Ngày 25 tháng 12 năm 2025, Cục Sở hữu trí tuệ đã có Thông báo số 5130/TB-SHTT về việc thống nhất áp dụng Bảng phân loại quốc tế các hàng hóa, dịch vụ theo Thỏa ước Nice phiên bản 13-2026:
- Người nộp đơn phải phân loại phù hợp với Bảng phân loại quốc tế các hàng hóa, dịch vụ theo Thỏa ước Nice phiên bản 13-2026. Nếu người nộp đơn không phân loại hoặc phân loại không chính xác thì Cục Sở hữu trí tuệ sẽ phân loại và người nộp đơn phải nộp phí phân loại theo quy định.
- Bảng phân loại quốc tế các hàng hóa, dịch vụ theo Thỏa ước Nice phiên bản 13-2026 đã được Cục Sở hữu trí tuệ công bố trên Cổng thông tin điện tử Cục Sở hữu trí tuệ ngày 28 tháng 12 năm 2025 và sẽ được áp dụng chính thức tại Việt Nam từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
(Đính kèm Thông báo số 5130/TB-SHTT và Bảng phân loại quốc tế các hàng hóa, dịch vụ theo Thỏa ước Nice phiên bản 13-2026)
- Khái niệm sáng chế
Trong sinh hoạt hàng ngày của cuộc sống thực và trên mạng xã hội, nhiều người tham gia các buổi trao đổi học thuật, hội thảo, trả lời phỏng vấn… thường sử dụng từ “phát minh” và “sáng chế” như hai khái niệm đồng nghĩa, có thể dùng đổi lẫn với nhau.
Cách đây gần 20 năm, trong tác phẩm “Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học” được giới thiệu khá rộng rãi trong các trường đại học ở Việt Nam, nhà giáo Vũ Cao Đàm đã phân tích tách biệt một số sản phẩm đặc biệt của hoạt động nghiên cứu, tập trung vào 3 khái niệm “phát minh”, “phát hiện” và “sáng chế”, qua đó giúp người đọc hiểu và sử dụng đúng từ ngữ khi mô tả sự vật, hiện tượng. Dưới đây xin lượt trích các khái niệm theo góc nhìn của nhà giáo Vũ Cao Đàm.
Phát minh (discovery) là sự khám phá ra những quy luật, những tính chất hoặc những hiện tượng của thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan mà trước đó chưa ai biết, nhờ đó làm thay đổi cơ bản nhận thức của con người. Phát minh có các chỉ báo như: có khả năng áp dụng để giải thích thế giới; không trực tiếp áp dụng vào đời sống, sản xuất mà phải thông qua sáng chế; không có giá trị thương mại; bản thân phát minh không được bảo hộ pháp lý và tồn tại cùng lịch sử.
Phát hiện (discovery) là sự khám phá ra những vật thể, những quy luật xã hội đang tồn tại một cách khách quan. Phát hiện có các chỉ báo như: có khả năng áp dụng để giải thích thế giới; không trực tiếp áp dụng vào đời sống, sản xuất mà phải thông qua các giải pháp vận dụng; không có giá trị thương mại; bản thân phát hiện không được bảo hộ pháp lý và tồn tại cùng lịch sử.
Sáng chế là một thành tựu trong khoa học kỹ thuật và công nghệ. Trong khoa học xã hội và nhân văn không có sản phẩm loại này, nhưng các nhà khoa học xã hội vẫn thường phải bàn đến sáng chế do ý nghĩa và các tác động về mặt kinh tế, pháp lý và xã hội của sáng chế. Sáng chế (invention) là một giải pháp kỹ thuật mới về nguyên lý kỹ thuật, tính sáng tạo và áp dụng được.
