SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bộ Khoa học và Công nghệ vừa ban hành Quyết định số 2103/QĐ-BKHCN ngày 13/4/2026 phê duyệt “Chương trình hỗ trợ nghiên cứu sinh xuất sắc giai đoạn 2026-2030” (Vietnam Research Excellence Fellowship - VREF). Với mức hỗ trợ lên đến 1 tỷ đồng/năm cho mỗi nghiên cứu sinh, chương trình kỳ vọng sẽ kiến tạo một thế hệ nhà khoa học trẻ đủ năng lực dẫn dắt các lĩnh vực công nghệ chiến lược, đưa Việt Nam vươn tầm thế giới.

Đây là bước đi cụ thể hóa các Nghị quyết của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia, đồng thời thể hiện sự thay đổi tư duy mạnh mẽ khi chuyển từ hỗ trợ đào tạo đơn thuần sang đầu tư cho nghiên cứu xuất sắc, tập trung vào những “hạt giống” có khả năng tạo ra đột phá về công nghệ lõi cho đất nước.

Chương trình tập trung hỗ trợ các nghiên cứu sinh xuất sắc trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu đột phá, ưu tiên những đề tài có tiềm năng tạo ra công nghệ lõi, phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược. Ảnh: Bộ KHCN.

Tầm nhìn chiến lược: Nghiên cứu sinh là lực lượng nòng cốt

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, nghiên cứu sinh không chỉ là người học mà được xác định là lực lượng nghiên cứu nòng cốt, trực tiếp thực hiện và tạo ra các đột phá. Việc bồi dưỡng nhóm đối tượng này là khoản đầu tư mang tính kiến tạo để xây dựng đội ngũ chuyên gia công nghệ đủ tầm dẫn dắt quốc gia.

Chương trình VREF sẽ ưu tiên nguồn lực cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược, đồng thời bảo đảm sự phát triển cân đối với các lĩnh vực khoa học khác. Điểm đặc biệt của VREF là cơ chế tuyển chọn minh bạch, cạnh tranh và đánh giá dựa trên kết quả đầu ra cụ thể, gắn liền với mô hình liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước - Viện/Trường - Doanh nghiệp.

Mục tiêu của Chương trình VREF không chỉ dừng ở việc cấp học bổng mà hướng tới tạo ra những giá trị có thể đo lường trên bản đồ khoa học quốc tế, với các mục tiêu cụ thể được đặt ra:

+ Số lượng: Hằng năm tuyển chọn và hỗ trợ khoảng 100 nghiên cứu sinh xuất sắc trên phạm vi toàn quốc.

+ Chất lượng công bố: Tối thiểu 60% kết quả nghiên cứu phải được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế uy tín thuộc nhóm Q1 hoặc danh  mục Nature Index.

+ Sở hữu trí tuệ: Tối thiểu 20% kết quả phải có đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (sáng chế, giải pháp hữu ích).

+ Thương mại hóa: Tối thiểu 15% kết quả nghiên cứu được chuyển giao hoặc ứng dụng thực tiễn vào sản xuất, kinh doanh.

+ Hình thành mạng lưới nhà khoa học trẻ tham gia Chương trình VREF, qua đó phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, tăng cường hợp tác quốc tế, nâng cao năng lực nghiên cứu và tiềm lực khoa học công nghệ của các cơ sở trong nước.

Gắn đầu tư với hiệu quả, lấy kết quả nghiên cứu làm thước đo

Về cơ chế tài chính, ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ đạo, đồng thời tăng cường huy động nguồn lực từ doanh nghiệp và các tổ chức trong và ngoài nước. Mức hỗ trợ tối đa đối với mỗi nghiên cứu sinh lên tới 1 tỷ đồng/năm, thời gian hỗ trợ không quá 3 năm;trường hợp cần thiết, nhiệm vụ nghiên cứu có thể được xem xét gia hạn thời gian thực hiện nhưng không quá 02 năm; việc gia hạn không làm tăng thời gian hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước.

Kinh phí được sử dụng linh hoạt, tập trung cho các hoạt động trực tiếp phục vụ nghiên cứu như phát triển sản phẩm, công bố khoa học, đăng ký sở hữu trí tuệ, thử nghiệm công nghệ và hợp tác quốc tế. Việc giải ngân gắn chặt với tiến độ và kết quả đầu ra, bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư.

Cơ chế quản lý Chương trình theo hướng linh hoạt nhưng chặt chẽ. Kinh phí được cấp và điều chỉnh theo kết quả thực hiện; các nhiệm vụ không đạt yêu cầu sẽ bị điều chỉnh hoặc chấm dứt. Đồng thời, rủi ro khoa học phát sinh từ bản chất nghiên cứu được xem xét chấp nhận trên cơ sở tuân thủ đầy đủ quy định, tạo điều kiện cho các nghiên cứu mang tính đột phá.

Các nghiên cứu viên, sinh viên tại Phòng sạch, Trung tâm Nano và Năng lượng, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: Giang Huy

Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED) được giao chủ trì tổ chức thực hiện toàn diện Chương trình, bao gồm xây dựng quy chế, tổ chức tuyển chọn, cấp kinh phí, theo dõi, đánh giá và điều chỉnh trong quá trình triển khai.

Các đơn vị chức năng của Bộ và các tổ chức liên quan phối hợp triển khai nhằm bảo đảm Chương trình vận hành đồng bộ, hiệu quả, đúng định hướng.

Chương trình VREF được kỳ vọng sẽ tạo bước đột phá trong phát triển đội ngũ nghiên cứu trẻ, thúc đẩy hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, góp phần phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới. Đây cũng là nền tảng để các nghiên cứu sinh xuất sắc và doanh nghiệp công nghệ tự tin khẳng định vị thế, góp phần đưa hình ảnh Việt Nam đổi mới, làm chủ công nghệ vươn tầm quốc tế.

Nguyễn Tuyết

Đây là hoạt động thường niên có ý nghĩa quan trọng, góp phần phát hiện, tôn vinh và lan tỏa các giá trị tri thức khoa học phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Bộ Khoa học và Công nghệ vừa chính thức phát động “Giải thưởng sách khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” năm 2026. Giải thưởng do Bộ Khoa học và Công nghệ chỉ đạo, Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông là đơn vị tổ chức triển khai.

