SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyến bay vận chuyển hàng hóa giữa xã Cần Giờ đến phường Vũng Tàu có cự ly hơn 12km, bay trong khoảng 15 phút, được thực hiện bằng UAV tự hành thông minh.

Ngày 12/2/2026, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM phối hợp cùng Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam (Vietnam Post) và Công ty Cổ phần CT UAV chính thức công bố triển khai tuyến giao hàng bưu chính bằng thiết bị bay không người lái (UAV). Lộ trình bay nối điểm cất cánh tại Bến phà Cần Giờ (xã Cần Giờ) với điểm hạ cánh tại Bến phà biển Vũng Tàu trên trục đường Trần Phú (phường Vũng Tàu). Hoạt động thể hiện sự phối hợp nhịp nhàng giữa “ba nhà”: Nhà nước (Sở Khoa học và Công nghệ, các cơ quan quân đội), Nhà khoa học (đội ngũ kỹ sư CT UAV) và Nhà doanh nghiệp (Vietnam Post - doanh nghiệp bưu chính Quốc gia).

UAV1.jpg

Hoạt động được triển khai theo Nghị định số 288/2025/NĐ-CP, Thông tư số 146/2025/TT-BQP và Giấy phép bay số 805/TC-QC do Cục Tác chiến - Bộ Tổng Tham mưu cấp ngày 19/01/2026. Trong dự án, Vietnam Post là đơn vị chủ trì dịch vụ chuyển phát, bao gồm thiết kế quy trình nghiệp vụ, tiêu chuẩn chất lượng, tổ chức giao – nhận hàng hóa. Tuyến bay được thiết lập nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ chuyển phát của Bưu điện Việt Nam. Toàn bộ hành trình được tích hợp vào hệ thống logistics của Vietnam Post, bảo đảm trải nghiệm “một mã – một hành trình”.

UAV2.jpg

Theo ông Phạm Huỳnh Quang Hiếu – Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM, việc khai trương tuyến bay mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng: không chỉ mở ra một phương thức vận chuyển mới mà còn đặt nền móng cho quá trình ứng dụng thiết bị bay không người lái vào hoạt động bưu chính và logistics đô thị. Trong bối cảnh nhu cầu giao nhận ngày càng tăng cao, đòi hỏi tốc độ nhanh hơn, linh hoạt hơn và hiệu quả hơn, UAV được kỳ vọng sẽ trở thành một giải pháp đột phá giúp rút ngắn thời gian vận chuyển, tối ưu chi phí, mở rộng phạm vi phục vụ và từng bước giảm áp lực lên hạ tầng giao thông truyền thống. Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM cũng mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm chỉ đạo của Lãnh đạo Thành phố, sự phối hợp chặt chẽ của các sở, ngành, địa phương và đặc biệt là sự đồng hành mạnh mẽ từ cộng đồng doanh nghiệp để cùng mở rộng các mô hình ứng dụng công nghệ tiên tiến, tạo ra những động lực tăng trưởng mới.

Trong chuyến bay khai trương, UAV của CT UAV (thành viên CT Group) mang theo kiện hàng nặng 2kg thực hiện hành trình hơn 12km mỗi chiều giữa Cần Giờ qua Vũng Tàu trong 15 phút, cho hiệu quả tối ưu hơn phương thức vận chuyển đường bộ khoảng 6 lần và đường thủy 3 lần. Với tốc độ bay trung bình 10–15 m/s, UAV có khả năng vận hành linh hoạt trong nhiều kịch bản logistics khác nhau. Để đảm bảo an toàn cho hoạt động dân sinh và an ninh vùng trời, các tham số bay đã được tính toán kỹ lưỡng: độ cao tối đa 200m, hành lang bay rộng 300m và bán kính hoạt động tại khu vực cất/hạ cánh là 500m. Tất cả thiết bị đều được trang bị camera giám sát hành trình và hệ thống tự hành thông minh, hỗ trợ vận chuyển các kiện hàng bưu chính, nhu yếu phẩm, dược phẩm và tài liệu phù hợp với cấu hình khai thác của từng loại máy bay.

UAV4.jpg

Việc đưa UAV vào logistics không chỉ là một thử nghiệm công nghệ, mà là minh chứng cho nỗ lực của TP.HCM trong việc thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Hoạt động này mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp công nghệ trong nước làm chủ các phương tiện bay hiện đại từ khâu sản xuất đến vận hành, góp phần phát triển kinh tế từ các ứng dụng của UAV. Đây được xem là bước đi tiên phong trong ứng dụng giải pháp giao thông thông minh, góp phần nâng cao chỉ số kinh tế số và giảm tải áp lực lên hạ tầng vận tải đường bộ của Thành phố.

Hoạt động giao hàng bưu chính bằng UAV trên tuyến Cần Giờ - Vũng Tàu sẽ là cơ sở quan trọng để các cơ quan quản lý đánh giá khả năng mở rộng mô hình sang những ứng dụng chuyên biệt hơn như vận chuyển y tế khẩn cấp, hỗ trợ ứng phó thiên tai hay quản lý đô thị thông minh. Từ những kết quả thu được, Thành phố hướng tới xây dựng một mạng lưới logistics xanh, thông minh và linh hoạt, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong kỷ nguyên số. Thông qua sự kiện này, các bên kỳ vọng từng bước hình thành nền tảng cho hạ tầng giao thông trên không ở độ cao thấp, qua đó hỗ trợ hiệu quả hơn hệ sinh thái logistics, bưu chính và một số dịch vụ công trong tương lai.

Hoàng Kim

Marvell Việt Nam sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm xây dựng doanh nghiệp khởi nghiệp, kinh nghiệm R&D và hỗ trợ sinh viên thực tập ở doanh nghiệp để làm quen với công nghệ, cũng như cử nhân sự hỗ trợ sinh viên hoàn thành dự án, ý tưởng.

Ngày 5/2/2026, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM tiếp và làm việc với TS. Lê Quang Đạm - Tổng giám đốc Marvell Việt Nam.

