Chiều ngày 05/2/2026, ông Trần Trọng Tuyên, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM cùng Đoàn công tác số 43 đến thăm hỏi, chúc tết và trao quà cho các gia đình tiêu biểu trên địa bàn phường Tân Bình nhân dịp Xuân Bính Ngọ.
Hoạt động này nhằm thực hiện Kế hoạch số 35/KH-UBND ngày 27/01/2026 của Ủy ban nhân dân TP.HCM về việc tổ chức các Đoàn đại biểu Thành phố đi thăm các cá nhân, đơn vị nhân dịp Tết Bính Ngọ năm 2026.
Với tinh thần "đoàn kết - trọn vẹn - nghĩa tình", hoạt động này không chỉ trao những món quà vật chất mà còn thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thành phố đối với những người có công và các hoàn cảnh khó khăn trong dịp Tết cổ truyền của dân tộc.
Trong khuôn khổ chương trình của Đoàn công tác số 43, đại diện lãnh đạo Sở KH&CN cùng đại diện chính quyền địa phương phường Tân Bình tổ chức đến thăm, tặng quà 4 gia đình tiêu biểu trên địa bàn phường. Đây là các gia đình thuộc diện hộ cận nghèo, gia đình chính sách người có công, gia đình người cao tuổi và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, hiện đang sinh sống tại các khu dân cư trên địa bàn phường Tân Bình.

Một số hình ảnh đoàn công tác đến thăm và trao quà cho các gia đình tiêu biểu trên địa bàn phường Tân Bình, chiều 05/2/2026
Ảnh: Lam Vân, Hoàng Hân

Tại mỗi gia đình, đại diện lãnh đạo Sở và đoàn công tác đã tận tay trao quà và tiền hỗ trợ theo chế độ, thăm hỏi sức khỏe, đời sống, lắng nghe chia sẻ về hoàn cảnh sinh hoạt của các gia đình, đồng thời gửi lời chúc mừng năm mới và động viên các các gia đình có thêm niềm vui, đầm ấm. Các gia đình đều bày tỏ sự xúc động trước sự quan tâm, thăm hỏi kịp thời của lãnh đạo Thành phố và Sở Khoa học và Công nghệ trong dịp Tết đến, Xuân về.

Theo Kế hoạch số 35/KH-UBND, Thành phố sẽ tổ chức 51 đoàn đại biểu do lãnh đạo Thành phố và lãnh đạo các sở, ngành làm trưởng đoàn, đi thăm và tặng quà các đơn vị, gia đình tiêu biểu nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026. Các đoàn sẽ đến thăm hỏi, động viên và trao quà cho các đối tượng chính sách, người có công với cách mạng, người cao tuổi, hộ cận nghèo, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, cùng một số đơn vị lực lượng vũ trang, y tế, tổ chức xã hội trên địa bàn Thành phố… Qua đó thể hiện sự quan tâm, chăm lo của Thành phố đối với đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân trong dịp Tết cổ truyền.

Trong khuôn khổ Kế hoạch này, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM được phân công tham gia Đoàn công tác số 43. Theo đó, đại diện lãnh đạo Sở cùng đại diện chính quyền địa phương và các đơn vị phối hợp được phân công sẽ tổ chức đến thăm các đơn vị và gia đình tiêu biểu trên địa bàn các phường Bảy Hiền, Tân Sơn, Tân Bình, và xã Tân Nhựt.

Ông Trần Trọng Tuyên chia sẻ, chương trình thăm, tặng quà của Đoàn công tác số 43 tại phường Tân Bình diễn ra chu đáo, đúng kế hoạch, bảo đảm ý nghĩa thiết thực, để lại nhiều tình cảm tốt đẹp trong nhân dân địa phương, cũng như thể hiện tinh thần trách nhiệm và sự đồng hành của đội ngũ cán bộ, công chức Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM đối với cộng đồng xã hội. Qua đó góp phần cùng Thành phố thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, lan tỏa tinh thần nhân văn, nhân ái và truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Lam Vân (CISAST)
Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM vừa tổ chức Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ “Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến ngành nông nghiệp đô thị của Thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất giải pháp ứng phó” do TS. Trần Tuấn Việt làm chủ nhiệm, Viện Công nghệ nhiệt đới là cơ quan chủ trì.
Nghiên cứu được thực hiện với các mục tiêu cụ thể: (1) Phát triển và xây dựng kịch bản phát triển nông nghiệp đô thị Thành phố đến năm 2030 và 2050; (2) Nghiên cứu đánh giá được ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (theo 02 kịch bản: RCP 4.5 và RCP 8.5) đến nông nghiệp đô thị Thành phố (hiện tại) và theo kịch bản phát triển nông nghiệp đô thị (cho năm 2030 và năm 2050); (3) Đề xuất các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu cho ngành nông nghiệp đô thị và phát triển nông thôn Thành phố.
TS. Trần Tuấn Việt trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu tại Hội đồng.
Theo TS. Trần Tuấn Việt, kết quả khảo sát thực tế kết hợp điều tra xã hội học, phỏng vấn sâu và phân tích dữ liệu khí tượng - thủy văn, kinh tế - xã hội đã giúp nhóm nghiên cứu làm rõ hiện trạng nông nghiệp đô thị TP.HCM trên 7 lĩnh vực. Qua đó cho thấy, dù mức độ tác động của biến đổi khí hậu hiện ở mức trung bình, song rủi ro và tổn thương có xu hướng gia tăng trong dài hạn, nhất là ở các lĩnh vực thủy sản, diêm nghiệp, lâm nghiệp và thủy lợi.
Một kết quả nổi bật của nghiên cứu là việc xây dựng bộ chỉ số đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp đô thị, bao gồm các chỉ số về tổn thương sinh kế, tổn thương theo IPCC, tính dễ bị tổn thương khí hậu và rủi ro khí hậu. Các chỉ số này được lượng hóa theo hai kịch bản biến đổi khí hậu RCP4.5 và RCP8.5, áp dụng cho các mốc thời gian hiện tại, năm 2030 và năm 2050, qua đó phản ánh rõ mức độ rủi ro và tổn thương của từng lĩnh vực nông nghiệp đô thị theo không gian và thời gian.