Giải thưởng nhằm tôn vinh các tác phẩm sách có giá trị khoa học, giá trị ứng dụng và giá trị lan tỏa cao trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời khuyến khích hoạt động nghiên cứu, biên soạn, xuất bản và phổ biến tri thức khoa học phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Giải thưởng cũng là hoạt động có ý nghĩa thiết thực nhằm tôn vinh tri thức khoa học, công nghệ, đồng thời tạo động lực thúc đẩy phát triển hệ sinh thái xuất bản khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn mới.

giaithuongsach.jpg

Ảnh minh họa. (Nguồn: https://mst.gov.vn)

Năm 2026, Ban tổ chức tiếp nhận hồ sơ từ 1-20/4/2026. Hồ sơ gồm phiếu đăng ký/đề cử và bản sách (bản in hoặc bản điện tử), gửi về: Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông (Địa chỉ: Tầng 6, Tòa nhà Cục Tần số vô tuyến điện - 115 Trần Duy Hưng, phường Yên Hòa, TP. Hà Nội); Email: giaithuongsachkhcn@gmail.com. Người liên hệ: Bà Nguyễn Phương Liên - Ban Sách Khoa học, Công nghệ, Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số. Điện thoại/Zalo: 0982608780.

Sách được lựa chọn xét giải phải bảo đảm tuân thủ quy định pháp luật về xuất bản, sở hữu trí tuệ và các quy định pháp luật có liên quan, được xuất bản hợp pháp dưới dạng sách in hoặc sách điện tử, đã thực hiện lưu chiểu theo quy định trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2024 đến hết ngày 31/12/2025. Sách thuộc các lĩnh vực: Khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ; Ứng dụng công nghệ; Khoa học xã hội và nhân văn (có liên quan); Quản trị và chính sách, phổ biến tri thức khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Đối tượng tham gia Giải thưởng bao gồm các cơ quan nhà nước, tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở giáo dục đại học, nhà xuất bản, doanh nghiệp công nghệ và cá nhân có liên quan. Việc mở rộng đối tượng nhằm tạo điều kiện để nhiều nguồn lực cùng tham gia vào hệ sinh thái tri thức, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ.

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, Giải thưởng được xét trao hằng năm cho những cuốn sách, bộ sách có giá trị tiêu biểu về nội dung khoa học, giá trị ứng dụng và khả năng lan tỏa trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; có đóng góp thiết thực đối với hoạt động nghiên cứu, đào tạo, quản lý, sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội. Thông qua Giải thưởng, Bộ Khoa học và Công nghệ khuyến khích công tác nghiên cứu, biên soạn, xuất bản và phổ biến tri thức khoa học; góp phần phát hiện, lưu giữ, hệ thống hóa và lan tỏa các nội dung khoa học có giá trị; thúc đẩy sự phát triển của hệ sinh thái xuất bản khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Hoàng Kim

Ủy ban nhân dân TP.HCM vừa ban hành Kế hoạch số 122/KH-UBND về phát triển công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược trên địa bàn Thành phố đến năm 2030 (Kế hoạch 122).

Kế hoạch được ban hành trên cơ sở các định hướng lớn của Chính phủ về danh mục công nghệ chiến lược và chương trình phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên triển khai ngay, đồng thời bám sát mục tiêu phát triển TP.HCM được nêu tại Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030.

Kế hoạch 122 ban hành ngày 01/4/2026, với mục tiêu tổng quát là tổ chức triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm làm chủ, phát triển, ứng dụng và thương mại hóa các công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược có lợi thế cạnh tranh; từng bước hình thành hệ sinh thái công nghệ chiến lược, đóng góp trực tiếp cho tăng trưởng kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế của Thành phố trong khu vực và quốc tế.

Kế hoạch cũng đặt ra các mục tiêu cụ thể đến năm 2030:

+ Khảo sát, đánh giá toàn diện về hiện trạng các nhóm công nghệ chiến lược theo Quyết định số 1131/QĐ-TTg trên địa bàn TP.HCM. Ban hành và cập nhật Danh mục công nghệ chiến lược ưu tiên, phù hợp định hướng phát triển Thành phố.

+ Hỗ trợ phát triển tối thiểu 30 - 50 sản phẩm công nghệ chiến lược có khả năng thương mại hóa.

+ Hình thành 5 - 7 trung tâm/phòng thí nghiệm/nền tảng dùng chung phục vụ phát triển công nghệ chiến lược.

+ Hỗ trợ 100 - 150 doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, phát triển, ứng dụng công nghệ chiến lược. Trong đó, có 10 - 15 sản phẩm công nghệ chiến lược được ứng dụng trong quản lý nhà nước, dịch vụ công hoặc các ngành kinh tế trọng điểm.

Điểm nhấn của Kế hoạch là Danh mục 9 nhóm công nghệ chiến lược và 26 nhóm sản phẩm ưu tiên phát triển. Các lĩnh vực được lựa chọn trải rộng từ trí tuệ nhân tạo (AI), bản sao số, thực tế ảo; robot; mạng 5G/6G; blockchain; bán dẫn; năng lượng mới; đến công nghệ hàng không - vũ trụ, điện toán đám mây - dữ liệu lớn và công nghệ y sinh. Trong đó, nhiều sản phẩm trọng tâm được định hướng phát triển, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao như mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt, AI camera xử lý tại biên, robot tự hành, dây chuyền chế biến tiên tiến, thiết bị bay không người lái (UAV), chip AI và chip IoT, năng lượng hydrogen, vật liệu hợp kim entropy cao, liệu pháp gene, liệu pháp tế bào…

02HDKHLVkehoach122CNchienluoch4.jpg

Để hiện thực hóa các mục tiêu, TP.HCM sẽ triển khai 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm: (1) Khảo sát, đánh giá hiện trạng các nhóm công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược; (2) Nghiên cứu, phát triển, làm chủ và nội địa hóa công nghệ chiến lược; (3) Phát triển hạ tầng phục vụ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ chiến lược; (4) Thúc đẩy thương mại hóa và ứng dụng sản phẩm công nghệ chiến lược; (5) Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược; (6) Hợp tác quốc tế và liên kết vùng trong phát triển công nghệ chiến lược; (7) Triển khai nhiệm vụ đặt hàng phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên triển khai ngay.