Tại buổi làm việc, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM cho biết Thành phố đang có cơ chế chính sách thu hút nhân tài và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành vi mạch bán dẫn. Thành phố cũng có nhiều ưu đãi cho doanh nghiệp ngành vi mạch bán dẫn trong năm 2026 như hỗ trợ về thuế, hỗ trợ xây dựng nhà máy, hỗ trợ thu hút chuyên gia cho các dự án trọng điểm…

marvell.jpg

Hiện nay, ngành công nghiệp bán dẫn nổi lên như một "mạch máu" của nền kinh tế toàn cầu, là nền tảng cốt lõi cho hầu hết các lĩnh vực công nghệ cao như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn và các thiết bị điện tử thông minh. Với vai trò đầu tàu kinh tế và khoa học công nghệ, việc tiên phong phát triển ngành công nghiệp bán dẫn không chỉ là cơ hội, mà còn là trách nhiệm lịch sử của TP.HCM. Tuy nhiên, Thành phố vẫn đứng trước những khó khăn và thách thức như thiếu hụt về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực; nhu cầu vốn lớn cho đầu tư hạ tầng; cần cơ chế, chính sách đột phá để thu hút nhân tài và dự án đầu tư; sự liên kết giữa Nhà nước, trường – viện và doanh nghiệp chưa thực sự chặt chẽ, hiệu quả…

TS. Lê Quang Đạm cho biết, ngay từ khi thành lập (tháng 10/2013), Marvell Việt Nam cam kết gắn bó lâu dài với Việt Nam bằng việc hợp tác chặt chẽ với Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Mục tiêu là xây dựng đội ngũ kỹ sư đủ khả năng đảm đương toàn bộ các giai đoạn thiết kế vi mạch ngay tại Việt Nam. Trong chiến lược phát triển, Marvell Việt Nam không chỉ tạo việc làm hấp dẫn cho hàng trăm kỹ sư, mà còn tạo niềm tin rằng người Việt có thể làm chủ công nghệ bán dẫn.

Theo đề xuất của ông Lâm Đình Thắng – Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM và Marvell Việt Nam sẽ hợp tác huấn luyện, bồi dưỡng start up theo các giai đoạn phát triển, giữ vai trò thành viên trong các Hội đồng tuyển chọn, hỗ trợ sinh viên thực tập theo hướng thực nghiệm và trải nghiệm thực tế. TS. Lê Quang Đạm cũng sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm xây dựng doanh nghiệp khởi nghiệp, kinh nghiệm R&D và hỗ trợ sinh viên thực tập ở doanh nghiệp để làm quen với công nghệ, cũng như cử nhân sự hỗ trợ sinh viên hoàn thành dự án, ý tưởng.

Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM mong muốn doanh nghiệp và trường – viện tích cực tham gia triển khai một số nhiệm vụ phát triển ngành vi mạch bán dẫn và phát triển nhân lực ngành vi mạch bán dẫn như:

+ Kiện toàn bộ máy điều phối về chính sách nhằm tạo thuận lợi cho nhà đầu tư.

+ Nâng cấp cải thiện hạ tầng để đẩy mạnh sản xuất thử nghiệm.

+ Phối hợp đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành vi mạch bán dẫn.

+ Thúc đẩy R&D và thương mại hóa sản phẩm.

+ Hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm trong lĩnh vực bán dẫn nhằm hỗ trợ startup.

+ Truyền thông, khen thưởng nhằm khích lệ, động viên doanh nghiệp và nhân lực ngành vi mạch bán dẫn.

Hoàng Kim

Sáng 5/2/2026, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) TP.HCM tổ chức Tọa đàm khoa học “Chuyển đổi mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”, nhằm tìm kiếm các động lực tăng trưởng mới cho TP.HCM trong giai đoạn phát triển tiếp theo.

Khoa học, công nghệ trở thành trụ cột tăng trưởng mới của Thành phố

Trước yêu cầu phải chuyển đổi mạnh mẽ mô hình phát triển, TP.HCM buộc phải tìm kiếm các động lực tăng trưởng mới khi các dư địa truyền thống dần tới hạn và mục tiêu tăng trưởng 10–11%/năm được đặt ra trong bối cảnh vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ năm 2025. Thực tiễn cho thấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi (KH,ĐMST&CĐS) số đang trở thành trụ cột then chốt của Thành phố, khi TFP đóng góp khoảng 59% vào tăng trưởng GRDP, kinh tế số chiếm 21-22% GRDP, thương mại điện tử tăng 37% và 71% doanh nghiệp nhỏ và vừa đã sử dụng nền tảng số, qua đó định hình rõ hướng chuyển dịch sang mô hình phát triển dựa trên tri thức và công nghệ.

Ông Lâm Đình Thắng - Giám đốc Sở KH&CN TP.HCM phát biểu tại tọa đàm. Ảnh: Hoàng Hân

Phát biểu khai mạc tọa đàm, ông Lâm Đình Thắng - Giám đốc Sở KH&CN TP.HCM cho rằng, Thành phố đang đứng trước một thời điểm có ý nghĩa bước ngoặt, khi không gian phát triển được mở rộng nhưng các mô hình tăng trưởng truyền thống đã dần chạm ngưỡng. Theo ông, KH,CN&ĐMST không còn là lĩnh vực hỗ trợ, mà phải trở thành nền tảng cốt lõi, dẫn dắt toàn bộ tiến trình phát triển kinh tế - xã hội.

Trên tinh thần đó, lãnh đạo Sở đề nghị các chuyên gia tập trung phản biện, góp ý sâu để hoàn thiện năm trụ cột chiến lược (Công nghệ cao và Vi mạch bán dẫn; Tài chính số và Dữ liệu; Hạ tầng và Logistics thông minh; Y tế và Nguồn nhân lực; Văn hóa và Du lịch số) định hình mô hình phát triển mới của Thành phố.

TP.HCM được kỳ vọng là “đầu tàu đổi mới”

Ông Nguyễn Hải Minh, Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế tổng hợp, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương nhấn mạnh: TP.HCM cần được xác định là địa bàn tiên phong trong đổi mới mô hình phát triển, không chỉ tiếp tục giữ vai trò “đầu tàu tăng trưởng” mà quan trọng hơn là chuyển mạnh sang vai trò “đầu tàu đổi mới”.

Ông Nguyễn Hải Minh, Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế tổng hợp, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, trao đổi về định hướng đổi mới mô hình phát triển tại tọa đàm. Ảnh: Hoàng Hân

 Theo đó, Thành phố được kỳ vọng trở thành không gian thử nghiệm các cơ chế, chính sách và mô hình phát triển mới dựa trên KH,CN,ĐMST&CĐS; đi đầu trong chuyển dịch mô hình tăng trưởng, đổi mới quản trị phát triển và quản trị đô thị theo hướng dựa trên dữ liệu, qua đó nâng cao năng lực điều hành. Từ thực tiễn TP.HCM, các mô hình hiệu quả sẽ được chắt lọc, hoàn thiện để lan tỏa cho khu vực phía Nam và đóng góp trực tiếp vào việc định hình mô hình phát triển mới của cả nước trong giai đoạn tới.

Ông Nguyễn Hải Minh chỉ rõ TP.HCM là địa phương có đủ điều kiện để trở thành trung tâm thử nghiệm chính sách cho cả nước. Theo ông, đổi mới chỉ có thể tạo ra đột phá khi Thành phố dám quyết định, dám thử nghiệm sandbox và chấp nhận rủi ro có kiểm soát, trên nền tảng thể chế được trao quyền mạnh hơn. Song song với đó là yêu cầu hình thành các công cụ hỗ trợ mang tính dẫn dắt, như quỹ đầu tư vận hành theo cơ chế thị trường; thúc đẩy kết nối giữa khu vực nhà nước - tư nhân - FDI; đồng thời nâng cao chất lượng quản trị và phát triển nguồn nhân lực theo lộ trình phù hợp...