Cùng với đó, nghiên cứu đã hoàn thiện hệ thống 42 bản đồ tổn thương cho 7 lĩnh vực nông nghiệp đô thị, thể hiện trực quan sự phân bố mức độ tác động của biến đổi khí hậu theo các kịch bản và giai đoạn phát triển khác nhau. Đây là bộ dữ liệu có giá trị thực tiễn cao, góp phần hỗ trợ công tác quy hoạch, quản lý và ra quyết định trong lĩnh vực nông nghiệp đô thị trên địa bàn Thành phố.
Toàn cảnh hội đồng nghiệm thu
Trên nền tảng kết quả đánh giá tác động, nhóm nghiên cứu đã xây dựng kịch bản phát triển nông nghiệp đô thị TP.HCM đến năm 2030 và 2050, bảo đảm phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố và các chương trình, quy hoạch liên quan. Đồng thời, hệ thống giải pháp và kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu được cụ thể hóa theo lộ trình nhiều giai đoạn từ năm 2025 đến 2035, cụ thể:
+ Giai đoạn 2025-2027: Tập trung hoàn thiện nền tảng chính sách, rà soát khung pháp lý, thí điểm công nghệ CSA và xây dựng năng lực ban đầu cho nông dân.
+ Giai đoạn 2028-2030: Mở rộng các chương trình thí điểm, tích hợp thích ứng vào quy hoạch ngành, tăng cường cơ chế tài chính.
+ Giai đoạn 2031-2035: Củng cố thành quả, thúc đẩy đổi mới liên tục và đảm bảo tính bền vững dài hạn.
Nghiên cứu đã làm rõ bức tranh tác động của biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp đô thị TP.HCM theo từng lĩnh vực và giai đoạn phát triển. Các kịch bản đến năm 2030, 2050 cùng hệ thống giải pháp ứng phó được đề xuất là căn cứ quan trọng để Thành phố chủ động lồng ghép thích ứng vào quy hoạch và triển khai nông nghiệp đô thị theo hướng bền vững.
Nguyễn Tuyết
Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM vừa tổ chức Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) "Chính sách chủ động về thị trường lao động đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững tại Thành phố Hồ Chí Minh".
Nhiệm vụ do TS. Mai Thị Quế làm chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM là đơn vị chủ trì thực hiện.
Trong bối cảnh thị trường lao động (TTLĐ) Thành phố đang chịu nhiều tác động từ quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng, chuyển đổi số và yêu cầu phát triển bền vững, việc xây dựng các chính sách theo hướng chủ động, dài hạn trở thành yêu cầu cấp thiết.
Thực tế cho thấy, nhiều lao động có kỹ năng thấp, lao động lớn tuổi đang có nguy cơ bị gạt ra khỏi guồng quay phát triển nếu không có các chính sách hỗ trợ chủ động. Đặc biệt trong bối cảnh tái cơ cấu nền kinh tế, cấu trúc TTLĐ có sự thay đổi, các chính sách chủ động (ALMPs) cần được ưu tiên nhằm can thiệp sớm vào phía cung (nâng cao kỹ năng), phía cầu (tạo việc làm, kích cầu lao động) và hoàn thiện cơ chế khớp nối cung - cầu giúp cân bằng TTLĐ, giảm thất nghiệp cơ cấu.
Nhiệm vụ nghiên cứu được triển khai với mục tiêu tổng quát là phân tích, đánh giá thực trạng các chính sách chủ động về TTLĐ tại Thành phố, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát, phân tích, đánh giá các chính sách chủ động về TTLĐ do Trung ương ban hành, đã và đang được triển khai thực tế tại TP.HCM, bao gồm các chương trình hỗ trợ đào tạo nghề (ĐTN), chương trình tín dụng ưu đãi tạo việc làm và chương trình dịch vụ việc làm công (DVVLC).

TS. Mai Thị Quế, chủ nhiệm nhiệm vụ, trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu
Theo nhóm nghiên cứu, nhiệm vụ tập trung trả lời các câu hỏi về mức độ bao phủ của chính sách, tác động đến thu nhập, việc làm và những rào cản khiến người lao động (NLĐ) chưa tiếp cận được các hỗ trợ từ Nhà nước. Kết quả cho thấy, cả 3 chương trình chủ động về TTLĐ có tác động theo chiều hướng tích cực đến việc làm, thu nhập và lan tỏa đến những người tham gia. Dưới tác động của chính sách, cơ hội việc làm của NLĐ được cải thiện; tín dụng ưu đãi giúp NLĐ sử dụng nguồn vốn vay để mở rộng các hoạt động sản xuất kinh doanh, duy trì và tạo việc làm. Dịch vụ việc làm công cung cấp thông tin về TTLĐ, tư vấn, giới thiệu giúp NLĐ tiếp cận cơ hội việc làm; chương trình hỗ trợ ĐTN giúp NLĐ nâng cao năng lực và khả năng thích ứng trước những biến động của TTLĐ. Bên cạnh đó, các chính sách cũng góp phần tăng khả năng chuyển đổi việc làm từ phi chính thức sang chính thức, đầy đủ và phù hợp với nhu cầu hơn; cơ hội việc làm và thu nhập của NLĐ được cải thiện, kéo giảm nghèo đa chiều, NLĐ và gia đình hiện thực hóa quyền tiếp cận giáo dục, y tế, nâng cao chất lượng cuộc sống, thúc đẩy hòa nhập xã hội.