Trong đó, Kế hoạch nhấn mạnh việc khảo sát, đánh giá toàn diện hiện trạng phát triển các nhóm công nghệ chiến lược trên địa bàn Thành phố ngay trong năm 2026, nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu và xác định rõ năng lực nghiên cứu - phát triển - ứng dụng - thương mại hóa, mức độ sẵn sàng công nghệ, khả năng tham gia của các tổ chức, doanh nghiệp.

02HDKHLVkehoach122CNchienluoch2.jpg

Một số gian hàng triển lãm sản phẩm công nghệ chiến lược tại Đại hội đại biểu Đảng bộ TP.HCM lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030

02HDKHLVkehoach122CNchienluoch3.jpg

Về nghiên cứu, phát triển (R&D), thương mại hóa và ứng dụng sản phẩm công nghệ chiến lược, Kế hoạch nêu rõ mục tiêu gắn chặt nghiên cứu khoa học với nhu cầu thực tiễn; thúc đẩy đưa kết quả nghiên cứu vào ứng dụng thực tiễn và thương mại hóa, hình thành thị trường cho sản phẩm công nghệ chiến lược của TP.HCM; nâng cao tỷ lệ nhiệm vụ khoa học và công nghệ có sản phẩm ứng dụng, có doanh thu hoặc tạo giá trị kinh tế - xã hội cụ thể; bảo đảm hoạt động này được triển khai có trọng tâm, có đầu ra đo lường được, phù hợp với cơ chế, chính sách hiện hành.

Thành phố cũng chú trọng hình thành đội ngũ nhân lực nòng cốt phục vụ R&D, làm chủ và ứng dụng công nghệ chiến lược; đào tạo, bồi dưỡng nhân lực gắn với công nghệ chiến lược; cơ chế ưu tiên mô hình đào tạo theo dự án, đào tạo sau đại học gắn với phòng thí nghiệm, doanh nghiệp và các bài toán thực tiễn; phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, nhóm đổi mới sáng tạo gắn với trường - viện - doanh nghiệp; thu hút 30 - 50 chuyên gia, nhà khoa học, nhân lực chất lượng cao trong và ngoài nước tham gia các nhiệm vụ công nghệ chiến lược.

Một trong những nội dung triển khai quan trọng khác là phát triển hạ tầng công nghệ theo hướng dùng chung và chia sẻ. Thành phố định hướng xây dựng và phát triển các trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm và nền tảng công nghệ có khả năng phục vụ toàn bộ chuỗi giá trị từ nghiên cứu, thử nghiệm, kiểm chứng, đánh giá, ứng dụng và thương mại hóa. Cách tiếp cận này không chỉ giúp tối ưu nguồn lực, gắn đầu tư hạ tầng với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp và các nhiệm vụ công nghệ chiến lược của Thành phố, mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiếp cận hạ tầng công nghệ tiên tiến, nâng cao năng lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.

Theo Kế hoạch 122, UBND Thành phố giao Sở Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối tham mưu, điều phối chung việc triển khai Kế hoạch; chủ trì tổ chức khảo sát, đánh giá hiện trạng, xây dựng và cập nhật Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên của Thành phố; triển khai nhiệm vụ đặt hàng phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên triển khai ngay. Các đơn vị như Đại học Quốc gia TP.HCM, Ban Quản lý Khu Công nghệ cao, Ban Quản lý Khu Nông nghiệp Công nghệ cao… chủ trì triển khai các nhiệm vụ về nghiên cứu nền tảng, phát triển hạ tầng, các hoạt động R&D, thử nghiệm và ứng dụng công nghệ, ươm tạo sản phẩm, đào tạo nhân lực công nghệ chiến lược.

Lam Vân (CISAST)

Thực hiện Quyết định số 76/QĐ-UBND ngày 01 tháng 7 năm 2025 của Ủy ban nhân dân Thành phố về ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số 38-CT/TW ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Ban Bí thư về đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng quốc gia đến năm 2030 và những năm tiếp theo. Trong năm 2026, tập trung vào 06 nhiệm vụ trọng tâm cùng với các giải pháp để đạt được mục đích và yêu cầu đặt ra:
Nhiệm vụ 1: Tuyên truyền, nâng cao nhận thức, kiến thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của công tác tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng    

- Tổ chức các lớp tập huấn văn bản quy phạm pháp luật về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng đối với cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tại Thành phố và buổi Tọa đàm với doanh nghiệp nhập khẩu.

- Tuyên truyền, vận động, hướng dẫn tổ chức, doanh nghiệp tham dự Giải thưởng Chất lượng Quốc gia.

Nhiệm vụ 2: Tổ chức triển khai có hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng; Rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống, chính sách pháp luật, văn bản quản lý về công tác tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng

- Triển khai Kế hoạch nâng cao năng suất và chất lượng dựa trên nền tảng khoa học và công nghệ và đổi mới sáng tạo của Thành phố Hồ Chí Minh (Chương trình 1322, Kế hoạch 36), Kế hoạch tăng cường, đổi mới hoạt động đo lường hỗ trợ doanh nghiệp Thành phố nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế (Đề án 996), Kế hoạch triển khai, áp dụng và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (Đề án 100); Hoạt động Giải thưởng Chất lượng Quốc gia theo kế hoạch của Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia.

- Đề xuất, kiến nghị việc sửa đổi, bổ sung các Luật và các văn bản quy phạm pháp luật về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng có liên quan (khi có yêu cầu); Triển khai kế hoạch thực hiện Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật; Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

- Hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng; thực hiện công bố chất lượng sản phẩm, hàng hóa phù hợp theo yêu cầu của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn cơ sở theo quy định.

- Tổ chức triển khai xây dựng, áp dụng, duy trì, cải tiến hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến trong hoạt động các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống hành chính nhà nước theo quy định của pháp luật.

- Chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan xây dựng, góp ý tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thuật quốc gia do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành.

- Củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức dịch vụ kỹ thuật về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, mở rộng phạm vi, các lĩnh vực cung cấp dịch vụ của các tổ chức dịch vụ kỹ thuật của Thành phố về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng.

- Tổ chức kết nối, triển khai, áp dụng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng nhằm chia sẻ, cung cấp thông tin đầy đủ, công khai, minh bạch.

Nhiệm vụ 3: Xây dựng, đào tạo nguồn nhân lực lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng

- Tổ chức các chương trình tập huấn và cập nhật kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ công tác tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng cho công chức các Sở, ngành, UBND xã, phường, đặc khu.