Ở góc nhìn chuyên gia, TS Trần Du Lịch - Nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Phát triển TP.HCM cho rằng Thành phố đang đứng trước yêu cầu cấp bách phải chuyển đổi mô hình phát triển, khi mô hình tăng trưởng truyền thống dựa vào vốn, lao động chi phí thấp và bất động sản đã dần suy giảm hiệu quả.

TS Trần Du Lịch - Nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Phát triển TP.HCM chia sẻ tại tọa đàm. Ảnh: Hoàng Hân

Theo ông, chuyển đổi mô hình phát triển dựa trên KH,CN&ĐMST và kinh tế số không chỉ là xu thế tất yếu mà là lựa chọn chiến lược để Thành phố duy trì vai trò đầu tàu. Trọng tâm của quá trình này không chỉ nằm ở công nghệ mà trước hết là ở tư duy chính sách và thể chế, trong đó thể chế phải đi trước, tạo không gian thử nghiệm cho các mô hình mới, giúp TP.HCM chuyển từ tăng trưởng dựa vào vốn sang tăng trưởng dựa trên tri thức và năng suất.

Bên cạnh các ý kiến định hướng chiến lược, tọa đàm còn ghi nhận nhiều tham luận chuyên sâu của các chuyên gia, nhà khoa học và nhà quản lý, tập trung phân tích các trụ cột then chốt trong chuyển đổi mô hình phát triển TP.HCM dựa trên KH,CN,ĐMST&CĐS. Các tham luận đề cập từ phát triển công nghiệp công nghệ cao, tài chính xanh, hạ tầng logistics thông minh, y tế - chăm sóc sức khỏe thông minh đến công nghiệp văn hóa và kinh tế số, qua đó cung cấp thêm luận cứ thực tiễn, đa chiều cho quá trình hoàn thiện định hướng và giải pháp phát triển Thành phố trong giai đoạn tới.

Kết luận tọa đàm, Giám đốc Sở KH&CN Lâm Đình Thắng cho biết Thành phố sẽ tiếp thu đầy đủ các ý kiến chuyên gia, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu hành động quyết liệt ngay trong năm 2026, với mục tiêu vừa hoàn thiện chương trình, vừa xác định rõ các dự án cụ thể và tạo ra kết quả thực chất để đạt mức tăng trưởng 10%. Cùng với đó, TP.HCM đặt mục tiêu trở thành trung tâm thử nghiệm chính sách của quốc gia trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, sẵn sàng tiếp nhận đề xuất và triển khai các mô hình sandbox nhằm thúc đẩy phát triển.

Nguyễn Tuyết

Ủy ban nhân dân TP.HCM vừa phê duyệt Đề án "Phát triển Mạng lưới Trung tâm Đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh", thể hiện quyết tâm trong việc xây dựng hạ tầng đổi mới sáng tạo (ĐMST) hiện đại, đồng bộ, phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Đề án đặt mục tiêu hình thành mạng lưới các Trung tâm ĐMST tầm cỡ quốc tế đa dạng, đóng vai trò là hạ tầng chiến lược trong hệ thống ĐMST của Thành phố. Mạng lưới này có chức năng hỗ trợ hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa công nghệ; thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo; tăng cường liên kết giữa nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp và các tổ chức trong nước, quốc tế. Định hướng phát triển mạng lưới gắn với việc xây dựng các Trung tâm Đổi mới sáng tạo đạt tiêu chí cấp quốc gia và tầm cỡ quốc tế, có khả năng kết nối với các mạng lưới ĐMST khu vực và toàn cầu, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo Thành phố.

TP.HCM đang bước vào giai đoạn phát triển mới với những kết quả ấn tượng từ hệ sinh thái khởi nghiệp ĐMST. Thành phố thu hút gần 50% tổng số startup cả nước và là nơi đặt trụ sở của 3 "kỳ lân" công nghệ Việt Nam là VNG, MoMo và Sky Mavis, khẳng định vị thế vừa là "đầu tàu kinh tế", vừa là "trung tâm khởi nghiệp sáng tạo" của quốc gia. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, ĐMST và chuyển đổi số quốc gia, TP.HCM xác định ĐMST là động lực chính để chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Để hiện thực hóa mục tiêu lọt vào Top 100 thành phố có hệ sinh thái năng động toàn cầu, Thành phố cần có hạ tầng ĐMST mang tính liên kết, đồng bộ và có sự dẫn dắt chuyên nghiệp. Đề án được ban hành chính thức tại Quyết định số 3190/QĐ-UBND ngày 15/12/2025, như một lời giải cho bài toán liên kết các nguồn lực, tạo ra "cú hích" để các giải pháp công nghệ vươn tầm quốc tế. Đây cũng là bước đi chiến lược nhằm cụ thể hóa mục tiêu Nghị quyết số 57-NQ/TW; đồng thời tập trung hình thành mạng lưới hạ tầng ĐMST đa tầng, hiện đại và hội nhập sâu với mạng lưới ĐMST toàn cầu.

Theo Quyết định 3190, Đề án xác định các giai đoạn cụ thể, bao gồm:

+ Giai đoạn 2026-2027: phát triển ít nhất 4 Trung tâm ĐMST quy mô cấp quốc gia và 3 trung tâm cấp tỉnh.

+ Giai đoạn 2028 - 2029: phát triển ít nhất 3 Trung tâm ĐMST đạt tầm cỡ quốc tế, 3 Trung tâm ĐMST đạt tiêu chí cấp quốc gia; thêm mới ít nhất 4 Trung tâm ĐMST/hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo cấp tỉnh.

+ Đến năm 2030: hình thành mạng lưới các Trung tâm ĐMST với sự phát triển đa dạng về loại hình tổ chức, cơ sở hạ tầng được đầu tư đầy đủ trong đó có ít nhất 3 Trung tâm cấp quốc gia, tầm cỡ quốc tế, 7 trung tâm cấp tỉnh, đáp ứng nhu cầu hỗ trợ thúc đẩy hoạt động ĐMST, trở thành hạ tầng chiến lược trong hệ thống ĐMST của Thành phố, hướng tới việc đưa TP.HCM thành trung tâm ĐMST và khởi nghiệp tầm cỡ quốc tế.

Đề án xác định phát triển mạng lưới theo hướng đa mô hình - liên kết chặt chẽ - bổ trợ lẫn nhau, trong đó triển khai 4 mô hình trọng điểm, gồm:

+ Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc tế tại Đại học Quốc gia TP.HCM - Tổ hợp Công nghệ sâu (Deep-Tech Complex), tập trung vào các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn như bán dẫn, vi điện tử, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học; thúc đẩy hình thành doanh nghiệp spin-off từ kết quả nghiên cứu.

+ Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc tế tại Khu Công nghệ cao TP.HCM, đóng vai trò cầu nối giữa nghiên cứu và sản xuất, hỗ trợ doanh nghiệp thử nghiệm, hoàn thiện và thương mại hóa công nghệ.

