phố Hồ Chí Minh) chủ trì thực hiện, PGS.TS. Nguyễn Hồng Quân làm chủ nhiệm.
Mục tiêu của nhiệm vụ là xây dựng bộ công cụ đánh giá tăng trưởng xanh cho các ngành, lĩnh vực của Thành phố Hồ Chí Minh nhằm phục vụ đo lường, theo dõi, báo cáo, hỗ trợ điều hành và đề xuất lộ trình chuyển đổi xanh phù hợp với bối cảnh phát triển của Thành phố.

Báo cáo tại buổi nghiệm thu, đại diện nhóm thực hiện cho biết bộ công cụ đánh giá tăng trưởng xanh đã được phát triển hoàn thiện. Kết quả thử nghiệm ban đầu với khối lượng dữ liệu lớn, bao gồm dữ liệu nhiều năm và nhiều nhóm chỉ tiêu thuộc các lĩnh vực khác nhau, cho thấy bộ công cụ vận hành ổn định, đáp ứng yêu cầu lưu trữ, xử lý và tổng hợp dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước.
Về mặt dữ liệu, bộ công cụ đánh giá tăng trưởng xanh đã giải quyết hiệu quả những thách thức đặc thù vốn có như tính đa ngành, đa chỉ tiêu và không đồng nhất về định dạng, đơn vị đo lường và phương pháp thu thập. Thông qua các quy trình thu thập, kiểm tra, làm sạch và chuẩn hóa dữ liệu, nhóm thực hiện đã xây dựng được cơ sở dữ liệu có cấu trúc chặt chẽ, đồng nhất và có độ tin cậy cao. Cơ sở dữ liệu này cho phép theo dõi diễn biến các chỉ tiêu theo thời gian, so sánh giữa các lĩnh vực và hỗ trợ phân tích chuyên sâu phục vụ hoạch định chính sách.
Bên cạnh đó, bộ công cụ còn hỗ trợ xuất ra các báo cáo tổng hợp, biểu đồ xu hướng và cơ chế cảnh báo giúp lãnh đạo các cấp nhanh chóng nắm bắt tình hình thực hiện chỉ tiêu, nhận diện những lĩnh vực còn hạn chế và kịp thời điều chỉnh chính sách, góp phần nâng cao tính minh bạch, tính khoa học và hiệu quả trong quản lý tăng trưởng xanh của Thành phố Hồ Chí Minh.
Hoàng Kim
Sáng ngày 10/7, Ban Đô thị Hội đồng nhân dân (HĐND) TP.HCM đã làm việc với Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM cùng Ban Quản lý Khu Công nghệ cao nhằm khảo sát, trao đổi để hoàn thiện các nội dung phục vụ xây dựng các dự thảo nghị quyết trình Hội đồng nhân dân Thành phố để cụ thể hóa và chuẩn bị triển khai Luật Phát triển đô thị sau khi được Quốc hội thông qua.
Quang cảnh buổi làm việc.
Buổi làm việc có sự tham dự của ông Nguyễn Văn Dũng, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố; ông Hoàng Tùng, Trưởng Ban Đô thị HĐND Thành phố, ông Lê Văn Thăng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM, cùng đại diện các sở, ban, ngành liên quan.
Ông Hoàng Tùng, Trưởng Ban Đô thị HĐND phát biểu tại buổi làm việc.
Phát biểu tại buổi làm việc, ông Hoàng Tùng, Trưởng Ban Đô thị HĐND Thành phố nhấn mạnh, khối lượng công việc chuẩn bị triển khai Luật Phát triển đô thị rất lớn, trong khi thời gian thực hiện không nhiều. Do đó, ông đề nghị Sở Khoa học và Công nghệ cùng các đơn vị liên quan tập trung nghiên cứu, rà soát kỹ từng nội dung, bám sát tiến độ, bảo đảm các dự thảo nghị quyết được xây dựng trên cơ sở khoa học, thống nhất với hệ thống pháp luật và có tính khả thi cao trước khi trình Hội đồng nhân dân Thành phố xem xét.