Tuy nhiên, chính sách chưa bao phủ hết các nhóm dễ bị tổn thương trước những biến động của TTLĐ. Chương trình hỗ trợ ĐTN mặc dù có độ bao phủ rộng nhưng còn "bỏ sót" nhóm lao động chịu ảnh hưởng bởi những rào cản về điều kiện xã hội (quá trình tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi sang nền kinh tế xanh, kinh tế số, quá trình già hóa dân số, lao động di cư…). NLĐ gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận cơ hội việc làm, đa số lao động làm công việc không liên quan hoặc chỉ liên quan một phần nghề được đào tạo, khả năng phát triển trong công việc không cao. Bên cạnh đó, số lao động tiếp cận chính sách thực tế còn hạn chế và có xu hướng giảm; nhiều nhóm lao động khó khăn về việc làm do những rào cản xã hội cần được hỗ trợ ĐTN nhưng không thuộc diện thụ hưởng chính sách; thiếu cân đối giữa các nhóm mục tiêu đào tạo, trình độ đào tạo…
Nguồn vốn và đối tượng thụ hưởng tín dụng ưu đãi tạo việc làm có xu hướng tăng nhưng chưa đáp ứng nhu cầu thực tế; nguồn vốn vay tập trung vào mô hình sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ, hiệu quả kinh tế thấp… DVVLC mang tính giàn trải, thiếu tập trung vào nhóm mục tiêu; chưa thu hút được nhiều NLĐ và doanh nghiệp tham gia; hiệu quả kết nối cung - cầu chưa cao, nhiều lao động không tìm được việc làm sau khi được tư vấn, giới thiệu việc làm…
Trên cơ sở đó, nhiệm vụ đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách chủ động về TTLĐ tại TP.HCM, tập trung vào các nhóm giải pháp mở rộng độ bao phủ của chính sách, hoàn thiện các chương trình chủ động, tổ chức thực hiện chính sách chủ động về TTLĐ, đánh giá chính sách chủ động về TTLĐ. Cụ thể như xây dựng chính sách theo hướng tiếp cận toàn diện, lấy con người làm trung tâm, đảm bảo tính bao phủ; nâng cao năng lực dự báo và thông tin TTLĐ; phát triển kỹ năng và tái đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số; thúc đẩy liên kết giữa Nhà nước - cơ sở đào tạo - doanh nghiệp; tăng cường các chính sách hỗ trợ nhóm lao động dễ bị tổn thương trong tiến trình phát triển.

Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ tại Sở KH&CN TP.HCM chiều 30/1/2026
Các giải pháp tổ chức thực hiện chính sách được đề xuất: về hỗ trợ ĐTN, tăng cường năng lực thể chế của chương trình, đảm bảo hỗ trợ đào tạo đúng đối tượng và cam kết đầu ra sản phẩm; đa dạng hóa phương thức hỗ trợ; tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức. Đối với chính sách tín dụng ưu đãi tạo việc làm: tăng cường nguồn vốn ủy thác, nguồn vốn xã hội hóa giải quyết việc làm; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quản lý, nâng cao năng lực hệ thống ủy thác… Đối với chương trình DVVLC, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và chuẩn hóa nguồn nhân lực cho trung tâm DVVLC; hoàn thiện cơ sở dữ liệu về thông tin TTLĐ; tăng cường liên kết vùng; đa dạng hóa hình thức hỗ trợ NLĐ và doanh nghiệp tiếp cận thông tin cung - cầu lao động, thông tin về TTLĐ…
Nhiệm vụ cũng đưa ra các kiến nghị trọng tâm như: xây dựng khung pháp lý đồng bộ, linh hoạt và bao quát các vấn đề từ đào tạo kỹ năng đến tạo việc làm và kết nối việc làm; phân bổ nguồn ngân sách hiệu quả; kiến nghị Trung ương giao quyền tự quyết định cho TP.HCM trong việc sử dụng nguồn lực địa phương để triển khai các chính sách đặc thù, đột phá trong lĩnh vực TTLĐ…
Nhiệm vụ được đánh giá góp phần bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng chính sách chủ động về TTLĐ tại TP.HCM trong giai đoạn phát triển mới. Kết quả nghiên cứu có khả năng ứng dụng trong công tác quản lý, dự báo, tham mưu ban hành chính sách lao động - việc làm của TP.HCM, qua đó góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Việc triển khai hiệu quả các giải pháp đề xuất sẽ góp phần nâng cao khả năng thích ứng của TTLĐ trước các biến động, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững của TP.HCM trong dài hạn.
Lam Vân (CISAST)
Từ thực tiễn triển khai rộng khắp nhưng còn thiếu công cụ đo lường chất lượng một cách hệ thống, nhiệm vụ khoa học “Nâng cao chất lượng xây dựng Không gian văn hóa Hồ Chí Minh tại TP.HCM” do TS. Đoàn Nguyễn Thùy Trang làm chủ nhiệm, Học viện Cán bộ TP.HCM là cơ quan chủ trì, đã đề xuất khung tiếp cận khoa học cùng hệ thống tiêu chí đánh giá cụ thể, khả thi.
Kết quả này được Hội đồng nghiệm thu do Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM tổ chức ngày 04/02/2026 ghi nhận là bước chuyển quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng và tính thực chất trong quá trình triển khai các Không gian văn hóa (KGVH) Hồ Chí Minh trên địa bàn Thành phố.
Toàn cảnh hội đồng nghiệm thu
KGVH Hồ Chí Minh có thể hiểu là một chỉnh thể bao gồm các giá trị vật chất và tinh thần mang đậm dấu ấn văn hóa Hồ Chí Minh, được biểu hiện thông qua không gian địa lý, ký ức lịch sử, các thiết chế văn hóa, hoạt động văn hóa nhằm lan tỏa sâu rộng những giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào đời sống xã hội, thúc đẩy phát triển con người toàn diện trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa.