08HDKHLVDeanTTDMSTh3.JPG

Bí thư Thành ủy TP.HCM Trần Lưu Quang gặp gỡ, đối thoại cùng cộng đồng khởi nghiệp sáng tạo tại SIHUB ngày 09/12/2025

08HDKHLVDeanTTDMSTh4.JPG

+ Trung tâm Khởi nghiệp Sáng tạo TP.HCM (SIHUB), tiếp tục là đầu mối kết nối cộng đồng khởi nghiệp, cung cấp hạ tầng mềm, đào tạo, tư vấn và kết nối đầu tư theo chuẩn quốc tế.

+ Mô hình doanh nghiệp đầu tư (PPP): khuyến khích các tập đoàn, doanh nghiệp lớn tham gia xây dựng phòng thí nghiệm đổi mới sáng tạo, trung tâm R&D và không gian thử nghiệm công nghệ.

Đề án đề ra hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm bảo đảm hiệu quả triển khai mạng lưới Trung tâm Đổi mới sáng tạo. Trong đó, trọng tâm là nhóm giải pháp về thể chế, chính sách; đầu tư cơ sở hạ tầng; tài chính và phát triển nguồn nhân lực.

Theo đó, các Trung tâm ĐMST trong mạng lưới được tăng cường quyền tự chủ trong tổ chức và hoạt động, chủ động khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn lực được giao và huy động hợp pháp. Thành phố định hướng triển khai các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ, mô hình và giải pháp ĐMST mới, tạo điều kiện rút ngắn quá trình thử nghiệm, ứng dụng và thương mại hóa. Đề án cũng chú trọng phát triển nguồn nhân lực cho ĐMST thông qua các chính sách thu hút, sử dụng hiệu quả đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học và nhân lực chất lượng cao trong nước và quốc tế, góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu, đổi mới và hội nhập.

Trong Đề án, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM được giao vai trò cơ quan chủ trì, đầu mối điều phối việc triển khai mạng lưới các Trung tâm Đổi mới sáng tạo. Sở có trách nhiệm tham mưu cơ chế, chính sách; xây dựng tiêu chí, theo dõi, đánh giá hiệu quả hoạt động của các trung tâm; điều phối nguồn lực và kết nối các chủ thể trong hệ sinh thái theo mô hình "nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp". Sở KH&CN còn đóng vai trò cầu nối hợp tác quốc tế, đưa các trung tâm của Thành phố tham gia sâu vào mạng lưới ĐMST khu vực và toàn cầu, qua đó nâng cao vị thế của TP.HCM trên bản đồ đổi mới sáng tạo thế giới.

Lam Vân (CISAST)

Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM vừa tổ chức Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ “Nghiên cứu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo xây dựng hệ thống hỗ trợ người khiếm thị tiếp cận các nguồn thông tin qua điện thoại thông minh”.

Quang cảnh buổi nghiệm thu

Nhiệm vụ do TS. Đinh Thị Thu Hương làm chủ nhiệm, Trường Đại học Tư thục Quốc tế Sài Gòn là cơ quan chủ trì, được triển khai với mục tiêu nghiên cứu, xây dựng ứng dụng SgBE cho phép người khiếm thị truy cập thông tin đa nguồn, góp phần hỗ trợ hiệu quả hơn cho hoạt động học tập và sinh hoạt hằng ngày của người khiếm thị trên địa bàn TP.HCM.

Hiện nay, trên thế giới có hơn 250 triệu người khiếm thị, cho thấy đây là một thách thức xã hội mang tính toàn cầu. Tại Việt Nam, người khiếm thị vẫn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận thông tin phục vụ học tập và đời sống; tỷ lệ có việc làm và khả năng tự lập còn thấp. Trong khi đó, các ứng dụng hỗ trợ hiện nay chủ yếu là những giải pháp rời rạc, chi phí cao, chưa thực sự phù hợp với ngôn ngữ, điều kiện sử dụng và nhu cầu đặc thù trong thực tế, đặc biệt ở các chức năng nhận diện văn bản, tiền tệ và vật thể quen thuộc. Từ thực tiễn này, việc nghiên cứu và phát triển một hệ thống tích hợp đa chức năng, tối ưu cho thiết bị di động như ứng dụng SgBE được đánh giá là giải pháp thiết thực, sát với nhu cầu của người khiếm thị tại TP.HCM.

Báo cáo tại Hội đồng, TS. Đinh Thị Thu Hương cho biết, trong giai đoạn triển khai thử nghiệm, nhóm nghiên cứu đã phối hợp với Trường Phổ thông Đặc biệt Nguyễn Đình Chiểu để khảo sát, lấy ý kiến phản hồi và đánh giá trải nghiệm người dùng. Hoạt động đánh giá được thực hiện trên ba nhóm nội dung chính, gồm: khả năng vận hành của các mô hình AI trên dữ liệu thực tế; đánh giá trải nghiệm người dùng thông qua quan sát và phân tích phản hồi của 30 người khiếm thị và 34 người sáng mắt; đồng thời so sánh với một số phần mềm thương mại có chức năng tương tự. Đáng chú ý, chức năng phản hồi bằng giọng nói tiếng Việt giúp người khiếm thị có thể tiếp cận và sử dụng ứng dụng ngay từ lần đầu, không đòi hỏi thao tác phức tạp hay thời gian hướng dẫn kéo dài.

Ứng dụng SgBE được thiết kế bám sát điều kiện sử dụng thực tế của người khiếm thị, có khả năng xử lý hình ảnh trong các tình huống không lý tưởng như rung tay, lệch góc hay thiếu sáng là những tình huống phổ biến khi người khiếm thị thao tác với camera điện thoại. Giao diện theo hướng tối giản, luồng tác vụ rõ ràng, kết hợp phản hồi bằng giọng nói, giúp người dùng dễ tiếp cận và sử dụng.

Kết quả đánh giá cho thấy SgBE đạt mức độ chấp nhận cao từ người sử dụng, đặc biệt là nhóm người khiếm thị. Các tiêu chí về tính dễ dùng, tốc độ xử lý, mức độ ổn định và khả năng hỗ trợ học tập đều được đánh giá tích cực. So với một số ứng dụng thương mại hiện có, SgBE thể hiện ưu thế ở khả năng sử dụng tiếng Việt, miễn phí, tích hợp nhiều chức năng trong cùng một nền tảng và được tối ưu hóa theo dữ liệu, ngữ cảnh sử dụng của người khiếm thị Việt Nam.

Ông Nguyễn Quyết Thắng (ngồi ở giữa) - giáo viên Trường Phổ thông Đặc biệt Nguyễn Đình Chiểu, trực tiếp trải nghiệm và chia sẻ về ứng dụng SgBE tại Hội đồng nghiệm thu.

