SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bảo mật trong hoạt động khởi nghiệp

17-10-2025

Ý TƯỞNG KHỞI NGHIỆP, GIẢI PHÁP THỰC HIỆN & CÁC ĐỐI TƯỢNG (CỦA) QUYỀN SHTT

Trong cuộc sống, thường xảy ra các tình huống như:

- Một người có ý định khởi sự kinh doanh do nhận biết được một thời cơ thuận lợi, nhưng lại chưa có đủ nguồn lực thực hiện; hoặc

- Một nhà chuyên môn có ý tưởng về một khả năng đổi mới, nhưng lại không thể tự mình phát triển hoặc hoàn thiện giải pháp khả thi tương ứng; hoặc

- Một nghệ sĩ có một cảm hứng về thẩm mỹ hoặc nghệ thuật, nhưng lại chưa thuận tiện hoặc chưa đủ điều kiện để diễn đạt thành một tác phẩm hoặc một cuộc biểu diễn có nét khác biệt…

Nếu người có ý định khởi nghiệp, nhà chuyên môn hoặc nghệ sĩ như nêu trên đã có ít nhiều kiến thức hoặc kinh nghiệm tham gia thương trường, phản xạ thường gặp sẽ là tạm giữ kín thông tin về thời cơ kinh doanh, khả năng đổi mới hoặc cảm hứng thẩm mỹ… để: hoặc tự mình tiếp tục củng cố nguồn lực và điều kiện thực hiện, hoặc xin thêm ý kiến tham vấn trong một phạm vi đủ tin cậy.

Ngược lại, với người có tính vô tư, hoặc không có nhu cầu hay áp lực về mặt tài chính, hoặc chưa trải nghiệm hoạt động kinh doanh…: xu hướng chung là sẽ chia sẻ rộng rãi về thời cơ đã nhận biết, ý tưởng về đổi mới, cảm hứng về thẩm mỹ… của mình, để mong sớm có thể hiện thực hóa nhằm góp phần thúc đẩy phát triển, hoặc có thể học hỏi thêm từ các ý kiến phản biện, góp ý, hỗ trợ…

Động cơ khởi phát nhiều ý tưởng ban đầu khác tất nhiên lại càng đa dạng, và rủi ro của việc quên mất ý tưởng ban đầu thường khi cũng không lớn hoặc không nhận biết được ngay. Tuy nhiên, có khi người tiếp nhận ý tưởng ban đầu không trao đổi trở lại với người đã đưa ra ý tưởng, mà lại đi bàn cách phát triển hoặc hoàn thiện giải pháp thực hiện ý tưởng đó với người khác vì một lý do nào đó, và rủi ro dẫn đến tranh chấp tương lai có thể phát sinh.

Rủi ro sẽ nghiêm trọng hơn trong trường hợp ý tưởng ban đầu đã có hoặc bao hàm luôn giải pháp thực hiện; hoặc thông qua hoạt động tiếp nhận các ý kiến phản biện, góp ý, hỗ trợ… mà giải pháp thực hiện được bật ra ngay hoặc dần được định hình. Khi này, tiến trình hoàn thiện giải pháp thực hiện hoặc chuẩn bị áp dụng giải pháp thực hiện sẽ gia tăng dần ý nghĩa kinh doanh, cũng là gia tăng dần khả năng đãi ngộ công lao của những người thích đưa vào áp dụng các ý tưởng mới.

Mỗi giải pháp thực hiện có giá trị cũng là một sản phẩm trí tuệ (SPTT) có ý nghĩa. Các SPTT có tính mới, tính sáng tạo và có giá trị phục vụ hoặc khả năng khai thác lâu dài dần được pháp luật nhìn nhận như các đối tượng cần được tạo ra càng nhiều càng tốt, trên cơ sở có một cơ chế bảo hộ phù hợp giúp khích lệ thỏa đáng các chủ thể đã sáng tạo hoặc đầu tư cho hoạt động sáng tạo tương ứng.

Theo dòng lịch sử, pháp luật SHTT được hình thành, tuần tự xác định và gọi một số SPTT có thể xác lập cơ chế bảo hộ minh bạch là các đối tượng (của) quyền SHTT.

Theo đó, bản chất của việc bảo hộ các đối tượng quyền SHTT là: khuyến nghị người sáng tạo hoặc người đầu tư cho việc sáng tạo hãy phổ cập kết quả sáng tạo của mình ra xã hội để phục vụ nhu cầu tiêu dùng và hưởng thụ văn hóa, qua đó, thúc đẩy phát triển kinh tế và đặc biệt là thúc đẩy các sáng tạo tiếp nối; đối lại, nhà nước sẽ trao độc quyền sử dụng cho người sáng tạo hoặc người đầu tư cho việc sáng tạo trong việc khai thác (các) thị trường liên quan, để họ có cơ hội tối đa hóa lợi nhuận nhằm phục hồi chi phí nghiên cứu sáng tạo và các chi phí sản xuất kinh doanh khác, cũng như thuận lợi trong việc đầu tư phát triển tiềm lực sáng tạo của mình.