Trong thời gian qua, KGVH Hồ Chí Minh tại TP.HCM đã được triển khai rộng khắp, tạo nền tảng nhận thức xã hội tích cực và nhận được sự đồng thuận cao của cộng đồng. Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn còn những hạn chế nhất định khi chất lượng trải nghiệm, tính tương tác và mức độ tham gia chưa đồng đều; một số mô hình còn thiên về hình thức, chưa thật sự trở thành không gian văn hóa gắn với đời sống thường nhật. Trong bối cảnh đô thị phát triển nhanh và chuyển đổi số, yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả vận hành các Không gian văn hóa Hồ Chí Minh đặt ra ngày càng rõ nét. Vì vậy, việc triển khai nhiệm vụ nghiên cứu là cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn hiện nay.
TS. Đoàn Nguyễn Thùy Trang trình bày báo cáo nhiệm vụ nghiên cứu tại hội đồng
Báo cáo tại hội đồng, TS. Đoàn Nguyễn Thùy Trang cho biết, nghiên cứu tiếp cận KGVH Hồ Chí Minh như một hệ sinh thái văn hóa sống; thông qua khảo sát xã hội học, phỏng vấn sâu và quan sát thực tế, kết quả cho thấy KGVH Hồ Chí Minh được nhìn nhận như nền tảng tinh thần có vai trò giáo dục, gắn kết cộng đồng, đồng thời đã hình thành mạng lưới hơn 4.580 mô hình với sự ủng hộ cao của xã hội.
Trên cơ sở nhận diện đúng các “điểm nghẽn” cốt lõi, nhiệm vụ đã xây dựng hệ thống 11 giải pháp mang tính toàn diện và đồng bộ, có khả năng giải quyết căn cơ các vấn đề thực tiễn đặt ra. Các giải pháp được cấu trúc thành ba nhóm chiến lược gồm: củng cố nền tảng (chuẩn hóa nội dung, khuếch đại sự ủng hộ xã hội, xây dựng hệ sinh thái); khắc phục các điểm nghẽn trọng tâm (phát triển bao trùm, tối ưu nguồn lực, hoàn thiện cơ chế chính sách và đổi mới phương pháp tổ chức theo hướng tương tác, sáng tạo); và định hướng phát triển trong tương lai (xây dựng hệ sinh thái số, thúc đẩy mô hình đồng kiến tạo, gắn kết với không gian đô thị).
Hình thành hai sản phẩm khoa học ứng dụng có giá trị thực tiễn cao, đóng vai trò công cụ then chốt trong việc triển khai các giải pháp, gồm:
+ Thứ nhất là mô hình mẫu nâng cao chất lượng KGVH Hồ Chí Minh với cấu trúc “Hệ thống 5 thành tố động (5D)”, gồm nội dung, trải nghiệm, không gian, cộng đồng và tác động; đồng thời được cụ thể hóa thành ba mô hình cấp độ: mô hình Hạt nhân (cấp Thành phố), mô hình Chuyên đề (cấp Quận/Ngành) và mô hình Cộng đồng (cấp cơ sở), tạo khung định hướng lý luận và thực hành thống nhất.
+ Thứ hai là Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng KGVH Hồ Chí Minh gồm 5 nhóm, 20 tiêu chí chính và 54 tiêu chí thành phần, kèm theo hệ thống hướng dẫn áp dụng, góp phần chuẩn hóa công tác giám sát, tự đánh giá và cải tiến chất lượng một cách khoa học, thực chất.
Hội đồng nghiệm thu chụp ảnh lưu niệm cùng nhóm nghiên cứu tại buổi nghiệm thu nhiệm vụ khoa học.
Kết luận buổi làm việc, Hội đồng thống nhất nghiệm thu nhiệm vụ đạt yêu cầu, đánh giá cao giá trị thực tiễn và khả năng ứng dụng của kết quả nghiên cứu; đồng thời đề nghị nhóm nghiên cứu tiếp thu các ý kiến góp ý để hoàn thiện báo cáo. Kết quả này được kỳ vọng sẽ trở thành cơ sở tham khảo quan trọng cho công tác chuẩn hóa, nâng cao chất lượng và hiệu quả vận hành KGVH Hồ Chí Minh trong thời gian tới.
Nguyễn Tuyết
Chiều ngày 30/01/2026, Đảng ủy Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) TP.HCM tổ chức Hội nghị tổng kết hoạt động Đảng bộ năm 2025, triển khai chương trình công tác năm 2026, đồng thời công bố các quyết định khen thưởng đối với tổ chức đảng, đảng viên năm 2025.
Toàn cảnh hội nghị
Dấu ấn nổi bật trong lãnh đạo, triển khai các cơ chế đột phá
Năm 2025, bám sát chỉ đạo của Thành ủy và UBND Thành phố, Đảng ủy Sở KH&CN TP.HCM tập trung triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, tạo chuyển biến rõ nét trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nhiều chỉ tiêu trọng tâm đạt và vượt kế hoạch, khẳng định vai trò ngày càng rõ của KH&CN trong tăng trưởng và quản trị đô thị.
Với vai trò cơ quan thường trực tham mưu thực hiện Nghị quyết 57, Sở KH&CN hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ Trung ương giao, đồng thời chủ động đề xuất các cơ chế, chính sách mới theo Nghị quyết 98. Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo được thúc đẩy đồng bộ, từ hỗ trợ khởi nghiệp, trung tâm đổi mới sáng tạo đến các mô hình thử nghiệm có kiểm soát, từng bước tháo gỡ điểm nghẽn cho phát triển.
Dấu ấn năm 2025 còn thể hiện qua việc hình thành không gian đổi mới sáng tạo tại Tòa nhà 123 Trương Định cho hệ sinh thái khởi nghiệp, tổ chức các sự kiện chuyên đề về AI, Fintech, y tế số và Tuần lễ WISE+ 2025. Cùng với đó, chuyển đổi số của Thành phố tiếp tục đi vào chiều sâu, với hạ tầng và nền tảng quản trị đô thị thông minh ngày càng thực chất.
Công bố Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn, Thành phố đẩy mạnh hạ tầng số với 23.205 trạm 4G phủ sóng 100% và hơn 4.300 trạm 5G, tập trung phát triển 5 nhóm công nghệ trọng điểm làm nền tảng cho chuyển đổi số.