Từ góc nhìn của người sử dụng trực tiếp, ứng dụng SgBE cho thấy nhiều giá trị thực tiễn. Sau khi trải nghiệm ứng dụng, ông Nguyễn Quyết Thắng - giáo viên Trường Phổ thông Đặc biệt Nguyễn Đình Chiểu, người khiếm thị, chia sẻ: “Các tính năng của ứng dụng nhìn chung đều rất cần thiết đối với người khiếm thị, bởi chúng tôi không thể quan sát bằng mắt. Nhờ có SgBE, việc tiếp cận thông tin trong học tập và sinh hoạt trở nên thuận tiện hơn. Tuy nhiên, để sử dụng thực sự hiệu quả và lâu dài, theo tôi, ứng dụng cần được tiếp tục cập nhật, phát triển, bổ sung thêm một số tính năng phù hợp với các nhu cầu phát sinh trong thực tế, như nhận diện đầy đủ các mệnh giá tiền, nhằm hỗ trợ người khiếm thị ngày càng tốt hơn.”

Ứng dụng SgBE đã bước đầu chứng minh hiệu quả và khả năng đáp ứng nhu cầu thực tiễn của người khiếm thị. Những kết quả đạt được là cơ sở quan trọng để tiếp tục hoàn thiện, phát triển và mở rộng phạm vi ứng dụng, hướng tới đưa SgBE vào sử dụng trong các cơ sở giáo dục chuyên biệt và cộng đồng người khiếm thị trên địa bàn TP.HCM, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận thông tin, tăng tính tự lập và thúc đẩy hòa nhập xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số.

Nguyễn Tuyết

UBND TP.HCM vừa ban hành Đề án thí điểm chính sách tạo động lực thương mại hóa, đưa nhanh kết quả nghiên cứu và tài sản trí tuệ hình thành từ ngân sách nhà nước vào sản xuất, kinh doanh giai đoạn 2026-2028. Đề án được xem là bước đi nhằm tháo gỡ tình trạng nhiều kết quả nghiên cứu đã nghiệm thu nhưng chưa thể chuyển hóa thành sản phẩm, hàng hóa cụ thể trên thị trường.

Hoạt động nghiên cứu, hoàn thiện và đưa kết quả KH&CN từ ngân sách nhà nước vào sản xuất, kinh doanh. Ảnh: internet.

Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là động lực tăng trưởng mới của Thành phố, việc tháo gỡ “nút thắt” thương mại hóa không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước, mà còn tạo thêm động lực cho doanh nghiệp và nhà khoa học tham gia sâu hơn vào hoạt động nghiên cứu phát triển.

Nhiều kết quả nghiên cứu đạt yêu cầu nhưng chưa tạo ra giá trị kinh tế

Theo số liệu của Trung tâm Thông tin, Thống kê và Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ TP.HCM (Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM), giai đoạn 2014-2018, TP.HCM có 1.587 nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) sử dụng ngân sách nhà nước được nghiệm thu, song chỉ 201 nhiệm vụ (13%) được thương mại hóa. Trong đó, 591 nhiệm vụ (37%) đã sẵn sàng chuyển giao nhưng chưa được đưa vào sản xuất, kinh doanh; tỷ lệ thương mại hóa thực tế hiện chỉ khoảng 5%, thấp hơn mục tiêu 8-10%.

Hội thảo khoa học về triển khai các giải pháp thương mại hóa kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ từ ngân sách nhà nước, tổ chức tháng 10/2024. Ảnh: Lam Vân

Theo Đề án, điểm nghẽn chủ yếu nằm ở khâu sau nghiệm thu là vướng thủ tục quản lý tài sản công, thiếu cơ chế tài chính linh hoạt để hoàn thiện sản phẩm, tâm lý e ngại rủi ro trách nhiệm, cùng với sự thiếu hụt các tổ chức trung gian đủ năng lực (định giá tài sản trí tuệ, tư vấn pháp lý, kết nối doanh nghiệp), khiến nhiều kết quả nghiên cứu dù đã sẵn sàng vẫn “kẹt” ở ngưỡng chuyển giao.

Đề án tập trung giải quyết 03 vấn đề chính: (1) Cơ chế giao quyền cho tổ chức, cá nhân không là tổ chức chủ trì đối với tài sản hình thành từ việc triển khai nhiệm vụ sử dụng ngân sách Nhà nước; (2) Chính sách ưu đãi, hỗ trợ về các hoạt động trung gian để phát triển sản phẩm ra thị trường; (3) Cơ chế kiểm soát, đánh giá hiệu quả hoạt động thương mại hóa. Các cơ chế này nhằm tạo điều kiện để kết quả nghiên cứu nhanh chóng được thương mại hóa, thúc đẩy giá trị kinh tế - xã hội Thành phố.

TP.HCM đặt mục tiêu đưa tối thiểu 10 sản phẩm KH&CN ra thị trường

Đề án thí điểm trong giai đoạn 2026-2028 theo mô hình “sandbox chính sách”, tập trung tháo gỡ trực diện các điểm nghẽn trong thương mại hóa nghiên cứu, hướng tới đưa tối thiểu 10 sản phẩm KH&CN ra thị trường theo tiêu chuẩn Made in Vietnam, nâng tỷ lệ tài sản trí tuệ hình thành từ ngân sách nhà nước được khai thác thương mại lên 8-10%, tạo nền tảng cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo bền vững của TP.HCM.

Điểm mới của Đề án là cơ chế giao quyền khai thác, ứng dụng và thương mại hóa linh hoạt hơn, cho phép chuyển giao kết quả nghiên cứu cho tổ chức, cá nhân có năng lực và nhu cầu ứng dụng trong trường hợp đơn vị chủ trì không triển khai, qua đó rút ngắn thời gian đưa sản phẩm vào sản xuất, kinh doanh.

Hoạt động giới thiệu, kết nối các sản phẩm KH&CN sẵn sàng đưa vào sản xuất, kinh doanh. Ảnh: Hoàng Kim

Đề án cho phép hỗ trợ một phần kinh phí từ ngân sách nhà nước để hoàn thiện sản phẩm, sản xuất thử nghiệm và đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ; phần kinh phí đối ứng không tính lại giá trị ngân sách đã đầu tư cho nhiệm vụ trước, giúp giảm áp lực tài chính cho doanh nghiệp tham gia đồng hành.

Đáng chú ý, cơ chế chấp nhận rủi ro có kiểm soát được xác định là điểm nhấn, tạo không gian thử nghiệm cho thương mại hóa nghiên cứu, chuyển cách tiếp cận từ “né rủi ro” sang quản lý rủi ro bằng cơ chế minh bạch, thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Sở KH&CN TP.HCM được UBND TP.HCM giao chủ trì, phối hợp các sở, ngành rà soát kết quả nghiên cứu đã nghiệm thu, đánh giá mức độ sẵn sàng công nghệ và kết nối các chủ thể trong hệ sinh thái. Giai đoạn thí điểm 2026-2028 là cơ sở để Thành phố hoàn thiện cơ chế, xem xét nhân rộng, qua đó khẳng định cam kết chuyển từ đầu tư cho nghiên cứu sang đầu tư cho giá trị tạo ra từ nghiên cứu.