Tại buổi khảo sát, Sở Khoa học và Công nghệ và Ban Quản lý Khu Công nghệ cao đã báo cáo tình hình xây dựng, đồng thời trao đổi, góp ý đối với các dự thảo nghị quyết thuộc lĩnh vực được phân công, tập trung rà soát, hoàn thiện các nội dung theo ý kiến của Ban Đô thị.
Trong số nhiều nội dung được trao đổi, lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là một trong những nội dung trọng tâm. Các đại biểu tập trung góp ý việc tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ nghiên cứu và phát triển, thu hút, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy hợp tác công - tư, đồng thời rà soát các chính sách ưu đãi về đầu tư, hạ tầng và sử dụng đất nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Bên cạnh đó, Ban Quản lý Khu Công nghệ cao cũng đề xuất tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về mô hình đô thị công nghệ cao, làm rõ các loại hình khu công nghệ cao và cơ chế đầu tư phù hợp đối với từng mô hình, góp phần tạo cơ sở xây dựng các chính sách phát triển khu công nghệ cao theo định hướng đô thị khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Thành phố.
Trên cơ sở các báo cáo và ý kiến trao đổi, các đại biểu tiếp tục rà soát phạm vi điều chỉnh, cơ sở pháp lý và tính thống nhất của các dự thảo nghị quyết; đồng thời nghiên cứu khả năng kế thừa các quy định đã được áp dụng tại Hà Nội và các cơ chế đặc thù của TP.HCM nhằm bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật và phù hợp với yêu cầu phát triển của đô thị đặc biệt.
Ông Nguyễn Văn Dũng, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố phát biểu tại buổi làm việc.
Phát biểu kết luận, ông Nguyễn Văn Dũng, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố ghi nhận sự chủ động của Sở Khoa học và Công nghệ cùng các đơn vị trong quá trình chuẩn bị các dự thảo nghị quyết. Đồng thời, Phó Chủ tịch HĐND cũng đề nghị các cơ quan tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Ban Đô thị, Sở Tư pháp và các sở, ngành liên quan để rà soát, hoàn thiện các dự thảo nghị quyết, bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ với quy hoạch phát triển đô thị. Ông kỳ vọng các nghị quyết sau khi được ban hành sẽ tạo nền tảng pháp lý quan trọng, góp phần triển khai hiệu quả Luật Phát triển đô thị trên địa bàn Thành phố.
Nguyễn Tuyết
Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh vừa tổ chức Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ "Nghiên cứu xây dựng quy chuẩn nước uống trực tiếp tại vòi trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh" do Trung tâm Công nghệ Môi trường (ENTEC) chủ trì thực hiện, TS. Phùng Anh Đức làm chủ nhiệm.
Kết quả nghiên cứu đã cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ đề xuất quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng nước uống trực tiếp tại vòi (NUTTTV), góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng nước, đáp ứng yêu cầu phát triển hệ thống cấp nước đô thị và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Theo nhóm nghiên cứu, mô hình cấp nước đô thị đạt chuẩn cho phép người dân uống trực tiếp tại vòi mới chỉ xuất hiện vài năm trở lại đây ở Việt Nam. Trong đó, TP. Hồ Chí Minh đã từng bước triển khai các điểm cấp nước uống trực tiếp tại một số không gian công cộng theo Quyết định số 205/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố. Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam mới có quy chuẩn QCVN 01-1:2024/BYT cho nước sạch sinh hoạt và QCVN 6-1:2010/BYT cho nước uống đóng chai/nước khoáng, chưa có quy chuẩn riêng đối với NUTTTV. Điều này dẫn đến khoảng trống trong công tác quản lý, giám sát chất lượng nước tại điểm sử dụng cũng như thiếu cơ sở thống nhất để đánh giá mức độ an toàn và triển khai rộng rãi mô hình cấp nước này.
Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ do Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh tổ chức
Nhiệm vụ nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xây dựng cơ sở khoa học làm căn cứ đánh giá chất lượng nước uống trực tiếp phục vụ công tác nâng cao chất lượng nước, hướng đến NUTTTV; đề xuất bộ quy chuẩn NUTTTV trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành các nội dung đánh giá, phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam về tiêu chuẩn, quy chuẩn NUTTTV; xác định các thông số giám sát chất lượng NUTTTV trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh trên cơ sở kết quả phân tích chất lượng nước phục vụ cho các nhà máy cấp nước, nước máy từ năm 2017 - 2024; đánh giá bổ sung chất lượng nước sinh hoạt và chất lượng nước uống trực tiếp tại vòi; xây dựng quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng NUTTTV phù hợp với điều kiện thực tế TP. Hồ Chí Minh; đề xuất các công cụ pháp lý, kinh tế, giải pháp kỹ thuật và truyền thông, tăng cường năng lực nhằm đảm bảo chất lượng nước uống tại vòi trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
Theo đó, nhiệm vụ đã phân tích dữ liệu gồm 5.146 mẫu nước sạch được thu thập trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2017 - 2024; đồng thời tiến hành lấy mẫu và phân tích bổ sung 80 mẫu nước tại các vòi nước và trụ nước công cộng trong cả mùa khô và mùa mưa. Trên cơ sở các dữ liệu này, nhóm nghiên cứu áp dụng các phương pháp QMRA (đánh giá rủi ro vi sinh định lượng) và AHP (phân tích thứ bậc) để xác định các thông số cần giám sát, bảo đảm các đề xuất được xây dựng trên cơ sở dữ liệu thực chứng và phù hợp với điều kiện hạ tầng cấp nước của Thành phố.
Kết quả đã đề xuất danh mục gồm 31 thông số giám sát chất lượng NUTTTV, thuộc 5 nhóm thông số chính: nhóm vi sinh vật (4 chỉ tiêu); nhóm vô cơ ưu tiên cao (4 chỉ tiêu); nhóm kim loại ưu tiên cao (5 chỉ tiêu); nhóm hóa chất hữu cơ và sản phẩm phụ khử trùng (14 chỉ tiêu); nhóm cảm quan và hóa học (4 chỉ tiêu). Kết quả nhiệm vụ cũng xây dựng dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng nước uống trực tiếp tại vòi, trong đó đề xuất các giới hạn đối với từng thông số chất lượng nước và các yêu cầu quản lý tương ứng. Đồng thời đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng NUTTTV trong thời gian tới. Các giải pháp tập trung vào nâng cấp công nghệ xử lý nước hiện hữu; bổ sung công nghệ xử lý nâng cao như ozon, than hoạt tính, màng UF/NF/RO, và UV; tăng cường giám sát chất lượng trên mạng lưới cấp nước, đảm bảo chất lượng tại điểm sử dụng; hoàn thiện các công cụ pháp lý và cơ chế quản lý, đẩy mạnh công khai thông tin chất lượng nước để nâng cao niềm tin của người dân đối với việc sử dụng nước uống trực tiếp tại vòi…

Hình ảnh triển khai nội dung nghiên cứu nhằm xây dựng dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng NUTTTV
Theo nhóm nghiên cứu, các giới hạn tối đa cho phép (MDL) quy định tại QCVN 01-1:2024/BYT được xác định là phù hợp để áp dụng cho mục tiêu NUTTTV trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Các ngưỡng này vừa đảm bảo sự hài hòa giữa yêu cầu bảo vệ sức khỏe cộng đồng và tính khả thi về công nghệ, kinh tế của hệ thống cấp nước hiện hữu, vừa tương thích với tiêu chuẩn quốc tế (WHO, US EPA, EU). Việc tuân thủ các ngưỡng này giúp kiểm soát hiệu quả rủi ro mà không gây áp lực không cần thiết lên quy trình vận hành và chi phí xử lý nước. Đối với nhóm vi sinh vật như E. coli, Coliform và Trực khuẩn mủ xanh có giới hạn < 1 CFU/100ml (tương đương không phát hiện) là hoàn toàn đồng nhất với nguyên tắc "Zero Tolerance" (Không chấp nhận rủi ro) của WHO và các tiêu chuẩn quốc tế.