Đặc biệt, hệ thống thông tin dùng chung cho 168 phường, xã, đặc khu được tích hợp đồng bộ; HCM GIS với hơn 200 lớp dữ liệu và Digital Twin chính thức vận hành, đưa quản trị đô thị chuyển sang nền tảng dữ liệu. Phong trào “Bình dân học vụ số” huy động hơn 19.000 thành viên, cùng mô hình Trạm công dân số, robot hỗ trợ và diễn tập ứng phó sự cố bức xạ lần đầu, tạo chuyển biến thực chất trong cải cách hành chính.
Nâng cao năng lực lãnh đạo, xây dựng Đảng ủy Sở KH&CN vững mạnh, toàn diện
Bước sang năm 2026 được xác định là năm bản lề thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp. Đảng ủy sở KH&CN tập trung thực hiện quyết liệt các nhóm nhiệm vụ trọng tâm, xác định với chủ đề là “Hoàn thiện, nâng cao chất lượng tổ chức bộ máy - Khai thông thể chế - Đột phá hạ tầng - Nâng cao hiệu quả phục vụ Nhân dân”.
Theo đó, Sở đặt mục tiêu đưa kinh tế số đạt 30% GRDP, nâng tỷ trọng TFP lên 60%, tổng chi xã hội cho nghiên cứu và phát triển đạt 2-3% GRDP; tiếp tục nâng cao chất lượng xây dựng Đảng, phát huy vai trò tiên phong của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong phát triển Thành phố Hồ Chí Minh nhanh và bền vững.
Tập trung triển khai khung quản trị thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW, gắn với mô hình tổ chức sau sáp nhập và định hướng phát triển vùng Đông Nam Bộ; ưu tiên các lĩnh vực mũi nhọn như robot, hàng không, vũ trụ, bán dẫn, công nghệ số, công nghệ sinh học cùng các mô hình thử nghiệm có kiểm soát (sandbox). Song song đó, Sở khai thác hiệu quả Luật Công nghiệp công nghệ số và các cơ chế đột phá của Nghị quyết 98 (sửa đổi), tăng cường kết nối Nhà nước - viện, trường - doanh nghiệp.
Cùng dịp này, Đảng ủy Sở KH&CN TP.HCM đã biểu dương, khen thưởng các tập thể và cá nhân tiêu biểu có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ năm 2025. Việc khen thưởng nhằm ghi nhận những nỗ lực, đóng góp nổi bật của các tập thể, đảng viên trong công tác xây dựng Đảng và thực hiện nhiệm vụ chính trị, đồng thời tạo động lực thi đua, lan tỏa tinh thần trách nhiệm, đổi mới và cống hiến trong toàn Đảng bộ.
Bí thư Đảng uỷ, Giám đốc Sở KH&CN Lâm Đình Thắng phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị
Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Bí thư Đảng uỷ, Giám đốc Sở KH&CN Lâm Đình Thắng ghi nhận tinh thần trách nhiệm, sự nỗ lực của toàn thể cán bộ, đảng viên trong năm 2025 là năm được xác định là giai đoạn khởi động, tạo nền tảng cho đổi mới cách làm. Dù còn một số chỉ tiêu chưa trọn vẹn, nhưng nhìn chung các chi bộ đã chủ động hơn trong sinh hoạt, tìm kiếm hướng đi mới, bám sát chỉ đạo của cấp trên; nhiều đơn vị từng bước ổn định tổ chức, nâng chất hoạt động và đạt kết quả tích cực. Đảng ủy và Ban Giám đốc nhấn mạnh đoàn kết nội bộ là nguyên tắc tiên quyết để tạo dấu ấn, thống nhất hành động và đi đến thành công; đồng thời trân trọng cảm ơn sự quan tâm, hỗ trợ, chỉ đạo sát sao của cấp ủy cấp trên và sự đồng lòng của tập thể trong một năm nhiều thách thức.
Bước sang năm 2026 là giai đoạn tăng tốc đột phá, Bí thư nhấn mạnh điều đầu tiên cần quan tâm là thống nhất phương châm điều hành chuyển từ kế hoạch, quy trình sang kết quả cuối cùng, lấy sản phẩm cụ thể và hiệu quả thực tế làm thước đo đánh giá, với tinh thần kỷ luật hành động và thực hiện đến cùng. Cùng với đó, công tác Đảng năm 2026 được định hướng theo 4 cụm từ: nghiêm túc – bài bản – đổi mới – có điểm nhấn; trong đó, nghiêm túc và bài bản là thực hiện đầy đủ, đúng tiến độ các chủ trương, chỉ đạo của cấp trên; đổi mới gắn với cách làm sáng tạo, hiệu quả; có điểm nhấn nhằm tạo dấu ấn rõ nét trong từng nhiệm vụ. Mỗi đơn vị, mỗi cá nhân được giao việc phải theo đuổi đến cùng kết quả, góp phần lan tỏa giá trị thực chất và nâng cao hiệu quả chung của toàn Sở.
Một số hình ảnh tại hội nghị trao giấy khen khen tập thể, cá nhân Đảng viên tiêu biểu:
Nguyễn Tuyết
Sáng ngày 15/01/2026, tại Trung tâm Hội nghị và Triển lãm Bình Dương, Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh chính thức công bố Đề án phát triển “Đô thị Khoa học Công nghệ (KHCN) - Bắc TP.HCM”. Đây là công trình trọng điểm cấp Thành phố được đăng ký chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Đô thị KHCN phía Bắc được Thành phố định vị là hạt nhân chiến lược, đóng vai trò “bộ não khoa học công nghệ” điều phối chuỗi sản xuất công nghệ cao quy mô lớn tại khu vực phía Bắc và Tây Bắc TP.HCM. Sự ra đời của Đề án khẳng định quyết tâm chính trị trong việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ thâm dụng lao động sang kinh tế tri thức và đổi mới sáng tạo.