Nguyễn Tuyết

UBND TP.HCM vừa ban hành Kế hoạch Thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh năm 2026, giai đoạn 2026 – 2028 (theo Quyết định số 175 /QĐ-UBND ngày 12 tháng 01 năm 2026). Kế hoạch hướng tới thúc đẩy khu vực doanh nghiệp phát triển bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời tạo điều kiện để các hộ kinh doanh có tiềm năng chuyển đổi lên mô hình doanh nghiệp.

Trong lộ trình thực hiện, Sở Khoa học và Công nghệ được UBND TP.HCM giao tiếp tục chủ trì tham mưu triển khai Chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp và sản phẩm Công nghệ thông tin - Truyền thông giai đoạn 2020 – 2030 theo Quyết định số 1185/QĐ-UBND ngày 06/4/2021; đồng thời xây dựng các chương trình/chiến lược triển khai hỗ trợ phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026 – 2030. 

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm được giao nữa là nghiên cứu xây dựng Đề án thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm TP.HCM; tổ chức hướng dẫn doanh nghiệp sử dụng các Quỹ ủy thác đầu tư mạo hiểm công nghệ cao và Quỹ phát triển dữ liệu quốc gia nhằm thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; nâng cao năng lực khoa học và công nghệ; triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu có triển vọng thành sản phẩm thương mại; chuyển giao công nghệ và chuyển đổi số phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của Thành phố.

techmart2025.jpg

Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM hỗ trợ doanh nghiệp trưng bày, giới thiệu công nghệ tại Techmart 2025.

Bên cạnh đó, Sở Khoa học và Công nghệ tiếp tục phối hợp các Sở, ngành tuyên truyền, tham mưu Thành phố triển khai đồng bộ các cơ chế, chính sách hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, trong đó có việc áp dụng các nghị quyết của HĐND TP.HCM về mức chi hỗ trợ đề án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; quy định lĩnh vực ưu tiên, tiêu chí và nội dung hỗ trợ dự án khởi nghiệp; cũng như chính sách miễn thuế thu nhập đối với hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo có phát sinh thu nhập trên địa bàn Thành phố (sau sắp xếp đơn vị hành chính).

Về công tác hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, Sở Khoa học và Công nghệ được giao thường xuyên cập nhật phổ biến kiến thức trực tuyến về năng suất chất lượng, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp; tổ chức triển khai công tác hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, đồng thời thực hiện các nội dung hỗ trợ cụ thể như: Hỗ trợ sử dụng cơ sở kỹ thuật, cơ sở ươm tạo, khu làm việc chung; Hỗ trợ tư vấn sở hữu trí tuệ, khai thác và phát triển tài sản trí tuệ; Hỗ trợ thực hiện các thủ tục về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng; thử nghiệm, hoàn thiện sản phẩm, mô hình kinh doanh mới; Hỗ trợ công nghệ; Hỗ trợ đào tạo, huấn luyện chuyên sâu; Hỗ trợ về thông tin, truyền thông, xúc tiến thương mại, kết nối mạng lưới khởi nghiệp sáng tạo.

Hoàng Kim

Thực hiện Quyết định số 3490/QĐ-UBND ngày 27/12/2025 của Ủy ban nhân dân TP. HCM về việc chuyển giao Trung tâm Phát triển Khoa học và Công nghệ Trẻ (KH&CN) và Trung tâm Hỗ trợ Thanh niên Khởi nghiệp từ Thành Đoàn TP.HCM về trực thuộc Sở KH&CN TP.HCM, Sở KH&CN TP.HCM đã triển khai các quyết định về công tác cán bộ nhằm kiện toàn tổ chức bộ máy lãnh đạo tại các đơn vị sau khi thay đổi cơ quan chủ quản.

Nhằm cụ thể hóa việc triển khai quyết định nêu trên và kịp thời ổn định tổ chức bộ máy, ngày 26/01/2026, tại Hội trường Sở KH&CN TP.HCM đã diễn ra Lễ công bố và trao các quyết định về công tác cán bộ đối với nhân sự lãnh đạo của hai Trung tâm.

Tại buổi lễ, lãnh đạo Sở KH&CN TP.HCM đã trao quyết định bổ nhiệm Giám đốc và các Phó Giám đốc cho Trung tâm Phát triển Khoa học và Công nghệ Trẻ và Trung tâm Hỗ trợ Thanh niên Khởi nghiệp, trực thuộc Sở KH&CN TP.HCM. Thời hạn giữ chức vụ của các lãnh đạo được bổ nhiệm là 05 năm.

Lãnh đạo Sở KH&CN TP.HCM trao quyết định và chúc mừng lãnh đạo Trung tâm Phát triển Khoa học và Công nghệ Trẻ. Ảnh: Hoàng Hân

Lãnh đạo Sở KH&CN TP.HCM trao quyết định và chúc mừng lãnh đạo Trung tâm Hỗ trợ Thanh niên Khởi nghiệp. Ảnh: Hoàng Hân

Phát biểu tại buổi lễ, lãnh đạo Sở KH&CN TP.HCM chúc mừng các nhân sự được tin tưởng giao trọng trách, đồng thời nhấn mạnh việc chuyển giao và kiện toàn tổ chức hai trung tâm là bước đi quan trọng nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, tạo điều kiện để các đơn vị phát huy tốt hơn vai trò kết nối, hỗ trợ nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp trong thanh niên Thành phố.

Ông Lâm Đình Thắng - Giám đốc Sở KH&CN TP.HCM phát biểu tại buổi giao nhiệm vụ

Đại diện lãnh đạo hai Trung tâm bày tỏ sự trân trọng trước sự quan tâm, tin tưởng của Ban Giám đốc Sở KH&CN TP.HCM, đồng thời khẳng định sẽ phát huy tinh thần trách nhiệm, đoàn kết nội bộ, chủ động đổi mới phương thức hoạt động, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị trực thuộc và đóng góp thiết thực vào sự phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp của Thành phố.

Nguyễn Tuyết

Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM vừa tổ chức Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ (KH&CN) "Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) của các doanh nghiệp sản xuất bao bì nhựa tại Thành phố Hồ Chí Minh".

Nhiệm vụ do ThS. Trịnh Thị Minh Châu làm chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM là cơ quan chủ trì, được thực hiện với mục tiêu đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp giúp nâng cao hiệu quả thực hiện EPR cho các doanh nghiệp sản xuất bao bì nhựa tại TP.HCM, góp phần giảm phát thải nhựa trên địa bàn Thành phố trong tương lai.