Về lộ trình phát triển hệ thống NUTTTV ở TP. Hồ Chí Minh, nhiệm vụ đề xuất theo 3 giai đoạn: ngắn hạn (tập trung tối ưu công nghệ hiện có, kiểm soát clo dư, cải thiện vận hành mạng lưới…); trung hạn (bổ sung các công nghệ xử lý nâng cao, mở rộng hệ thống giám sát các chất ô nhiễm mới nổi và DBPs); dài hạn hướng tới xây dựng hệ thống đa lớp tích hợp công nghệ tiên tiến, kiểm soát toàn diện các chất ô nhiễm, ứng dụng giám sát thông minh và công khai dữ liệu nhằm đảm bảo an toàn, minh bạch…
Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ tại Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh ngày 07/7/2026
Hội đồng nghiệm thu đánh giá nhiệm vụ đã hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu đề ra, cung cấp được cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ việc xây dựng quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng NUTTTV. Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng nước khi đề xuất các thông số giám sát, ngưỡng giới hạn và các đề xuất quản lý được xây dựng trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, đồng thời bám sát điều kiện nguồn nước, hạ tầng cấp nước và đặc điểm quản lý của TP. Hồ Chí Minh. Các sản phẩm nghiên cứu có khả năng ứng dụng cụ thể nhằm triển khai theo Quyết định số 205/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh, trong đó có kế hoạch lắp đặt từ 1.500 - 2.000 vị trí nước uống trực tiếp tại vòi theo đề xuất của UBND các phường/xã.
Lam Vân
Kết quả nhiệm vụ khoa học và công nghệ vừa được bàn giao góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu số phục vụ quản lý đất đai, công trình và di sản văn hóa tại Công viên Lịch sử - Văn hóa Dân tộc, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong công tác quản lý của Thành phố.
Ngày 08/7/2026, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM phối hợp với Trung tâm Công nghệ thông tin và Địa không gian TP.HCM cùng Ban Quản lý Công viên Lịch sử - Văn hóa Dân tộc TP.HCM tổ chức lễ bàn giao kết quả và tài sản hình thành từ nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ GIS trong công tác quản lý đất đai, quản lý các công trình thuộc Công viên Lịch sử - Văn hóa Dân tộc”.
Đại diện Trung tâm Công nghệ thông tin và Địa không gian TP.HCM bàn giao kết quả nhiệm vụ cho Ban Quản lý Công viên Lịch sử - Văn hóa Dân tộc TP.HCM.
Tham dự buổi lễ có ông Trần Minh Tuấn, Phó Trưởng phòng Phát triển khoa học công nghệ, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM; ông Phạm Đức Thịnh, Phó Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin và Địa không gian TP.HCM; ông Từ Hồng Long, Phó Trưởng Ban Quản lý Công viên Lịch sử - Văn hóa Dân tộc TP.HCM cùng đại diện các đơn vị liên quan.
Nhiệm vụ do Trung tâm Công nghệ thông tin và Địa không gian TP.HCM chủ trì thực hiện, CN. Huỳnh Văn Thọ làm chủ nhiệm. Việc bàn giao được thực hiện sau khi nhiệm vụ được Sở Khoa học và Công nghệ công nhận kết quả, tạo cơ sở đưa sản phẩm nghiên cứu vào phục vụ công tác quản lý tại Ban Quản lý Công viên Lịch sử - Văn hóa Dân tộc.
Bàn giao đồng bộ cơ sở dữ liệu, phần mềm và mô hình số
Công viên Lịch sử - Văn hóa Dân tộc là công trình văn hóa, lịch sử trọng điểm của TP.HCM với quy mô hơn 400 ha, tập trung nhiều công trình, hạng mục, không gian văn hóa và hệ thống hạ tầng. Việc quản lý khối lượng lớn thông tin về đất đai, công trình và di sản trên phạm vi rộng đặt ra yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung, thuận tiện cho việc cập nhật, tra cứu và khai thác. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trong công tác quản lý Công viên, nhiệm vụ được thực hiện nhằm xây dựng hệ thống dữ liệu số, hỗ trợ quản lý đồng bộ đất đai, công trình và di sản văn hóa tại Công viên.