Phối cảnh đô thị khoa học công nghệ Bắc TP.HCM, trong đó tòa nhà Trung tâm hành chính Bình Dương sẽ được chuyển đổi công năng thành tòa nhà khoa học công nghệ
Thành phố vận dụng Nghị quyết 98/2023/QH15 và Nghị quyết 260/2025/QH15 để thiết lập mô hình quản trị mới. Đặc biệt, một "không gian thử nghiệm có kiểm soát" (sandbox) sẽ được thiết lập dành cho các công nghệ mới, mô hình quản trị và chính sách vượt trội, biến nơi đây thành điểm đến hàng đầu của các startup và tập đoàn công nghệ toàn cầu. Các ngành công nghiệp mũi nhọn được tập trung đột phá bao gồm: chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), vi mạch và thiết bị bay không người lái (UAV/drone).
|
Đô thị KHCN phía Bắc được xây dựng dựa trên mô hình không gian tích hợp “Nghiên cứu – Đào tạo – Sản xuất” quy mô lớn Đề án phát triển “Đô thị Khoa học công nghệ - Bắc TP.HCM” được phê duyệt ngày 14/01/2026 tại Quyết định số 315/QĐ-UBND. Đây được xem là bước cụ thể hóa các chủ trương lớn của Trung ương, đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Theo Đề án, vùng lõi đổi mới sáng tạo có diện tích khoảng 220 ha, tọa lạc tại Phường Bình Dương, bao gồm Khu Công nghệ số tập trung TP.HCM (100 ha), Khu Công nghệ số tập trung Bình Dương (15 ha) và Trung tâm Đa chức năng KHCN (20 ha) được chuyển đổi từ Trung tâm Hành chính cũ. Vành đai sản xuất công nghệ cao (trên 3.100 ha), kết nối trực tiếp với các khu công nghiệp thế hệ mới như VSIP III, Cây Trường, Riverside, Lai Hưng. Cấu trúc này giúp rút ngắn chu trình từ nghiên cứu, thử nghiệm đến sản xuất và thương mại hóa sản phẩm, hình thành một hệ sinh thái khép kín và hiệu quả. Mạng lưới đối tác nghiên cứu hàng đầu như A*STAR, Fraunhofer ENAS cùng các tập đoàn FDI chiến lược (Sembcorp, Tokyu, Warburg Pincus, LEGO, Qualcomm), tạo nền tảng vững chắc cho hợp tác quốc tế và chuyển giao công nghệ. |
UBND Thành phố xác định phát triển hạ tầng đa phương thức là nền tảng quan trọng để Đô thị KHCN phía Bắc vận hành hiệu quả. Các tuyến giao thông chiến lược như Quốc lộ 13, Mỹ Phước – Tân Vạn, Vành đai 3, Vành đai 4 cùng hệ thống metro số 1 và số 2 sẽ được ưu tiên đầu tư, tạo hành lang kết nối thông suốt giữa đô thị, khu công nghiệp và trung tâm Thành phố. Bên cạnh đó, Đề án còn tiên phong hướng tới mục tiêu Net Zero thông qua mô hình Khu công nghiệp sinh thái (EIP) và đô thị xanh, cam kết trung hòa carbon vào năm 2050. Để khẳng định tính khả thi, UBND Thành phố cam kết khởi công ít nhất một công trình hạ tầng trọng điểm ngay trong Quý I/2026.
Lễ công bố Đề án mang ý nghĩa chính trị – đối ngoại sâu sắc, gắn với kỷ niệm 30 năm hợp tác Việt Nam – Singapore (VSIP), đồng thời khẳng định vai trò tiên phong của TP.HCM trong đổi mới mô hình phát triển. Chương trình lễ công bố cũng dành thời gian cho các tham luận quan trọng về mô hình phát triển từ Hà Lan, nền tảng trung tâm dữ liệu và chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Với định hướng lấy con người làm trung tâm, Đô thị KHCN - Bắc TP.HCM kỳ vọng tạo đột phá về tăng trưởng kinh tế, mở ra nhiều cơ hội việc làm chất lượng cao và nâng tầm chất lượng nguồn nhân lực tại địa phương. Đây là minh chứng rõ nét cho tinh thần đột phá của TP.HCM, tạo niềm tin vững chắc cho cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư quốc tế.
Lam Vân (CISAST)
Năm 2025, tình hình kinh tế - xã hội TP.HCM tiếp tục ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực, cho thấy xu hướng phục hồi ổn định và bền vững trong bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế còn nhiều biến động. Các chỉ tiêu chủ yếu về tăng trưởng, đầu tư, sản xuất công nghiệp, thương mại - dịch vụ, ngân sách, lao động - việc làm đều đạt kết quả khả quan, khẳng định vai trò đầu tàu kinh tế của Thành phố.
TP.HCM - đầu tàu kinh tế cả nước, hướng tới tăng trưởng bền vững.
Kinh tế - xã hội TP.HCM năm 2025 khởi sắc
Theo số liệu do Cục Thống kê TP.HCM công bố, tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố (GRDP) trong quí 4-2025 tăng 9,03% cao hơn so với các quí trước đó. Cụ thể, quí 1 tăng 5,81%; quí 2 tăng 7,24%; quí 3 tăng 7,85%. Nếu không tính dầu khí, GRDP quí 4 tăng 9,12%.
GRDP năm 2025 của TP.HCM tăng 7,53%; nếu không tính dầu khí, GRDP tăng 8,03%, trong đó hoạt động dầu khí làm giảm 0,5 điểm phần trăm mức tăng chung. Khu vực dịch vụ tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu với mức tăng 8,76%, đóng góp 59,4% vào tăng trưởng GRDP; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 6,14%, đóng góp 30,2%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,36%.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng hiện đại, với khu vực dịch vụ chiếm 52,2%; công nghiệp - xây dựng 35,2%; nông, lâm nghiệp và thủy sản 1,7%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,9%.