Về bản chất, sáng chế không có mục tiêu là áp dụng vào việc giải thích thế giới. Sáng chế nhằm áp dụng trực tiếp hoặc áp dụng thử nghiệm vào đời sống và hoạt động sản xuất; do vậy, thường có giá trị thương mại và qua đó, làm phát sinh hoạt động mua bán sáng chế hoặc cấp phép sử dụng (licence) bằng độc quyền. Sáng chế có thể trở nên lạc hậu theo sự tiến bộ công nghệ.
Từ các phân tích của nhà giáo Vũ Cao Đàm về 3 khái niệm trên, xin bàn tiếp đến khái niệm pháp lý về sáng chế, dựa trên pháp luật sở hữu công nghiệp về việc bảo hộ (độc) quyền đối với sáng chế. Dưới đây là các định nghĩa về sáng chế và các quy định về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế theo pháp luật của Việt Nam và Nhật Bản.
- Định nghĩa “sáng chế” và các điều kiện bảo hộ sáng chế tại Việt Nam
Theo Khoản 12, Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành, sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên.
Theo Điều 58, có 03 điều kiện chung đối với sáng chế được bảo hộ là: tính mới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp. Từ đó, Luật phân biệt và đưa ra 02 hình thức của văn bằng bảo hộ:
- để được cấp Bằng độc quyền Sáng chế, giải pháp kỹ thuật nộp đơn đăng ký phải đáp ứng đủ cả 03 điều kiện nêu trên;
- để được cấp Bằng độc quyền Giải pháp hữu ích, giải pháp kỹ thuật nộp đơn đăng ký, nếu không phải là hiểu biết thông thường, chỉ cần đáp ứng 02 điều kiện: có tính mới và có khả năng áp dụng công nghiệp; không cần phải “có trình độ sáng tạo”.
Theo Điều 61 Luật Sở hữu trí tuệ, trình độ sáng tạo được hiểu là “một bước tiến sáng tạo, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng”.
Khoản 3 Điều 3 Thông tư số 23/2023/TT-BKHCN giải thích “người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng được hiểu là người có các kỹ năng thực hành kỹ thuật thông thường và biết rõ các kiến thức chung, phổ biến trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng”.
Không khó để có thể hình dung: kỹ năng thực hành kỹ thuật thông thường có thể đạt được qua việc đã được đào tạo trong lĩnh vực kỹ thuật liên quan; còn kiến thức chung về một lĩnh vực kỹ thuật cụ thể có thể nắm bắt được qua các tài liệu kỹ thuật về lĩnh vực kỹ thuật đó đã được xuất bản, phổ biến trong và ngoài nước, đặc biệt là, qua các sáng chế tương tự với giải pháp kỹ thuật đang nộp đơn xin bảo hộ, nằm trong các bằng độc quyền và các đơn đăng ký sáng chế đã được công bố bởi các cơ quan sáng chế quốc gia trên thế giới. Các thẩm định viên của các cơ quan sáng chế quốc gia là những người có điều kiện đạt được trình độ “hiểu biết trung bình” không ngừng gia tăng này.
- Định nghĩa “sáng chế” và các điều kiện bảo hộ sáng chế tại Nhật Bản
Theo Khoản 1 Điều 2 Luật Sáng chế Nhật Bản hiện hành, sáng chế là “sự sáng tạo các ý tưởng kỹ thuật tiên tiến bằng cách ứng dụng các quy luật tự nhiên”.
Về 03 điều kiện bảo hộ, khác với trình tự nêu ra từng điều kiện cụ thể trong Luật Việt Nam, theo Điều 29 của Luật Sáng chế Nhật Bản, điều kiện quan trọng ban đầu để sáng chế được bảo hộ là có khả năng áp dụng công nghiệp.
Tiếp đó, nếu giải pháp kỹ thuật nộp đơn đăng ký bảo đảm được khả năng áp dụng công nghiệp, nhưng lại để mất tính mới trong 3 trường hợp: hoặc đã bộc lộ công khai, hoặc đã sử dụng rộng rãi, hoặc đã được mô tả trong một ấn phẩm đã phân phối hay trong các sáng chế đã được bộc lộ công khai tại Nhật Bản và nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký, thì giải pháp kỹ thuật đó cũng không được bảo hộ.