- Tổ chức các khóa tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu về năng suất, chất lượng; Hình thành mạng lưới tư vấn, chú trọng nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp về năng suất với hoạt động sản xuất, kinh doanh.

- Thực hiện thu hút đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao, đội ngũ chuyên gia tư vấn, đánh giá trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng.

- Đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho viên chức, người lao động và sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, nhãn hàng hóa, mã số, mã vạch, truy xuất nguồn gốc...

Nhiệm vụ 4: Đầu tư ngân sách nhà nước cho công tác tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng

- Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn nhân lực đối với đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở Khoa học và Công nghệ; hiện đại hóa hệ thống trang thiết bị đạt chuẩn theo quy định.

- Phối hợp với Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia trong việc đầu tư, thiết lập, duy trì các chuẩn đo lường chính thuộc thẩm quyền quản lý, bảo đảm liên kết chuẩn đến các chuẩn đo lường quốc gia.

Nhiệm vụ 5: Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng

- Tổ chức kiểm tra, giám sát về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng bảo đảm an toàn của sản phẩm, hàng hóa trong tiêu dùng, sản xuất, nhập khẩu, lưu thông trên thị trường.

- Triển khai công tác khảo sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa để thông tin tới các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra và cảnh báo người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

- Phối hợp các Ủy ban nhân dân phường/xã và đặc khu thực hiện các nội dung được phân quyền trong công tác quản lý nhà nước về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng.

Nhiệm vụ 6: Trao đổi thông tin, kinh nghiệm, hợp tác đào tạo về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng

- Cập nhật kịp thời các điều ước, các thỏa thuận quốc tế có liên quan về công tác tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng mà Việt Nam tham gia, để đảm bảo tuân thủ, thực hiện nghiêm trên địa bàn Thành phố.

- Phối hợp với Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia và Tổ chức Năng suất Châu Á (APO) thúc đẩy năng suất dựa trên giải pháp khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong một số lĩnh vực, trong đó có nâng cao năng suất khu vực công (nếu có yêu cầu).

Việc triển khai hiệu quả Kế hoạch này cho thấy tầm quan trọng công tác tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thúc đẩy phát triển bền vững của Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Đính kèm Kế hoạch số 1244/KH-SKHCN ngày 11 tháng 02 năm 2026 và Phụ lục danh mục triển khai

Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Thành phố

 

UBND TP.HCM vừa ban hành kế hoạch số 90/KH-UBND ngày 16/3/2026 về việc thúc đẩy các chương trình tài chính nhằm thu hút kiều hối vào khoa học công nghệ (KHCN) cho TP.HCM. Thành phố đặt mục tiêu huy động ít nhất 500 tỷ đồng năm 2026 và nâng lên 1.000 tỷ đồng vào năm 2027.

TP.HCM từng bước hình thành các kênh tài chính mới nhằm thu hút nguồn lực kiều hối cho KHCN. Ảnh minh họa

Thí điểm huy động 500 tỷ đồng, hình thành quỹ đầu tư khoa học công nghệ

Trong giai đoạn đầu, TP.HCM đặt mục tiêu thí điểm các công cụ tài chính để huy động tối thiểu 500 tỷ đồng ngay trong năm 2026 từ nguồn kiều hối và các nguồn lực xã hội.

Một trong những giải pháp trọng tâm là thành lập Quỹ đầu tư vào KHCN với quy mô ban đầu tối thiểu 50 tỷ đồng, có sự tham gia của kiều bào, doanh nghiệp, tổ chức tài chính và các chuyên gia trong, ngoài nước. Quỹ được định hướng hoạt động theo mô hình đầu tư chuyên nghiệp, tập trung vào các dự án có khả năng thương mại hóa, giá trị công nghệ cao và tác động lan tỏa.

Theo thiết kế, quỹ có thể hoạt động theo hình thức đầu tư mạo hiểm (venture capital) hoặc đầu tư vốn tư nhân (private equity), hỗ trợ doanh nghiệp từ giai đoạn khởi nghiệp đến mở rộng sản xuất. Các lĩnh vực ưu tiên gồm AI, chuyển đổi số, công nghệ xanh, năng lượng tái tạo và công nghiệp chế biến - chế tạo.

Song song đó, TP.HCM dự kiến mỗi năm hỗ trợ ít nhất 100 doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi để đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và giảm phát thải. Đây được xem là lực đẩy quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đang diễn ra mạnh mẽ.

Mở rộng quy mô 1.000 tỷ đồng, triển khai đồng bộ các công cụ tài chính

Theo lộ trình, đến năm 2027, tổng quy mô huy động nguồn lực kiều hối cho KHCN dự kiến đạt tối thiểu 1.000 tỷ đồng, tạo nguồn vốn ổn định cho các chương trình tín dụng xanh và tín dụng công nghệ.

Để đạt mục tiêu này, TP.HCM sẽ triển khai đồng bộ nhiều công cụ tài chính, trong đó chứng chỉ tiền gửi xanh và chứng chỉ tiền gửi công nghệ là hai sản phẩm huy động vốn trung và dài hạn hướng đến kiều bào và nhà đầu tư cá nhân.

Nguồn vốn từ các công cụ này sẽ được phân bổ cho chương trình cho vay ưu đãi, tập trung vào doanh nghiệp sản xuất, chế biến, chế tạo có nhu cầu đầu tư đổi mới công nghệ, ứng dụng công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng và chuyển đổi số.

Cơ chế thẩm định vốn được thiết kế theo hai cấp: ngân hàng thương mại đánh giá năng lực tài chính và phương án kinh doanh; trong khi hội đồng KHCN tham gia đánh giá tính khả thi công nghệ và hiệu quả môi trường. Cách tiếp cận này nhằm bảo đảm dòng vốn được sử dụng đúng mục tiêu, đồng thời hạn chế rủi ro trong đầu tư.

Bên cạnh đó, Thành phố cũng đặt mục tiêu tăng gấp đôi số lượng doanh nghiệp được hỗ trợ vào giai đoạn sau, trong đó tối thiểu 30% dự án thuộc nhóm công nghệ xanh, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải.

Ở góc độ triển khai, Sở KH&CN TP.HCM đóng vai trò đầu mối trong việc rà soát, tổng hợp và đề xuất danh mục các dự án KHCN trọng điểm có khả năng tiếp cận nguồn vốn kiều hối; đồng thời kết nối các bên liên quan, thúc đẩy đưa kết quả nghiên cứu vào ứng dụng thực tiễn, tạo giá trị cho doanh nghiệp và nền kinh tế.