07KQNCLVntdtEPRh6ok.jpg

Đại diện nhóm nghiên cứu trình bày báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ   

Theo nhóm nghiên cứu, cơ sở pháp lý cho EPR được đề cập tại Luật Bảo vệ Môi trường (BVMT) năm 2020, với cách tiếp cận hoàn toàn mới - dưới góc độ là một công cụ kinh tế. Cụ thể, Luật BVMT năm 2020 quy định hai nội dung về EPR: trách nhiệm tái chế của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu (Điều 54); trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu (Điều 55). Các nội dung về đối tượng, lộ trình, cách thức triển khai EPR tại Việt Nam được hướng dẫn cụ thể trong Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/1/2022 của Chính phủ; theo đó, đối với bao bì nhựa, lộ trình thực hiện EPR bắt đầu từ ngày 01/1/2024.

Tại TP.HCM, trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, thách thức từ rác thải nhựa vẫn rất lớn với khối lượng thải ra khoảng 1.800 tấn mỗi ngày, nhưng tỷ lệ tái chế chỉ đạt khoảng 27%. Thực tế triển khai EPR tại địa phương còn đối mặt với nhiều rào cản từ nhận thức doanh nghiệp, chi phí đầu tư đến hạ tầng tái chế.

Trong nhiệm vụ này, nhóm nghiên cứu đã triển khai 5 nội dung chính, bao gồm: nghiên cứu tổng quan cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế; phân tích cơ sở pháp lý về EPR tại Việt Nam; đánh giá thực trạng thực hiện EPR tại các doanh nghiệp bao bì nhựa TP.HCM; xác định các "điểm nghẽn" rào cản; đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi.

Theo đó, nhóm đã tiến hành khảo sát 86 doanh nghiệp để đánh giá thực trạng triển khai EPR và hiệu quả thực hiện chính sách EPR đối với bao bì nhựa tại TPHCM. Kết quả khảo sát cho thấy, 61,6% doanh nghiệp đã hiểu khái niệm cơ bản về EPR, 38,4% đối tượng khảo sát cho biết đã được học tập và đào tạo về EPR. Các doanh nghiệp lớn đã bắt đầu thực hiện các chương trình tái chế, nhưng khối doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn gặp khó khăn do thiếu nguồn lực và hướng dẫn cụ thể. Ngoài ra, 66,3% doanh nghiệp được khảo sát đánh giá EPR đóng vai trò rất quan trọng và quan trọng đối với môi trường và nền kinh tế; 65,1% doanh nghiệp rất quan tâm và quan tâm đối với nhu cầu đào tạo về EPR. Hình thức đào đạo được các doanh nghiệp quan tâm là tư vấn chuyên nghiệp tại doanh nghiệp, tham gia các buổi hội thảo/tọa đàm; nội dung đào tạo liên quan đến EPR gồm: tính toán chi phí, thiết lập, quản lý hệ thống thu gom sản phẩm đã qua sử dụng, các chính sách hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp thực hiện EPR, giải pháp công nghệ và đổi mới trong lĩnh vực tái chế…

Nhóm cũng xây dựng và hiệu chỉnh bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện EPR dựa trên các khía cạnh: tỷ lệ thu hồi bao bì sau sử dụng; tỷ lệ tái chế chất thải bao bì; mức giảm phát thải CO2 sau khi thực hiện EPR; chi phí sản xuất và chi phí thực hiện EPR của doanh nghiệp. Đồng thời phân tích đánh giá các điểm nghẽn và chỉ ra những hạn chế cốt lõi của chính sách EPR khi triển khai áp dụng đối với bao bì nhựa, bao gồm hạn chế về thể chế - tổ chức; hạn chế về kinh tế, tài chính, cơ sở hạ tầng, sự phối hợp và tham gia của các bên liên quan.

Theo đó, chính sách đã thành công trong việc nâng cao nhận thức và thay đổi tư duy quản trị trong nội bộ doanh nghiệp, buộc họ phải xem xét lại quy trình và thiết kế sản phẩm theo hướng bền vững hơn để giảm thiểu chất thải và tăng cường thu hồi. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế của việc thực hiện EPR còn hạn chế do gặp phải hàng loạt rào cản, tập trung vào 4 nhóm vấn đề chính: việc áp dụng các yêu cầu tối thiểu của EPR (tỷ lệ thu hồi, tái chế, đăng ký, báo cáo) đã tạo ra tác động rõ rệt, chủ yếu là gia tăng áp lực tài chính và quản lý; hạ tầng thu gom và tái chế chưa đồng bộ, chưa được đầu tư bài bản, công nghệ tái chế chưa hiện đại, thiếu hụt các điểm thu gom; khung pháp lý về EPR còn nhiều hạn chế, thiếu tính đồng bộ, thiếu các hướng dẫn kỹ thuật chi tiết; tồn tại sự không đồng đều trong phân chia trách nhiệm thực hiện EPR giữa nhà sản xuất và các bên liên quan… 

Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện EPR cho các doanh nghiệp sản xuất bao bì nhựa phù hợp với điều kiện TP.HCM, cụ thể như hoàn thiện khung pháp lý, xây dựng cơ chế quản lý, giám sát, vận hành EPR tại TP.HCM; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu EPR liên thông, cơ chế chính sách điều chỉnh mức phí đóng góp vào Quỹ BVMT Việt Nam theo mức độ thân thiện với môi trường của bao bì nhựa...

Về kinh tế - tài chính, minh bạch nguồn thu chi từ Quỹ BVMT Việt Nam cho hoạt động tái chế tại địa phương, có các chính sách hỗ trợ riêng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Về cơ sở hạ tầng, phát triển hệ thống hạ tầng thu gom, phân loại tại nguồn và hợp thức hóa vai trò của khu vực phi chính thức thông qua việc ký kết hợp đồng với các hợp tác xã, tổ nhóm thu gom. Bên cạnh đó, đẩy mạnh tuyên truyền thay đổi thói quen phân loại rác của người tiêu dùng và khuyến khích sử dụng sản phẩm bao bì tái chế; áp dụng mô hình đồng điều tiết trong thực hiện EPR; thúc đẩy trách nhiệm của các bên liên quan như Nhà nước, doanh nghiệp, doanh nghiệp tái chế và dịch vụ môi trường, người tiêu dùng…

07KQNCLVntdtEPRh1.jpg

Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ tại Sở KH&CN TP.HCM ngày 23/1/2026

Kết quả nghiên cứu được đánh giá có ý nghĩa đóng góp vào hệ thống lý luận về EPR, cung cấp bộ chỉ số đánh giá thực tiễn cho cơ quan quản lý. Các giải pháp đề xuất có thể trực tiếp hỗ trợ trong việc vận hành, giám sát lộ trình EPR. Việc triển khai hiệu quả EPR sẽ góp phần giảm áp lực cho ngân sách Thành phố trong công tác thu gom, xử lý chất thải, hình thành thị trường tái chế minh bạch, gắn với bảo vệ môi trường, bảo vệ sinh kế cho những người lao động thu gom tự do, hướng tới mục tiêu xây dựng TP.HCM trở thành đô thị xanh và phát triển bền vững.