Về điều kiện thứ ba để sáng chế được bảo hộ, Luật Sáng chế Nhật Bản không sử dụng các thuật ngữ “trình độ sáng tạo”, mà quy định trực tiếp rằng: nếu trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế, một người có hiểu biết trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật của sáng chế có thể dễ dàng tạo ra giải pháp kỹ thuật trong đơn đăng ký, dựa trên các sáng chế đã được mô tả, đã được bộc lộ công khai hay sử dụng công khai, thì giải pháp kỹ thuật đăng ký cũng không được cấp bằng độc quyền.
Tóm lại, sáng chế muốn được bảo hộ ở Nhật Bản phải đáp ứng ba điều kiện: trước hết là khả năng áp dụng công nghiệp, tiếp theo là tính mới và cuối cùng là không dễ dàng tạo ra đối với người có hiểu biết trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật của sáng chế.
- Nhận xét
Tuy có sự khác biệt về cách định nghĩa sáng chế và cách diễn đạt các điều kiện bảo hộ sáng chế, nhưng do cùng là hai quốc gia thành viên của Công ước Paris 1983 về Bảo hộ Sở hữu công nghiệp nên nhìn chung, điều kiện bảo hộ sáng chế tại Việt Nam và Nhật Bản là tương đồng.
Đồng thời, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam và Luật Sáng chế Nhật Bản cũng đều có các quy định về trường hợp sáng chế không được bảo hộ, cũng như các ngoại lệ đối với các trường hợp sáng chế bị mất tính mới.
ThS. Vương Tịnh Mạch
ThS. Nguyễn Thị Ngọc Nhung
ThS. Hoàng Tuấn Anh
(Trích giới thiệu Kết quả thực hiện Nhiệm vụ KH&CN theo HĐ số 01/2021/HĐ-QKHCN thuộc quyền sở hữu của Sở KH&CN TP.HCM - Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thị Xuân Anh, Viện Quản trị Tài sản trí tuệ Minh Đức)
Từ cuối thế kỷ 19, dưới thời Thiên hoàng Minh trị (Meiji (1868-1912)), Nhật Bản đã nhận biết rằng, hệ thống bảo hộ sáng chế có thể đóng vai trò chính trong việc phát triển nền công nghiệp nội địa nhằm bắt kịp Hoa Kỳ và các cường quốc châu Âu.
Quá trình hình thành pháp luật sáng chế của Nhật Bản được gắn liền với tên tuổi của Fukuzawa Yukichi (1835-1901), người đã giới thiệu khái niệm “bằng sáng chế” vào năm 1867. Ông đã từng tham gia rất sâu vào việc thiết lập hệ thống giáo dục của nước Nhật và vì vậy, việc phát triển và củng cố một hệ thống bảo hộ sáng chế cũng trở nên rất thuận lợi.
Năm 1871, Luật về “Quyền độc quyền” đã được Chính phủ Meiji ban hành dựa trên quy trình thẩm định sơ bộ các đơn đăng ký sáng chế theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên, nhưng luật này nhanh chóng bị bãi bỏ sau một năm vận hành thử nghiệm: nhiệt tâm nhanh chóng thiết lập hệ thống bảo hộ sáng chế đầu tiên này đã thất bại, do không thể chỉ ban hành luật là có thể vận hành một hệ thống bảo hộ khi chưa hình thành một nền tảng tổ chức tác nghiệp bài bản. Không có một hệ thống bảo hộ các kỹ thuật mới dưới dạng bằng độc quyền sáng chế, việc chuyển giao công nghệ tiên tiến từ Hoa Kỳ và các nước châu Âu phát triển vào Nhật Bản là hết sức khó khăn; đồng thời, bản thân nền công nghiệp Nhật Bản cũng khó phát triển do các sáng chế mới bị chiếm đoạt hoặc bắt chước bằng nhiều cách khác nhau mà không bị xem là phạm tội.
Dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Takahashi Korekiyo (1854-1936), sau khi tái chuẩn bị một cách kỹ lưỡng, ngày 18.4.1885, Pháp lệnh Sáng chế được ban hành và được xem như Luật Sáng đầu tiên của Nhật Bản. Hiện ngày 18.4 hàng năm được ấn định là ngày sáng chế tại Nhật Bản.
Pháp lệnh Sáng chế Nhật Bản được phỏng theo mô hình Luật sáng chế của Hoa Kỳ và của Pháp, trong đó có quy định rằng, thời hạn bảo hộ của bằng độc quyền sáng chế tại Nhật Bản thống nhất với quy định tương ứng trong Luật Sáng chế Hoa Kỳ, và việc hủy bỏ hiệu lực của bằng độc quyền trong trường hợp chủ sở hữu sáng chế không đưa sáng chế vào sử dụng được áp dụng như quy định trong Luật Sáng chế của Pháp. Các điểm chính yếu khác của Pháp lệnh Sáng chế Nhật Bản năm 1885 là:
- áp dụng nguyên tắc: bảo hộ cho người sáng tạo đầu tiên
- quy định nguyên tắc: mỗi Đơn đăng ký chỉ được yêu cầu bảo hộ một sáng chế;
- quy định nguyên tắc: mọi Đơn đăng ký đều phải được thẩm định về nội dung;
- chấp nhận bảo hộ các sáng chế phụ thuộc vào một sáng chế trước đó (được gọi là sáng chế cơ bản);
- yêu cầu một sáng chế về vật liệu phải có tính mới và hữu ích: riêng các sáng chế ảnh hưởng đến trật tự công cộng hoặc liên quan đến dược phẩm hoặc thuốc sẽ không được bảo hộ
Năm 1899, Nhật Bản trở thành thành viên của Công ước Paris về bảo hộ Sở hữu công nghiệp và đã nội luật hóa các quy định tương ứng trong Công ước Paris vào Luật Sáng chế Nhật Bản, trong đó, có việc đồng ý cấp Bằng độc quyền sáng chế cho người nước ngoài. Luật Sáng chế năm 1899 có một số điểm mới như:
- thừa nhận việc bảo hộ độc quyền sáng chế cho người không cư trú tại Nhật Bản: điều này dẫn đến nghĩa vụ của người không cư trú là phải chỉ định một đại diện có cư trú tại Nhật Bản trong các quan hệ với cơ quan có thẩm quyền;
- tích hợp các quy định về quyền ưu tiên theo Công ước Paris vào Luật Sáng chế;
- đưa ra quy định về việc bảo hộ đối với các sáng chế tham gia trưng bày tại một triển lãm quốc tế;…
Trong giai đoạn Chiến tranh thế giới thứ nhất, Chính phủ và nền công nghiệp Nhật Bản ngày càng nhận thức rõ sự cần thiết phải phát triển các ngành công nghệ và công nghiệp của riêng mình: chính sách của Chính phủ nhấn mạnh vào việc thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ mà kết quả chính trong thương mại quốc tế là các sáng chế được đăng ký độc quyền hoặc được giữ kín dưới dạng các bí mật kinh doanh; đồng thời, việc bảo hộ cũng cần cân bằng giữa độc quyền của các nhà sáng chế với lợi ích của công chúng và của các bên liên quan. Theo đó, số lượng Đơn đăng ký sáng chế bắt đầu tăng nhanh, thí dụ năm 1910 đã đạt 12.026 đơn so với 6.210 đơn trong năm 1909. Thực tiễn đó cũng thúc đẩy nhu cầu hiện đại hóa hệ thống sở hữu công nghiệp quốc gia và Luật sáng chế năm 1921 tiếp tục có một số thay đổi như:
- quy định nguyên tắc nộp đơn đầu tiên;
- ban hành quy trình công bố đơn và quy trình cho phép phản đối việc cấp bằng;
- quy định việc phải thông báo rõ lý do từ chối cấp bằng;
- đưa ra các quy định về cấp li-xăng bắt buộc (li-xăng không tự nguyện);
- đưa ra quy định liên quan sáng chế của nhân viên: quyền đăng ký về cơ bản là thuộc về nhân viên tạo ra sáng chế; người sử dụng lao động tương ứng được hưởng quyền sử dụng sáng chế của nhân viên; nhân viên tạo ra sáng chế phải được nhận tiền thù lao tương ứng.