TP.HCM định hướng ưu tiên các lĩnh vực công nghệ cao như AI, tự động hóa trong thu hút nguồn lực đầu tư cho KHCN

Hình thành hệ sinh thái tài chính cho đổi mới sáng tạo

Về dài hạn đến năm 2030, TP.HCM hướng tới hình thành hệ sinh thái tài chính phục vụ KHCN, trong đó nguồn vốn kiều hối trở thành một kênh huy động quan trọng và bền vững.

Việc kết nối chặt chẽ giữa kiều bào, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và các tổ chức tài chính được kỳ vọng sẽ tạo ra mạng lưới hỗ trợ toàn diện cho hoạt động đổi mới sáng tạo. Không chỉ cung cấp nguồn vốn, hệ sinh thái này còn góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp.

Đồng thời, TP.HCM cũng định hướng phát triển quỹ đầu tư KHCN theo mô hình đối tác công - tư (PPP), mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút thêm nguồn vốn ngoại và kinh nghiệm quản lý hiện đại.

Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút nguồn lực ngày càng gay gắt, việc thiết lập các công cụ tài chính minh bạch, linh hoạt và có khả năng sinh lợi được xem là yếu tố then chốt để tạo niềm tin cho nhà đầu tư, đặc biệt là cộng đồng kiều bào.

Với cách tiếp cận này, TP.HCM kỳ vọng không chỉ gia tăng quy mô đầu tư cho KHCN mà còn từng bước khẳng định vai trò là trung tâm tài chính và đổi mới sáng tạo của khu vực.

Nguyễn Tuyết

Từ thực tế sản xuất muối tại Cần Giờ chủ yếu vẫn dừng ở dạng muối thô, giá trị gia tăng chưa cao và thiếu các sản phẩm chế biến đặc trưng, nhiệm vụ khoa học “Nghiên cứu công nghệ, dây chuyền sản xuất muối hải sản từ muối sạch của huyện Cần Giờ” do PGS.TS Võ Tường Quân làm chủ nhiệm, Trung tâm Nghiên cứu Thiết bị và Công nghệ Cơ khí Bách Khoa – Trường Đại học Bách Khoa – Đại học Quốc Gia TP.HCM chủ trì thực hiện, đã tập trung nghiên cứu công nghệ chế biến muối gia vị và thiết kế dây chuyền sản xuất phù hợp với điều kiện địa phương.

Quang cảnh buổi hội đồng nghiệm thu

Kết quả này được Hội đồng nghiệm thu do Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM tổ chức ngày 6/3/2026 ghi nhận là bước tiến trong nghiên cứu công nghệ chế biến muối hải sản, mở ra hướng phát triển các sản phẩm muối có giá trị gia tăng.

Mục tiêu tổng quát của nhiệm vụ hướng đến đa dạng hóa các sản phẩm từ muối sạch Cần Giờ, góp phần nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm muối và từng bước xây dựng thương hiệu muối Cần Giờ trên thị trường.

Báo cáo tại hội đồng, PGS.TS Võ Tường Quân cho biết, sau 18 tháng triển khai nhiệm vụ (từ tháng 08/2024 đến tháng 02/2026), nhóm nghiên cứu đã hoàn thành đầy đủ các nội dung theo thuyết minh và tạo ra nhiều sản phẩm khoa học công nghệ quan trọng. Nổi bật là quy trình công nghệ chế biến muối hải sản từ nguồn muối sạch và hải sản của Cần Giờ, cho phép sản xuất các sản phẩm như muối tôm hoặc muối ruốc với hương vị đặc trưng địa phương, bảo đảm các yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm. Quy trình công nghệ được xây dựng trên cơ sở khảo sát thực tiễn, nghiên cứu các mô hình sản xuất muối gia vị hiện có và điều chỉnh phù hợp với điều kiện nguyên liệu cũng như quy mô sản xuất tại địa phương.

PGS.TS Võ Tường Quân – chủ nhiệm nhiệm vụ trình bày báo cáo tại hội đồng nghiệm thu

Từ kết quả nghiên cứu, nhóm thực hiện đã thiết kế và chế tạo thành công dây chuyền sản xuất muối hải sản với năng suất khoảng 100 kg/giờ. Hệ thống gồm các module xử lý nguyên liệu, xay nhuyễn, trộn, tạo hạt, sấy, sàng phân cỡ và đóng gói thành phẩm. Dây chuyền được thiết kế theo hướng tự động hóa, góp phần giảm lao động thủ công, nâng cao năng suất và bảo đảm sự đồng nhất của sản phẩm.

Trong giai đoạn thử nghiệm, các module thiết bị của dây chuyền được lắp ráp hoàn chỉnh và đưa vào vận hành để đánh giá hiệu quả thực tế. Kết quả cho thấy hệ thống hoạt động ổn định, đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật và có khả năng tạo ra các sản phẩm muối hải sản đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm. Nhóm nghiên cứu đã sản xuất thử nghiệm 50 kg muối ruốc thành phẩm, cho thấy chất lượng sản phẩm ổn định và phù hợp với nhu cầu thị trường.

Chủ nhiệm nhiệm vụ giới thiệu sản phẩm muối ruốc được chế biến từ muối sạch Cần Giờ.

Dây chuyền chế biến muối hải sản được lắp đặt tại Hợp tác xã Muối biển Lý Nhơn (xã An Thới Đông, TP.HCM) và đại diện các đơn vị bên tham gia tại buổi bàn giao công nghệ.

Bên cạnh đó, nhiệm vụ đã thực hiện chuyển giao quy trình công nghệ và dây chuyền thiết bị cho Hợp tác xã Sản xuất – Thương mại – Dịch vụ Muối biển Lý Nhơn (xã An Thới Đông, TP.HCM). Toàn bộ công nghệ chế biến muối ruốc cùng hệ thống thiết bị đã được lắp đặt và bàn giao để hợp tác xã triển khai sản xuất thử nghiệm. Hiện dây chuyền đang được vận hành với nhiều công thức khác nhau nhằm hoàn thiện sản phẩm phù hợp thị hiếu người tiêu dùng, góp phần nâng cao giá trị muối Cần Giờ và mở ra hướng phát triển các sản phẩm chế biến từ nguồn tài nguyên biển địa phương.