Ngược lại, các bên cạnh tranh sẽ phải có các sáng tạo tốt hơn hoặc ít ra là sáng tạo thay thế nếu muốn tiếp tục tồn tại hoặc giữ vững vị thế thị trường. Điều đó giúp thị trường được liên tục đa dạng hóa và đổi mới theo các tiến bộ công nghệ trong mọi lĩnh vực. 

Không có cơ chế này, người đưa vào áp dụng các giải pháp mới và sáng tạo rất dễ bị người đang nắm lợi thế trong lĩnh vực kinh doanh tương ứng lấn át thị phần hoặc ép bật ra khỏi thị trường và theo đó, sẽ rất khó xảy ra các đợt đảo lộn ngôi vị của các tập đoàn (đa quốc gia) đang thống lĩnh thị trường và giúp nền kinh tế (quốc tế) có thể chuyển nhanh vào các chu kỳ tăng trưởng mới.

Cụ thể, các đối tượng quyền SHTT trong Luật SHTT Việt Nam hiện hành mà người khởi nghiệp có thể đối chiếu với giải pháp mới và sáng tạo của mình để chọn đúng (các) cơ chế bảo hộ thích đáng là:

- Các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học: là đối tượng của Quyền tác giả.

- Các cuộc biểu diễn, bản ghi âm hoặc/và ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa: là 04 đối tượng của Quyền liên quan (đến Quyền tác giả).

- Các bí mật kinh doanh, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, tên thương mại, nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý: là 07 đối tượng của Quyền Sở hữu công nghiệp.

- Vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch: là 02 đối tượng của Quyền đối với Giống cây trồng.

GIAO KẾT BẢO MẬT TRONG HOẠT ĐỘNG KHỞI NGHIỆP

Như vậy, nếu việc tạo ra một đối tượng quyền SHTT mới (một tác phẩm, một giống cây, một sáng chế…) có khả năng hấp dẫn nhu cầu hưởng thụ hoặc tiêu dùng là tiền đề kinh tế cho hoạt động khởi nghiệp sáng tạo, thì việc biến “đối tượng của quyền” này thành một quyền SHTT thực thụ là một ứng xử pháp lý tối ưu trong hoạt động thương mại hóa sản phẩm sáng tạo tương ứng.

Hành vi biến một đối tượng quyền SHTT thành một quyền SHTT tương ứng được gọi là hành vi xác lập quyền. Việc không muốn hoặc không thể xác lập quyền sẽ dẫn tới một hệ quả là: nếu doanh nghiệp khởi nghiệp tiếp thị thành công một hàng hóa hoặc một dịch vụ tạo ra từ đối tượng của quyền SHTT, các bên cạnh tranh sẽ có quyền sản xuất hoặc cung ứng theo, khiến kế hoạch kinh doanh ban đầu của doanh nghiệp có thể bị xáo trộn hoặc đổ vỡ, lợi nhuận có thể bị suy giảm, đối tác hoặc bên góp vốn có thể sẽ không hợp tác hoặc nếu đã lỡ hợp tác thì có thể phải tính toán lại.

Trong nghiên cứu phát triển, sản xuất kinh doanh hoặc đời sống thực tế, mỗi sản phẩm mới, quy trình mới, giải pháp mới... đều có thể hàm chứa nhiều đối tượng quyền SHTT khác nhau. Thí dụ, một báo cáo khoa học mà bản thân báo cáo đã là một tác phẩm có Quyền tác giả sẽ có thể:

(i) vừa hàm chứa một số bảng, biểu, đồ thị… mà mỗi bảng, biểu, đồ thị cũng là một “tác phẩm con” có thể có Quyền tác giả riêng biệt;

(ii) vừa hàm chứa phần mô tả về một giống cây có các tính trạng khác biệt, đồng nhất, ổn định và mới về mặt thương mại, đủ để có thể nhận được một Bằng bảo hộ Giống cây trồng;

(iii) vừa hàm chứa phần mô tả một hoặc một số quy trình tạo giống, gieo trồng, chăm sóc… tương ứng, đủ để có thể nhận được một Bằng độc quyền Sáng chế…

Nếu vì lý do nào đó mà hành vi xác lập quyền đối với một đối tượng quyền SHTT vẫn chưa được xúc tiến, hoặc đang xúc tiến nhưng chưa hoàn thành, thì mọi thông tin về đối tượng quyền SHTT tương ứng cần được bảo mật một cách phù hợp cho đến khi đưa vào kinh doanh. Cụ thể:

- Khi cần giới thiệu hoặc chào mời về một đối tượng quyền SHTT mới tạo lập nhưng chưa được xác lập quyền SHTT: mỗi thành viên của hội đồng thẩm định liên quan hoặc mỗi đối tác tiếp nhận thông tin đều cần được cho ký một cam kết bảo mật bằng văn bản, khẳng định sẽ không tiết lộ thông tin về đối tượng SHTT của doanh nghiệp hoặc nhà khởi nghiệp cho bất kỳ ai khác và cũng không sử dụng thông tin đó vào bất kỳ mục đích gì khác.