Khi chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc vào năm 1945, hệ thống chính trị và xã hội của Nhật Bản được cấu trúc theo những thay đổi quan trọng được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946 đang có hiệu lực cho đến hiện nay. Góp phần vào sự phát triển nhanh chóng về kinh tế và công nghiệp trong những năm sau chiến tranh là các cải tiến và hiệu chỉnh trong hệ thống bảo hộ sáng chế, dẫn đến việc ban hành Luật Sáng chế năm 1959 với nhiều nội dung đổi mới quan trọng như:
- điều kiện bảo hộ “sáng chế thuộc lĩnh vực công nghiệp” (industrial invention) được chuyển thành thành một “sáng chế có khả năng áp dụng công nghiệp” (industrially-applicable invention);
- đưa ra quy định về “bước tiến sáng tạo (inventive step)” của sáng chế;
- các công bố sáng chế của nước ngoài được xem là thuộc phạm vi của “tình trạng kỹ thuật đã biết”, khi thẩm định về tính mới của sáng chế;
- một chất liệu được sản xuất thông qua quá trình biến đổi hạt nhân không phải là đối tượng được bảo hộ sáng chế;
- một đơn đăng ký có thể yêu cầu bảo hộ nhiều hơn một đối tượng (của quyền đối với sáng chế), hay nói cách khác là nhiều hơn một sáng chế;
- việc công bố và bộc lộ sáng chế tại một hội thảo khoa học được thừa nhận là trường hợp được loại trừ đối với khả năng làm mất tính mới.
Như vậy, sau Pháp lệnh Sáng chế đầu tiên năm 1985, Nhật Bản đã có 03 phiên bản Luật Sáng chế mang tính bước ngoặt được ban hành vào các năm 1899, 1921 và 1959. Luật Sáng chế năm 1959 cũng đã được tiếp tục sửa đổi, bổ sung nhiều lần với lần gần nhất là theo Luật số 51 ngày 03/7/2023.
Các quy định cụ thể về việc bảo hộ sáng chế tại Nhật Bản theo Luật Sáng chế năm 1959 sửa đổi, bổ sung xin được tuần tự giới thiệu trong các bài viết tiếp sau.
ThS. Vương Tịnh Mạch, ThS. Nguyễn Thị Ngọc Nhung, ThS. Hoàng Tuấn Anh
(Trích giới thiệu Kết quả thực hiện Nhiệm vụ KH&CN theo HĐ số 01/2021/HĐ-QKHCN thuộc quyền sở hữu của Sở KH&CN TP.HCM - Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thị Xuân Anh, Viện Quản trị Tài sản trí tuệ Minh Đức)
Luật Sáng chế hiện hành của Nhật Bản là Luật số 121 ngày 13 tháng 4 năm 1959, nên còn được biết đến là Luật Sáng chế năm 1959. Từ khi được ban hành đến nay đã hơn 60 năm, Luật Sáng chế được sửa đổi, bổ sung nhiều lần và lần sửa đổi, bổ sung gần nhất được thực hiện theo Luật số 51 ngày 03 tháng 7 năm 2023.
Luật Sáng chế năm 1959 có 12 Chương và 01 Phụ lục, số thứ tự chỉ có đến Chương XI, do có Chương III và Chương III-2. Trong các chương chỉ có Chương IV là được phân thành 3 Mục, còn lại các Chương khác không có sự phân chia thành mục.