Kết luận buổi làm việc, Hội đồng thống nhất nghiệm thu nhiệm vụ, đánh giá cao giá trị thực tiễn và khả năng ứng dụng của kết quả nghiên cứu; đồng thời đề nghị nhóm nghiên cứu tiếp thu ý kiến góp ý để hoàn thiện báo cáo. Kết quả được kỳ vọng góp phần nâng cao giá trị muối Cần Giờ và mở ra hướng phát triển các sản phẩm chế biến.

Nguyễn Tuyết

Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số TP.HCM vừa ban hành Kế hoạch số 26-KH/BCĐTP triển khai thực hiện Thông báo số 17-TB/CQTTBCĐ về kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị tổng kết năm 2025 và nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương.

Kế hoạch số 26 nhấn mạnh việc phân công, điều phối trách nhiệm cụ thể giữa các sở, ban, ngành và địa phương; xác định rõ cơ quan chủ trì, phối hợp, thời hạn hoàn thành và sản phẩm đầu ra. Tinh thần xuyên suốt là bảo đảm "rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền". Kế hoạch cũng yêu cầu phát huy vai trò của cấp ủy đảng và người đứng đầu các cơ quan, đơn vị; tăng cường phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành; sử dụng hiệu quả nguồn lực, phòng ngừa lãng phí, bảo đảm tiến độ và chất lượng triển khai.

Theo đó, Thành phố thống nhất phương châm của năm 2026 là "Hành động đột phá, lan tỏa kết quả". Sau giai đoạn khởi động của năm 2025, năm 2026 đòi hỏi sự tăng tốc với kỷ luật hành động và kết quả đầu ra thực tế là yếu tố quyết định.

Kế hoạch nêu rõ, các sở, ngành, địa phương phải chuyển từ cách làm theo kế hoạch sang làm theo mục tiêu và sản phẩm; từ báo cáo tiến độ sang báo cáo hiệu quả; từ "có làm" sang "làm đến nơi đến chốn"; chủ động đề xuất nhiệm vụ, không chờ giao việc; xác định rõ trách nhiệm từng đơn vị trong từng công việc cụ thể. Thành phố ưu tiên bố trí nguồn lực cho hạ tầng số, dữ liệu, các công nghệ chiến lược và phát triển nhân lực chất lượng cao; tập trung chỉ đạo những nhiệm vụ trọng tâm, cốt lõi để tạo sức lan tỏa, nhất là các nhiệm vụ về cụ thể hóa Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, Khung kiến trúc dữ liệu Thành phố...

06HDKHLVKehoach26h2.jpg

Hội nghị tổng kết năm 2025 và nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Ảnh: Internet

Đặc biệt, Kế hoạch yêu cầu phải trả lời được 3 câu hỏi: về dữ liệu, phải trả lời được bài toán hình thành cơ sở dữ liệu của từng đơn vị; trong Quý I/2026, toàn bộ danh mục cơ sở dữ liệu phải hoàn thành, đảm bảo dữ liệu "đúng, đủ, sạch, sống". Về công nghệ, xác định rõ lộ trình triển khai các nhóm công nghệ chiến lược và trách nhiệm của từng sở, ngành trong giai đoạn 2026 - 2031. Về nhân lực, tập trung nâng cao trình độ chuyển đổi số (CĐS), đổi mới sáng tạo (ĐMST) cho người dân và đào tạo kỹ sư chất lượng cao cho các lĩnh vực chiến lược.

Bên cạnh đó, đẩy mạnh phát triển các ứng dụng, sản phẩm cụ thể phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ người dân; tập trung nguồn lực cho công nghệ chiến lược và thương mại hóa sản phẩm, thúc đẩy khoa học, công nghệ (KHCN) và ĐMST dựa trên sự liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp... Nhà nước phải đóng vai trò kiến tạo, tháo gỡ rào cản và là "khách hàng đầu tiên" đặt hàng các sản phẩm, giải pháp công nghệ.

Kế hoạch cũng xác định 7 nhóm nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm về (1) công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện; (2) hoàn thiện thế chế, quy định, quy trình; (3) bảo đảm nguồn nhân lực; (4) tài chính, kinh phí cho KHCN, ĐMST và CĐS; (5) chuyển đổi số; (6) KHCN và ĐMST; (7) hợp tác quốc tế trong phát triển KHCN, ĐMST và CĐS.

Trong đó, Kế hoạch yêu cầu tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành; đo lường mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp; chủ động "đặt hàng" các sản phẩm KHCN, ĐMST và CĐS; rà soát hạ tầng, dữ liệu, nhân lực để bảo đảm đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Thành phố tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách cho KHCN, ĐMST và CĐS, đảm bảo các quy định về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền gắn với nền tảng số, dữ liệu đễ thống nhất, thông suốt; tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế tài chính, trọng tâm là cơ chế Quỹ;…

Đối với lĩnh vực chuyển đổi số, tập trung nâng cấp hạ tầng Internet, khắc phục triệt để lỗi hệ thống thông tin, bố trí cán bộ công nghệ thông tin tại cơ sở; đẩy mạnh số hóa quy trình, chuẩn hóa dữ liệu, bảo đảm an toàn thông tin trên toàn địa bàn. Về KHCN và ĐMST, các viện, trường, phòng thí nghiệm trọng điểm được yêu cầu nâng cao năng lực nghiên cứu; đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, năng lượng mới; triển khai các dự án, chương trình liên quan đến công nghệ chiến lược theo mô hình hợp tác "3 Nhà"...

Sở Khoa học và Công nghệ, với vai trò là cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo của UBND Thành phố về phát triển KHCN, ĐMST, CĐS và Đề án 06, có trách nhiệm cập nhật, theo dõi tiến độ thực hiện các nhiệm vụ tại Kế hoạch theo thời gian thực trên hệ thống theo dõi của Trung ương; tổng hợp báo cáo định kỳ trước ngày 20 hằng tháng; tham mưu, đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai.

Lam Vân (CISAST)

TP.HCM định hướng đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KH,CN,ĐMST&CĐS) trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng nhanh và bền vững, từng bước khẳng định vai trò đầu tàu đổi mới sáng tạo của cả nước.

TP.HCM quyết tâm đột phá về KH,CN,ĐMST&CĐS, tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững trong giai đoạn mới. Ảnh minh họa

UBND TP.HCM vừa ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Kế hoạch hành động số 19-KH/TU ngày 9/12/2025 của Thành ủy về thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, nhằm tạo đột phá trong phát triển KH,CN,ĐMST&CĐS trên địa bàn thành phố.