GRDP của TP.HCM năm 2025. Nguồn: Thống kê TP.HCM
Cùng với sản xuất, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 684.877 tỷ đồng, tăng 11,9% so với năm 2024; trong đó vốn nhà nước tăng 41,4%, phản ánh nỗ lực đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, còn vốn ngoài nhà nước và vốn đầu tư nước ngoài duy trì ổn định. Thu hút FDI đạt hơn 8,2 tỷ USD, tăng 21,8%, cho thấy niềm tin của nhà đầu tư đối với môi trường kinh doanh của Thành phố.
Hoạt động thương mại - dịch vụ tăng trưởng mạnh, với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 1.945.836 tỷ đồng, tăng 15,5%. Trong đó, bán lẻ hàng hóa tăng 15,8%; dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 24,7%; dịch vụ lữ hành tăng 23,7%, phản ánh sự phục hồi rõ nét của du lịch và tiêu dùng nội địa. Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 596.745 tỷ đồng, tăng 13,9%, góp phần bảo đảm lưu thông và chuỗi cung ứng.
Hoạt động xuất nhập khẩu duy trì đà tăng trưởng trong bối cảnh thương mại toàn cầu còn nhiều thách thức, với kim ngạch xuất khẩu đạt 91,4 tỷ USD (tăng 2,8%) và kim ngạch nhập khẩu đạt 98,5 tỷ USD (tăng 4,8%); các mặt hàng xuất khẩu chủ lực tiếp tục giữ thị trường ổn định và mở rộng sang thị trường mới.
Công tác thu - chi ngân sách đạt kết quả tích cực, tổng thu cân đối ngân sách đạt 773.888 tỷ đồng, tăng 13,4%; tổng chi ngân sách địa phương đạt 258.550 tỷ đồng, tăng 67,9%, tập trung cho đầu tư phát triển và an sinh xã hội. Hoạt động ngân hàng ổn định, tổng vốn huy động tăng 11,9%, tổng dư nợ tín dụng tăng 13,5%, đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất - kinh doanh.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân tăng 3,92%, nằm trong ngưỡng kiểm soát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và đời sống người dân. Trong năm, Thành phố đã giải quyết việc làm cho 494.252 lượt lao động, trong đó tạo việc làm mới cho 177.047 người; công tác bảo hiểm thất nghiệp được triển khai kịp thời, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và ổn định thị trường lao động.
TP.HCM sẵn sàng tăng tốc năm 2026
Bước sang năm 2026, TP.HCM đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP 10–11%, hướng tới mức tăng trưởng hai con số, trong đó đầu tư công tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt, tạo lực kéo cho tăng trưởng và huy động các nguồn lực đầu tư xã hội.
TP.HCM dự kiến triển khai đồng loạt nhiều dự án hạ tầng trọng điểm, với tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 880.000 tỷ đồng, riêng vốn đầu tư công khoảng 148.000 tỷ đồng, yêu cầu giải ngân đạt 100% kế hoạch.
Cùng với đầu tư công, Thành phố sẽ triển khai thực hiện Nghị quyết số 260/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung Nghị quyết 98/2023/QH15, với yêu cầu cao về tốc độ, sự chủ động và tính đột phá trong tổ chức thực hiện. Việc sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp, vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ đầu năm 2026 cũng được xác định là nhiệm vụ trọng tâm.
TP.HCM trong tiến trình phát triển năng động và hiện đại. Nguồn: Thống kê TP.HCM
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực tăng trưởng bền vững
Trong định hướng phát triển giai đoạn tới, TP.HCM xác định khoa học, công nghệ (KH-CN) và đổi mới sáng tạo là một trong những động lực then chốt, góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Trong lĩnh vực này, theo Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) TP.HCM, trong dự toán ngân sách năm 2026, Thành phố dự kiến bố trí 12.705 tỷ đồng cho KH-CN, chiếm 4,16%, phù hợp định hướng phát triển của Thành phố và cao hơn mức bình quân chung. Cùng với đó, Thành phố triển khai Đề án Quỹ đầu tư mạo hiểm nhằm mở rộng kênh huy động nguồn lực cho các hoạt động đổi mới sáng tạo.
Không gian Trung tâm Đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế tại TP.HCM. Nguồn: plo.vn
Sở KH&CN thông tin thêm, TP.HCM đã ban hành Đề án Thương mại hóa nhằm đưa nhanh kết quả nghiên cứu và tài sản trí tuệ từ ngân sách nhà nước vào sản xuất - kinh doanh; đồng thời triển khai Đề án xây dựng Trung tâm Đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế, với ĐHQG TP.HCM và Khu Công nghệ cao TP.HCM làm hạt nhân. Thành phố cũng đang nghiên cứu xây dựng cơ chế sandbox cho quản lý tài sản số và công nghệ blockchain, tạo không gian thử nghiệm cho các mô hình và công nghệ mới.
Bức tranh kinh tế năm 2025 cho thấy TP.HCM đã giữ vững đà tăng trưởng và vai trò đầu tàu của cả nước. Trên nền tảng đó, Thành phố bước vào giai đoạn mới với yêu cầu tăng tốc đi kèm đổi mới mô hình tăng trưởng, trong đó KH-CN và đổi mới sáng tạo tiếp tục đóng vai trò then chốt.
Nguyễn Tuyết
Trong hai ngày 10 và 11/12/2025, Quốc hội đã đồng thời thông qua 05 luật quan trọng, bao gồm: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ; Luật Công nghệ cao (sửa đổi); Luật Chuyển đổi số; Luật Trí tuệ nhân tạo.
Việc thông qua 05 đạo luật này được đánh giá là bước hoàn thiện quan trọng trong hệ thống chính sách, pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo hành lang pháp lý thúc đẩy phát triển các ngành công nghệ mới, đồng thời đáp ứng yêu cầu quản lý trong bối cảnh kinh tế số, xã hội số và trí tuệ nhân tạo đang phát triển nhanh chóng.