Các điều được đánh số từ Điều 1 đến Điều 204, nếu chỉ dựa vào số thứ tự của Điều cuối cùng thì rất dễ dẫn đến kết luận sai về tổng số lượng điều trong Luật Sáng chế. Luật Sáng chế Nhật Bản hiện hành có 291 Điều đang có hiệu lực (không tính 20 Điều đã bị bãi bỏ).
Lý do là vì, trải qua hơn 60 năm thực thi, Luật được bổ sung số lượng lớn quy định mới và trong những lần bổ sung, sửa đổi, để không phá vỡ cấu trúc ban đầu của Luật năm 1959, các nhà làm luật đã sáng tạo ra cách thức đánh số thứ tự của các điều mới bổ sung như sau: cố định số thứ tự của các Điều đã có và vẫn còn hiệu lực, và điều mới bổ sung được đánh số thêm số thứ tự phụ.
Ví dụ, do đã có Điều 17, nên khi bổ sung những quy định mới liên quan đến Điều 17, Luật có thêm Điều 17-2 đến Điều 17-6. Cá biệt, Chương IX gồm 19 Điều hoàn toàn được bổ sung sau này (từ Điều 184-3 đến Điều 184-20) mà trong đó, Điều 184-12 lại được bổ sung bằng Điều 184-12-2).
Ngoài ra, số thứ tự của các Khoản, Điểm theo cách trình bày của Luật Sáng chế Nhật Bản được đặt trong hai dấu ngoặc đơn, trong đó số thứ tự của Khoản là (1), (2),…; còn dưới Khoản là Điểm thì số thứ tự được sử dụng là (i), (ii), (iii)…
Về nội dung, Luật Sáng chế Nhật Bản điều chỉnh các vấn đề liên quan đến: sáng chế, đăng ký sáng chế, xử lý xâm phạm quyền đối với sáng chế và thủ tục xử lý khiếu nại, khởi kiện liên quan đến sáng chế và bằng độc quyền sáng chế:
- Từ Chương I đến Chương IV (Điều 1 đến Điều 112-3): có 159 Điều quy định về xác lập quyền đối với sáng chế, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia quá trình này;
- Từ Chương V đến Chương VIII (Điều 113 đến Điều 184-2): có 85 Điều, là các quy định mang tính hành chính - tư pháp, điều chỉnh từ việc phản đối quyết định của thẩm định viên (về việc cấp bằng hoặc từ chối cấp bằng), đến việc yêu cầu tòa án hủy bằng độc quyền đã cấp;
- Chương IX bao gồm 19 Điều (từ Điều 184-3 đến Điều 184-20): tập trung các quy định điều chỉnh về đơn đăng ký quốc tế theo Hiệp ước PCT;
- Chương X gồm 15 Điều (từ Điều 185 đến Điều 195-4): điều chỉnh các vấn đề chung như: quy định áp dụng khi bằng độc quyền có từ hai yêu cầu bảo hộ trở lên, yêu cầu có dấu ký chú về bằng độc quyền trên sản phẩm (mark of patent), cấm đánh dấu giả về bằng độc quyền, Công báo về sáng chế…;
- Chương XI gồm 12 Điều (từ Điều 196 đến Điều 204): quy định các chế tài cụ thể đối với các hành vi xâm phạm quyền đối với bằng độc quyền sáng chế.
Đối chiếu nhanh với pháp luật về bảo hộ sáng chế tại Việt Nam: Việt Nam hiện không có văn bản luật điều chỉnh riêng đối với từng đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp nói chung và đối với sáng chế nói riêng.
Quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả; quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó do Luật Sở hữu trí tuệ điều chỉnh. Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam ban hành lần đầu tiên vào năm 2005 với 222 điều. Từ khi ban hành đến nay là 20 năm, Luật Sở hữu trí tuệ đã được sửa đổi, bổ sung 3 lần vào các năm 2009, 2019 và 2022 (lần sửa đổi, bổ sung thứ tư dự kiến sẽ thực hiện vào cuối năm 2025).