Theo đó, Kế hoạch được ban hành với mục đích tổ chức triển khai đầy đủ, đồng bộ các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp của Nghị quyết 57-NQ/TW. Đồng thời, cụ thể hóa trách nhiệm của các sở, ban, ngành và UBND các phường, xã, đặc khu, bảo đảm triển khai thống nhất, có trọng tâm, trọng điểm và đo lường được kết quả.

Với mục tiêu tạo đột phá trong phát triển KH,CN&CĐS, xây dựng chính quyền số, kinh tế số, xã hội số; nâng cao năng lực cạnh tranh, chất lượng tăng trưởng và chất lượng sống của người dân. Các mục tiêu được xác định theo từng giai đoạn đến năm 2030, 2035, 2040 và 2045, tập trung vào 6 trụ cột: Phát triển hạ tầng; phát triển nguồn lực; phát triển KH-CN, phát triển hệ sinh thái ĐMST; phát triển CĐS; phát triển đô thị thông minh.

Kế hoạch đưa ra với 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, cụ thể: (1) Về công tác lãnh đạo, chỉ đạo; (2) Nâng cao nhận thức và quyết tâm chính trị, thông tin, truyền thông; (3) Hoàn thiện thể chế, chính sách tạo đột phát, bảo đảm nguồn lực; (4) Xây dựng chiến lược phát triển hạ tầng số, ứng dụng dịch vụ số, CĐS trong quản trị công; (5) Xây dựng chiến lược tổng 10 năm phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp, ĐMST, hỗ trợ nghiên cứu và phát triển; (6) Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tầm nhìn đến năm 2045; (7) Xây dựng chiến lược CĐS, kinh tế cấp thành phố; (8) Bảo đảm an ninh mạng và chính quyền số; (9) Đẩy mạnh hợp tác, liên kết vùng, quốc tế; (10) Giám sát, đánh giá và tuyên truyền.

Trong Kế hoạch triển khai, Sở KH&CN TP.HCM được giao làm Cơ quan Thường trực điều phối phát triển KH,CN,ĐMST&CĐS trên địa bàn TP; xây dựng, chủ trì triển khai Chiến lược phát triển KH,CN,ĐMST giai đoạn 2025-2030 cùng các chương trình CĐS liên quan. Đồng thời, Sở tham mưu triển khai mô hình bản sao số (Digital Twin) của thành phố và tổ chức các nền tảng, chương trình bồi dưỡng kỹ năng số, an toàn thông tin cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động.

Với nền tảng chính sách đồng bộ và kỷ luật thực thi rõ ràng, TP.HCM đang chuyển hóa quyết tâm thành hành động cụ thể, từng bước xây dựng mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức và công nghệ, bảo đảm phát triển nhanh nhưng bền vững trong dài hạn.

Nguyễn Tuyết

Thực hiện Quyết định số 100/QĐ-TTg ngày 19 tháng 01 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án triển khai, áp dụng và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 1546/QĐ-UBND ngày 16 tháng 9 năm 2025 phê duyệt Kế hoạch triển khai, áp dụng và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2026 - 2030; Quyết định số 2881/QĐ-UBND ngày 24 tháng 11 năm 2025 phê duyệt Kế hoạch triển khai, áp dụng và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2026.

Theo đó, Kế hoạch đặt ra nhiệm vụ trọng tâm triển khai trong năm 2026, cụ thể như sau:

Nhiệm vụ 1: Rà soát các văn bản quy định, pháp luật về quản lý, triển khai áp dụng và xử lý vi phạm về truy xuất nguồn gốc.

- Chủ trì, phối hợp các sở, ban ngành liên quan thực hiện rà soát các văn bản quy định, pháp luật về truy xuất nguồn gốc.

- Chủ trì, phối hợp các sở, ban ngành liên quan thực hiện Danh mục sản phẩm, hàng hóa ưu tiên triển khai truy xuất nguồn gốc trên địa bàn Thành phố (nếu có).

- Tổng hợp, trình Ủy ban nhân dân Thành phố báo cáo kết quả rà soát.

Nhiệm vụ 2: Thông tin, tuyên truyền, phổ biến các hoạt động truy xuất nguồn gốc.

- Tổ chức 06 lớp tập huấn, phổ biến, hướng dẫn về các văn bản pháp luật, tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, các hoạt động liên quan truy xuất nguồn gốc (bao gồm các sản phẩm OCOP) cho khoảng 400 lượt người tham dự.

- Thông tin kiến thức liên quan đến truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa (ít nhất 02 bài viết). 

- Mua các tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) về truy xuất nguồn gốc phục vụ xây dựng các nội dung tuyên truyền, phổ biến kiến thức liên quan đến truy xuất nguồn gốc.

Nhiệm vụ 3: Tổ chức triển khai áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố.

- Triển khai áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc cho các sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao, bắt buộc thực hiện truy xuất nguồn gốc do Bộ, cơ quan ngang Bộ xác định, các sản phẩm, hàng hóa thuộc Danh mục ưu tiên triển khai truy xuất nguồn gốc Thành phố (nếu có), các sản phẩm tham gia Chương trình OCOP và các sản phẩm, hàng hóa khác thuộc thẩm quyền quản lý.

- Phối hợp tổ chức các hoạt động hỗ trợ xúc tiến thương mại, kết nối tiêu thụ, giới thiệu quảng bá sản phẩm, hàng hóa cho đơn vị tham gia thực hiện truy xuất nguồn gốc trên các phương tin truyền thông đại chúng.

- Đề xuất phương án khuyến khích, thu hút, hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố thực hiện hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa thuộc thẩm quyền quản lý từ nguồn lực của doanh nghiệp và các nguồn hỗ trợ khác.

- Tham dự hội nghị, hội thảo, tập huấn, trao đổi học tập kinh nghiệm về hoạt động truy xuất nguồn gốc tại các địa phương nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước cho công chức đối với hệ thống truy xuất nguồn gốc trên địa bàn.

Nhiệm vụ 4: Nghiên cứu áp dụng các công nghệ để nâng cao hiệu quả hoạt động truy xuất nguồn gốc.