- Tốt hơn, các thông tin mật nên được bộc lộ dần qua một số bước trao đổi, để thuận tiện hơn cho việc đánh giá khả năng và thiện chí hợp tác, hỗ trợ, góp vốn... của đối tác, mỗi bước lại ký một cam kết bảo mật tương ứng. Nếu đi đến được hợp đồng hợp tác, góp vốn, li-xăng, chuyển giao công nghệ…, các hợp đồng này đều cần có một nhóm cam kết về nghĩa vụ bảo mật.

- Bản thân nhà khởi nghiệp hoặc doanh nghiệp khởi nghiệp cũng cần sẵn sàng ký các cam kết bảo mật tương tự, khi được tiếp cận các thông tin mật của các đối tác.

BÍ MẬT KINH DOANH (BMKD) CỦA DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP

Tốt hơn nữa, mọi thông tin mật đều cần được xem xét và đánh giá xem có thể được bảo hộ như một BMKD hay không, bằng cách đối chiếu với định nghĩa và các điều kiện bảo hộ sau: 

- Định nghĩa: theo Khoản 23 Điều 4 và Điểm c Khoản 3 Điều 6 Luật SHTT, BMKD là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính hoặc trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh. Quyền sở hữu công nghiệp đối với BMKD được xác lập trên cơ sở có được BMKD một cách hợp pháp và thực hiện việc bảo mật BMKD đó;

- Điều kiện bảo hộ: theo Điều 84 Luật SHTT, BMKD được bảo hộ nếu đáp ứng đồng thời 03 điều kiện:

(i) không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được;

(ii) khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ BMKD lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng BMKD đó;

(iii) được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để BMKD đó không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được.

Hai điều kiện (i) và (ii) nêu trên không khó khăn gì để doanh nghiệp khởi nghiệp tự kiểm định và chứng minh; riêng điều kiện (iii) cần được bảo đảm qua các biện pháp tác nghiệp tối thiểu sau đây:

- Mọi thành viên tham gia doanh nghiệp khởi nghiệp (thành viên góp vốn, thành viên lãnh đạo hoặc quản lý, nhân viên chuyên môn và tác nghiệp, chuyên gia khách mời hay người thực tập…) đều phải ký một hợp đồng, thỏa thuận hoặc văn bản mà trong đó, có (các) điều khoản xác lập nghĩa vụ bảo mật đối với các thông tin mật và các BMKD của doanh nghiệp;

- Ban hành Quy chế bảo mật hoặc lồng ghép các quy định về bảo mật và bảo vệ BMKD vào các nội quy khác của doanh nghiệp khởi nghiệp, tổ chức tập huấn và tái tập huấn định kỳ cho mọi thành viên;

- Mọi hồ sơ mô tả, tài liệu chứa đựng hoặc vật mang thông tin mật và BMKD (bản vẽ, bản mô tả, băng, đĩa, tập tin...) và các bản sao đều phải được đóng hoặc ghi dấu MẬT trên từng trang rời và giáp lai; kèm theo quy định và thông tin hướng dẫn về phạm vi và cách thức sử dụng.

- Mọi cá nhân được tiếp cận và/hoặc sử dụng bất kỳ thông tin mật hoặc BMKD nào đều phải ký xác nhận cụ thể về: người tiếp cận/sử dụng; lý do và người cấp phép tiếp cận/sử dụng; thời điểm và thời gian tiếp cận/sử dụng; cam kết sử dụng đúng quy định và ngày hoàn trả.

- Mọi cá nhân tạo mới, tham gia tạo mới, tiếp nhận thông tin mật và BMKD đều phải thông tin ngay và đầy đủ mọi nội dung liên quan cho người, bộ phận chịu trách nhiệm quản lý thông tin mật và BMKD; bàn giao hoặc được tiếp tục sử dụng, bảo mật theo hướng dẫn và quy định. 

Một thông tin mật đã trở thành một BMKD khi đáp ứng định nghĩa và 03 điều kiện nêu trên sẽ là một đơn vị tài sản trí tuệ có phạm vi độc quyền nhất định của doanh nghiệp hoặc người khởi nghiệp.

Tác giả: Đào Minh Đức

Chủ sở hữu Quyền tác giả: Sở KH&CN TP.HCM 2020


Bản quyền © 2018 Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Thiết kế và phát triển bởi HCMGIS
Tổng số truy cập: 11537424