Theo Luật số 07/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, Luật hiện có có 232 điều, được đánh số thứ tự từ Điều 1 đến Điều 222, trong đó có 13 điều vừa được bổ sung và bãi bỏ 2 điều (Điều 5 và Điều 215). Các điều mới bổ sung được đánh số thứ tự bằng cách giữ cố định số thứ tự của các Điều đã có và thêm vào ký tự phụ là chữ cái theo bảng chữ cái tiếng Việt, ví dụ Điều 12a, Điều 191a, Điều 191b…
Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành có 109 điều liên quan đến sáng chế, trong đó 11 điều là phần quy định chung về sở hữu trí tuệ, 24 điều là quy định chung về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, 74 điều có quy định điều chỉnh trực tiếp liên quan đến sáng chế. Điều dễ dàng nhận ra là quy định của luật điều chỉnh về sáng chế của Việt Nam chỉ bằng khoảng 1/3 so với Luật Sáng chế Nhật Bản.
Như đã đề cập ở bài “Khái lược về quá trình hình thành pháp luật sáng chế Nhật Bản”, Chính phủ Nhật xác định hệ thống bảo hộ sáng chế là công cụ quan trọng để bảo vệ và phát triển nền kinh tế công nghiệp của quốc gia. Vì vậy việc bổ sung, phát triển Luật Sáng chế là “nhằm hiện thực hóa một nền kinh tế và xã hội năng động dựa trên việc tạo ra các giá trị gia tăng thông qua việc tạo ra tài sản trí tuệ mới và khai thác hiệu quả tài sản trí tuệ đó trước nhu cầu ngày càng tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế của ngành công nghiệp Nhật Bản trước những thay đổi của tình hình kinh tế xã hội trong và ngoài nước, thúc đẩy các biện pháp tạo ra, bảo vệ và khai thác tài sản trí tuệ một cách tập trung …”.
Điều này có nghĩa là mức độ chi tiết của các quy định về sáng chế của Luật Sáng chế Nhật Bản không chỉ phản ánh mức độ tiến độ của trình độ kỹ thuật theo thời gian mà còn phản ánh các khía cạnh kinh tế - pháp lý của sáng chế trong các ngành công nghiệp, dịch vụ.
ThS. Vương Tịnh Mạch, ThS. Nguyễn Thị Ngọc Nhung, ThS. Hoàng Tuấn Anh
(Trích giới thiệu Kết quả thực hiện Nhiệm vụ KH&CN theo HĐ số 01/2021/HĐ-QKHCN thuộc quyền sở hữu của Sở KH&CN TP.HCM - Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thị Xuân Anh, Viện Quản trị Tài sản trí tuệ Minh Đức)
SÁNG CHẾ VÀ BẰNG ĐỘC QUYỀN SÁNG CHẾ/GIẢI PHÁP HỮU ÍCH
Theo quy định tại Khoản 12 Điều 4 Luật SHTT, sáng chế là một giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên (việc tìm ra các quy luật tự nhiên được gọi là các phát hiện hoặc phát minh).
- Theo Điểm b Khoản 3 và Điểm d Khoản 5, Điều 16 Thông tư 23/2023/TT-BKHCN: mỗi sáng chế (mỗi giải pháp kỹ thuật) là một TẬP HỢP CẦN VÀ ĐỦ các THÔNG TIN KỸ THUẬT (cách thức kỹ thuật và/hoặc phương tiện kỹ thuật) nhằm giải quyết một vấn đề xác định, cụ thể:
+ Sáng chế dạng sản phẩm có thể là:
- Vật thể (nhân tạo) như dụng cụ, máy móc, thiết bị, linh kiện, mạch điện...: được mô tả bằng một tập hợp cần và đủ các thông tin/đặc điểm kỹ thuật về mặt kết cấu như: chi tiết, cụm chi tiết, chức năng của chi tiết/cụm, mối liên kết giữa các chi tiết/cụm,….