Trên cơ sở đó, Bộ Khoa học và Công nghệ đã hệ thống hóa các quan điểm chỉ đạo của Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng tại từng Luật thông qua ấn phẩm E-magazine. Ấn phẩm cũng được đăng tải trên cổng thông tin điện tử và fanpage của Bộ Khoa học và Công nghệ:
UBND TP.Hồ Chí Minh vừa ban hành quyết định số 3301/QĐ-UBND ngày 19/12/2025 về Chương trình thúc đẩy phát triển kinh tế số Thành phố giai đoạn 2026 - 2030, với tầm nhìn đến năm 2030 đưa Thành phố trở thành siêu đô thị toàn cầu hiện đại, trung tâm kinh tế số và đổi mới sáng tạo hàng đầu của Việt Nam, giữ vai trò đầu tàu phát triển kinh tế - tài chính, khoa học - công nghệ (KH-CN) của khu vực Đông Nam Á.
Ảnh minh họa
Những con số định hình bước đi kinh tế số
Theo chương trình, mục tiêu tổng quát là nâng cao năng suất và chất lượng tăng trưởng kinh tế trên nền tảng số hóa toàn diện các ngành, phát triển mạnh các ngành kinh tế số lõi, hình thành và mở rộng các mô hình kinh doanh mới dựa trên công nghệ số. Đồng thời xây dựng hệ sinh thái số bền vững, bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng và phát huy vai trò tiên phong của Thành phố trong triển khai mô hình tăng trưởng mới gắn với KH-CN, đổi mới sáng tạo và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Mục tiêu đến năm 2026, kinh tế số dự kiến chiếm 18,5% GRDP, tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành đạt tối thiểu 13,4%; thương mại điện tử chiếm 13,4% tổng mức bán lẻ. Thành phố đặt mục tiêu mở rộng ứng dụng nền tảng số trong các lĩnh vực then chốt, với 93% cảng biển, 43% cơ sở du lịch, 23% trang trại, hợp tác xã nông nghiệp và 17% nhà máy áp dụng nền tảng số trong quản trị, sản xuất; tỷ lệ lao động kinh tế số đạt trên 2% lực lượng lao động.
Đến năm 2030, kinh tế số được kỳ vọng đóng góp 30–40% GRDP, tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành đạt tối thiểu 20%, thương mại điện tử chiếm 20% tổng mức bán lẻ. Thành phố sẽ hình thành sàn giao dịch dữ liệu, ít nhất 2 trung tâm dữ liệu và 2 khu công nghệ số tập trung; mở rộng chuyển đổi số toàn diện trong bán lẻ, logistics, du lịch, nông nghiệp và công nghiệp, hướng tới 100% cảng biển, 70% cơ sở du lịch, 50% nhà máy và hợp tác xã nông nghiệp sử dụng nền tảng số, đồng thời phát triển 2–5 doanh nghiệp công nghệ số có năng lực cung cấp dịch vụ nền tảng và xuất khẩu ra thị trường quốc tế.
TP.HCM kết nối khu lõi đô thị, trung tâm công nghiệp - công nghệ và kinh tế biển, tạo nền tảng thúc đẩy phát triển kinh tế số và đổi mới sáng tạo trong giai đoạn mới. Ảnh internet
Năm nhóm nhiệm vụ trọng tâm
Nhiệm vụ trọng tâm đầu tiên của Chiến lược là nâng cao nhận thức số, trong đó đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị; đưa kết quả chuyển đổi số vào tiêu chí đánh giá nhiệm vụ hằng năm. Thành phố tổ chức đánh giá, xếp hạng mức độ chuyển đổi số (DTI) các cơ quan nhà nước, tổ chức truyền thông sâu rộng về chuyển đổi số, phát huy vai trò Tổ công nghệ số cộng đồng và triển khai các sự kiện, cuộc thi thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Thứ hai, về hoàn thiện thể chế, chính sách, Thành phố xây dựng các mô hình mới, tập trung rà soát, cập nhật khung pháp lý, tạo không gian thử nghiệm cho đổi mới sáng tạo, đồng thời bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng và quyền lợi của người dân, doanh nghiệp trên môi trường số.
Thứ ba, phát triển hạ tầng số và kinh tế số đa ngành cũng là nhóm nhiệm vụ trọng tâm, là nền móng của kinh tế số. Thành phố ưu tiên đầu tư hạ tầng viễn thông, trung tâm dữ liệu và nền tảng số dùng chung, qua đó thúc đẩy chuyển đổi số trong các ngành có lợi thế như công nghiệp công nghệ cao, logistics, cảng biển, thương mại và du lịch, từng bước hình thành hệ sinh thái kinh tế số liên thông và hiệu quả.
Thứ tư, Thành phố tập trung hình thành mạng lưới liên kết chặt chẽ giữa viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và nhà đầu tư; thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ; phát triển thị trường KH-CN; hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo và từng bước hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo chuyên sâu.
Thứ năm, đẩy mạnh hợp tác, liên kết cũng là nội dung xuyên suốt của Chương trình, với trọng tâm tăng cường liên kết vùng, mở rộng hợp tác quốc tế về KH-CN và chuyển đổi số; thu hút nguồn lực xã hội và đầu tư công nghệ cao; thúc đẩy chuyển giao công nghệ, chia sẻ tri thức và kinh nghiệm quản trị, qua đó mở rộng không gian phát triển và nâng cao vị thế của Thành phố trong mạng lưới kinh tế số khu vực và toàn cầu..
Trong quá trình triển khai Chương trình, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM là đầu mối tham mưu, phối hợp các sở, ngành và địa phương tổ chức thực hiện các nhiệm vụ về KH-CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Thông qua cơ chế điều phối liên ngành và phát triển hệ sinh thái công nghệ số, Chương trình được kỳ vọng sẽ góp phần đưa kinh tế số trở thành động lực tăng trưởng mới, tạo nền tảng để TP.HCM phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn tới.
Nguyễn Tuyết