Tại buổi lễ, Trung tâm Công nghệ thông tin và Địa không gian TP.HCM đã bàn giao toàn bộ kết quả và tài sản hình thành từ nhiệm vụ, gồm: Cơ sở dữ liệu GIS các công trình, di sản văn hóa và thông tin đất đai; Hệ thống GIS hỗ trợ quản lý các công trình, di sản văn hóa và thông tin đất đai; Mô hình 3D/360 độ cho 01 công trình thuộc Công viên Lịch sử - Văn hóa Dân tộc; Quyền tác giả đối với tác phẩm “Phần mềm hệ thống GIS hỗ trợ quản lý các công trình, di sản văn hóa và thông tin đất đai tại Công viên Văn hóa - Lịch sử Dân tộc” (theo Giấy chứng nhận số 7246/2025/QTG ngày 03 tháng 9 năm 2025 của Cục Bản quyền Tác giả) cùng Báo cáo tóm tắt và báo cáo tổng kết nhiệm vụ.
Trong đó, cơ sở dữ liệu GIS được xây dựng theo tiêu chuẩn kỹ thuật, tích hợp thông tin về đất đai, công trình, hạ tầng, giao thông, cây xanh, quy hoạch và di sản văn hóa. Hệ thống phần mềm được phát triển với các chức năng quản trị, cập nhật, tra cứu, thống kê và quản lý dữ liệu, đồng thời tích hợp mô hình 3D/360 độ nhằm trực quan hóa thông tin, hỗ trợ hiệu quả công tác quản lý và khai thác dữ liệu.
Quang cảnh tại buổi lễ bàn giao nhiệm vụ.
Trong đó, cơ sở dữ liệu GIS được xây dựng theo tiêu chuẩn kỹ thuật, tích hợp dữ liệu về đất đai, công trình, hạ tầng, giao thông, cây xanh, quy hoạch và các di sản văn hóa của Công viên. Hệ thống phần mềm được phát triển với các chức năng quản trị, cập nhật, tra cứu, thống kê và quản lý dữ liệu, đồng thời tích hợp mô hình 3D/360 độ nhằm trực quan hóa thông tin, hỗ trợ hiệu quả công tác quản lý và khai thác dữ liệu.
Tăng cường hiệu quả quản lý và khai thác sau bàn giao
Lễ bàn giao đánh dấu bước chuyển giao kết quả nghiên cứu từ đơn vị chủ trì sang đơn vị thụ hưởng, góp phần đưa các sản phẩm khoa học và công nghệ vào phục vụ trực tiếp công tác quản lý tại Công viên Lịch sử - Văn hóa Dân tộc.
Theo biên bản bàn giao, bên giao xác nhận đã chuyển giao đầy đủ kết quả, tài sản và hồ sơ liên quan; bên nhận xác nhận đã tiếp nhận đầy đủ các sản phẩm của nhiệm vụ để quản lý, khai thác và sử dụng theo quy định. Đối với quyền tác giả phần mềm, Ban Quản lý Công viên Lịch sử - Văn hóa Dân tộc tiếp tục thực hiện các thủ tục chuyển nhượng quyền sở hữu theo quy định.
Việc đưa hệ thống GIS vào khai thác được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả quản lý dữ liệu đất đai, công trình và di sản văn hóa trên nền tảng số; hỗ trợ cập nhật, tra cứu, trực quan hóa thông tin, phục vụ công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị Công viên Lịch sử - Văn hóa Dân tộc. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để tiếp tục ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ vào giải quyết các yêu cầu thực tiễn, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa của TP.HCM.
Đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại lễ bàn giao kết quả và tài sản hình thành từ nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Nguyễn Tuyết