Tổ chức đặt hàng các đề tài, dự án, nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ để phát triển các giải pháp, công nghệ ứng dụng trong truy xuất nguồn gốc (thực hiện khi có phát sinh nhu cầu).

Nhiệm vụ 5: Triển khai hướng dẫn kết nối, chia sẻ dữ liệu hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia.

- Hướng dẫn kết nối hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa của tổ chức, cá nhân trên địa bàn Thành phố với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia.

- Phối hợp với Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia để khai thác, cung cấp, tra cứu thông tin trên Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia phục vụ công tác quản lý nhà nước tại Thành phố.

Ủy ban nhân dân Thành phố giao Sở Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối tổ chức thực hiện hiệu quả kế hoạch hằng năm; chủ trì, phối hợp với cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp có liên quan triển khai thực hiện các nhiệm vụ của Kế hoạch này và định kỳ 6 tháng, năm hoặc đột xuất khi có yêu cầu báo cáo Ủy ban nhân dân Thành phố, báo cáo Bộ Khoa học và Công nghệ.

Kinh phí thực hiện Kế hoạch được đảm bảo từ ngân sách nhà nước do Thành phố cấp hằng năm và các nguồn kinh phí khác (nguồn tài trợ quốc tế và trong nước, vốn doanh nghiệp và các nguồn vốn huy động hợp pháp khác theo quy định của pháp luật).

 

Ủy ban nhân dân TP.HCM vừa ban hành Quy định về thu hút chuyên gia, nhà khoa học và người có tài năng đặc biệt của Thành phố, tạo hành lang pháp lý đồng bộ, minh bạch, bảo đảm thu hút kịp thời đội ngũ nhân tài, đáp ứng các yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Theo Quyết định số 05/2026/QĐ-UBND, chính sách thu hút được áp dụng đối với các cá nhân đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn cụ thể theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân Thành phố về mức thu nhập đối với chuyên gia, nhà khoa học và người có tài năng đặc biệt trong các lĩnh vực Thành phố có nhu cầu thu hút. Đối tượng áp dụng bao gồm người Việt Nam ở trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài; các tổ chức, cơ quan, đơn vị có liên quan đến công tác thu hút và sử dụng nguồn nhân lực này. Quy định cũng nêu rõ, cán bộ, công chức đang làm việc trong hệ thống cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật không thuộc đối tượng áp dụng của chính sách, nhằm bảo đảm tính đặc thù và đúng mục tiêu của cơ chế thu hút nhân tài.

Quyết định này có hiệu lực từ ngày 01/2/2026 (thay thế Quyết định số 38/2024/QĐ-UBND), được xây dựng theo hướng đồng bộ, toàn diện, làm rõ quy trình tuyển chọn, sử dụng, đánh giá và đãi ngộ nhân tài; bảo đảm các nguyên tắc thực hiện, gắn với việc thu hút nguồn lực chất lượng cao, nhằm xây dựng và thực hiện các nhiệm vụ chiến lược về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố.

01HDKHLVThuhutchuyengianhantaih2.jpg

Theo đó, quy trình thu hút, tuyển chọn được quy định rõ từ bước chuẩn bị (xác định lĩnh vực thu hút, thành lập Hội đồng thu hút, tuyển chọn,…); kế hoạch thu hút và thông báo; đăng ký tham dự và thẩm định tài liệu chứng minh năng lực; hình thức thu hút, tuyển chọn, đến thực hiện thủ tục tiếp nhận và ký kết hợp đồng.

Các cơ quan, đơn vị phải đánh giá sát thực trạng và lập báo cáo chi tiết nhu cầu thu hút gửi Sở Khoa học và Công nghệ thống nhất trước khi thực hiện. Hội đồng tuyển chọn chuyên nghiệp, gồm các lãnh đạo cơ quan chuyên môn và các chuyên gia có uy tín cao trong ngành. Người tham dự sẽ trình bày phương hướng, kế hoạch thực hiện dự án hoặc kiểm tra kỹ năng chuyên môn trực tiếp trước Hội đồng. Việc ký kết hợp đồng được thực hiện trên cơ sở nhiệm vụ, sản phẩm đầu ra và hiệu quả thực hiện, lấy kết quả công trình, đề án, sản phẩm trí tuệ làm căn cứ đánh giá, tiếp tục hợp đồng và chính sách đãi ngộ. Công tác quản lý, đánh giá năng lực phát triển chuyên gia, nhà khoa học và người có tài năng đặc biệt cũng được quy định cụ thể, bảo đảm gắn trách nhiệm của cá nhân được thu hút với mục tiêu, yêu cầu phát triển của Thành phố.

Về chính sách đãi ngộ, chuyên gia, nhà khoa học và tài năng đặc biệt sẽ nhận được mức hỗ trợ thu nhập ban đầu ngay sau khi hợp đồng có hiệu lực. Mức thu nhập hằng tháng được chi trả dựa trên năng lực và vị trí thu hút, đảm bảo tính cạnh tranh so với thị trường lao động trình độ cao. Thành phố cũng chi trả mức thu nhập khuyến khích đặc biệt cho các công trình nghiên cứu khoa học, giải pháp đổi mới quản lý có giá trị thực tiễn cao.

Đối với những nhân tài gặp khó khăn về chỗ ở, Thành phố sẽ bố trí nhà công vụ hoặc hỗ trợ kinh phí thuê nhà. Đối với chuyên gia là người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc người nước ngoài, Thành phố cam kết hỗ trợ tối đa các thủ tục về giấy phép lao động và các thủ tục pháp lý liên quan.

Quy định cũng nêu rõ các giải pháp hỗ trợ về phương tiện đi lại; đầu tư cơ sở vật chất và tạo môi trường làm việc; đào tạo, bồi dưỡng phát huy năng lực đối với người có tài năng đặc biệt; xây dựng không gian kết nối, giao lưu, đối thoại và tôn vinh, khen thưởng nhằm ghi nhận, phát huy tối đa năng lực, trí tuệ và tinh thần cống hiến. Trong đó, Thành phố chú trọng đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng khoa học, nâng cấp các phòng thí nghiệm chuyên ngành, ưu tiên cho các chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng đặc biệt sử dụng miễn phí phòng thí nghiệm, cơ sở dữ liệu, thư viện của Thành phố phục vụ công tác nghiên cứu.

Lam Vân (CISAST)


Bản quyền © 2018 Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Thiết kế và phát triển bởi HCMGIS
Tổng số truy cập: 11537424