Lam Vân (CISAST)

Đây là nhiệm vụ quan trọng trong việc thực hiện thúc đẩy mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới, đột phá; phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nguồn nhân lực chất lượng cao.

UBND TP.HCM vừa ban hành Quyết định số 368/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án “Ứng dụng công nghệ AI và dữ liệu lớn trong đào tạo: Phát triển các nền tảng học tập trực tuyến dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn để cá nhân hóa lộ trình học tập cho người lao động, giúp họ nhanh chóng đạt được kỹ năng phù hợp với yêu cầu cụ thể của từng ngành”.

Theo Đề án, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ tạo ra yêu cầu chuyển đổi kỹ năng số ở mọi ngành nghề, từ kỹ năng cơ bản đến các kỹ năng phức tạp hơn trong quản lý, điều hành máy móc và hệ thống thông tin. Ngoài ra, sự xuất hiện của các khu công nghệ cao tại TP.HCM đã mở ra cơ hội việc làm mới nhưng đồng thời đòi hỏi người lao động phải trang bị thêm kỹ năng chuyên môn về công nghệ, kỹ thuật số và khả năng học tập suốt đời. Đồng thời, với xu thế hội nhập quốc tế, doanh nghiệp tại Thành phố đang phải đối mặt với áp lực đáp ứng tiêu chuẩn lao động và chất lượng kỹ năng nghề nghiệp theo yêu cầu quốc tế. Điều này đòi hỏi hệ thống đào tạo phải thay đổi linh hoạt, hướng tới các tiêu chuẩn toàn cầu, tập trung vào kỹ năng ngoại ngữ và khả năng làm việc trong môi trường đa văn hóa.

Hầu hết các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã triển khai thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và ứng dụng AI, dữ liệu lớn trong công tác quản lý, đào tạo nghề. Nhiều trường đã sử dụng phần mềm quản lý đào tạo, quản lý người học, điểm danh, hồ sơ điện tử, kết nối dữ liệu với cơ quan quản lý. Bên cạnh đó, trong chiến lược chuyển đổi số gắn với AI, dựa trên các nền tảng AI phổ biến như Google AI, Microsoft Azure AI Services và IBM Watson các trường đã xây dựng và triển khai nhiều giải pháp trong quản lý, đào tạo, giảng dạy như “Trợ lý đào tạo AI” nhằm hỗ trợ học sinh, sinh viên trong việc giải đáp thắc mắc về quy chế, lịch học, đăng ký môn học và các vấn đề liên quan đến đào tạo; ứng dụng AI để xây dựng, phát triển nền tảng tuyển dụng thông minh...

Mục tiêu của Đề án là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ AI và dữ liệu lớn trong đào tạo nhằm phát triển các nền tảng học tập trực tuyến dựa trên AI và dữ liệu lớn để cá nhân hóa lộ trình học tập cho người lao động, giúp họ nhanh chóng đạt được kỹ năng phù hợp với yêu cầu cụ thể của từng ngành nghề đào tạo; tập trung vào các ngành trọng điểm đáp ứng đào tạo nhân lực trình độ cao, theo hướng hiện đại hóa và hội nhập quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố.

taphuanAI.jpg

(Ảnh minh họa) Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM tổ chức lớp tập huấn ứng dụng AI hỗ trợ ra quyết định hiệu quả cho cấp quản lý - tháng 11/2025.

Cụ thể, Đề án đặt ra những mục tiêu đến năm 2030 rất cụ thể như trang bị các phòng lab AI tại tối thiểu 10% các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên thực hành xây dựng và huấn luyện mô hình AI, xây dựng các AI Agent, nắm vững các nguyên lý của AI, phát triển kỹ năng lập trình AI, hiểu cách AI hoạt động và ứng dụng trong thực tế, cũng như chuẩn bị cho các ngành nghề liên quan đến khoa học dữ liệu, khoa học máy tính và robot thông minh trong tương lai. Đồng thời, hình thành một nền tảng dạy học trực tuyến phục vụ các đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo kỹ năng đáp ứng yêu cầu hoạt động học tập suốt đời của người dân Thành phố. Bên cạnh đó, Đề án cũng đặt ra yêu cầu xây dựng một hệ thống trợ lý ảo AI toàn diện, có khả năng học hỏi và thích nghi, hỗ trợ cán bộ quản lý, giáo viên trong việc ra quyết định chiến lược, quản lý điều hành và giải quyết các vấn đề phát sinh. Thêm vào đó là việc phát triển và tích hợp các AI Agent chuyên ngành có khả năng phân tích dữ liệu chuyên sâu để dự báo xu hướng, đánh giá tác động của các chính sách, xác định các điểm yếu trong hệ thống giáo dục và đề xuất giải pháp tối ưu.

Theo đó, các nhiệm vụ, giải pháp sẽ bao gồm:

+ Tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức; đào tạo, bồi dưỡng năng lực số, ứng dụng công nghệ mới, AI cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý

+ Tăng cường các điều kiện đảm bảo triển khai ứng dụng công nghệ AI và dữ liệu lớn trong đào tạo

+ Phát triển hệ sinh thái chuyển đổi số hoạt động dạy học, kiểm tra, đánh giá và nghiên cứu khoa học

+ Kết nối, đồng bộ hệ thống thông tin quản lý giáo dục và đào tạo và cơ sở dữ liệu ngành giáo dục

+ Huy động các nguồn lực tham gia triển khai thực hiện ứng dụng AI, dữ liệu lớn trong đào tạo

+ Đẩy mạnh công tác thông tin, hỗ trợ người lao động tại các doanh nghiệp

+ Tăng cường hợp tác giữa doanh nghiệp với cơ sở giáo dục nghề nghiệp

+ Xây dựng cơ chế, chính sách triển khai thực hiện Đề án

UBND TP.HCM giao Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện Đề án theo phân công và đúng quy định của pháp luật. UBND TP.HCM giao Sở Khoa học và Công nghệ tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình “Nghiên cứu và phát triển ứng dụng AI tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020-2030”; Chương trình phổ cập trí tuệ nhân tạo cho công dân (AI for Citizens) trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2025 – 2030. Sở Khoa học và Công nghệ cũng sẽ triển khai nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích các tập đoàn công nghệ trong nước, viện nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng đề xuất các giải pháp giải quyết các bài toán đặt ra của các sở, ngành tại thành phố, thử nghiệm và ứng dụng các sản phẩm AI. Sở Khoa học và Công nghệ còn chủ trì thực hiện nhiệm vụ “Chương trình khoa học và công nghệ về trí tuệ nhân tạo” – phối hợp với ĐHQG TP.HCM, Sở Giáo dục và Đào tạo cùng các sở, ban, ngành, Trường, viện, trung tâm nghiên cứu có liên quan.

Hoàng Kim


Bản quyền © 2018 Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Thiết kế và phát triển bởi HCMGIS
Tổng số truy cập: 11537424