- Chất (đơn chất, hợp chất, hỗn hợp chất nhân tạo) như vật liệu, chất liệu, thực phẩm, dược phẩm...: được mô tả bằng một tập hợp cần và đủ các thông tin/đặc điểm kỹ thuật về mặt cấu tạo của chất như: các thành phần/phần tử hợp thành, chức năng của mỗi thành phần/phần tử, tỷ lệ và trạng thái của các thành phần/phần tử,…
- Vật liệu sinh học như gen, thực vật hay động vật biến đổi gen...: được mô tả bằng các thông tin di truyền bị biến đổi dưới tác động của con người và có khả năng tự tái tạo.
+ Sáng chế dạng quy trình có thể là quy trình công nghệ hoặc phương pháp chẩn đoán, dự báo, kiểm tra hoặc xử lý…: được mô tả bằng một tập hợp cần và đủ các thông tin về các thao tác cần thực hiện, trình tự của các thao tác, điều kiện, biện pháp, phương tiện,…thực hiện mỗi thao tác…
Nhà khởi nghiệp nên xem xét làm quen dần và sử dụng theo văn phong của pháp luật về bảo hộ sáng chế, trong đó, mỗi thông tin kỹ thuật hoặc đặc điểm kỹ thuật sẽ được gọi là một dấu hiệu kỹ thuật, một dấu hiệu kỹ thuật nằm trong “một tập hợp cần và đủ các thông tin/đặc điểm kỹ thuật” sẽ được gọi là một dấu hiệu kỹ thuật cơ bản,…
- Theo Điều 58 và 93 Luật SHTT:
+ Các sáng chế đáp ứng đồng thời 3 điều kiện: có khả năng áp dụng công nghiệp, có tính mới và có trình độ sáng tạo có thể được cấp Bằng độc quyền Sáng chế, có hiệu lực độc quyền từ ngày cấp đến hết 20 năm kể từ ngày nộp đơn;
+ Các sáng chế không phải là hiểu biết thông thường và đáp ứng đồng thời 2 điều kiện: có khả năng áp dụng công nghiệp và có tính mới có thể được cấp Bằng độc quyền Giải pháp hữu ích, có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 năm kể từ ngày nộp đơn.
Diễn đạt theo ngôn ngữ của pháp luật SHTT thì sáng chế (giải pháp kỹ thuật) là một đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp và có hai loại văn bằng bảo hộ dành cho đối tượng này: Bằng độc quyền Sáng chế (BĐQ SC) và Bằng độc quyền Giải pháp hữu ích (BĐQ GPHI).
Mục đích cơ bản của việc đăng ký bảo hộ sáng chế đối với doanh nghiệp khởi nghiệp là: nếu các hàng hóa hoặc dịch vụ được sản xuất theo sáng chế được thị trường chấp nhận và ưa thích, doanh nghiệp sẽ có cơ hội tối đa hóa doanh thu và lợi nhuận do có quyền ngăn cấm các bên cạnh tranh không được sản xuất hoặc cung ứng các hàng hóa hoặc dịch vụ đó. Một hệ quả tài chính của quyền ngăn cấm này là sự gia tăng tính hấp dẫn trong thu hút vốn đầu tư hoặc/và quan hệ hợp tác vào các kế hoạch kinh doanh hoặc dự án thương mại hóa liên quan.
CÁC ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ SÁNG CHẾ
- Theo Điều 62 Luật SHTT, một sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện được việc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung của sáng chế và thu được kết quả ổn định. Để đáp ứng yêu cầu bảo hộ này, nhà khởi nghiệp:
+ Chỉ cần mô tả một cách rõ ràng và đầy đủ về bản chất của sáng chế (qua một tập hợp cần và đủ các dấu hiệu kỹ thuật cơ bản) đến mức người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật của sáng chế dựa vào lời mô tả đó là có thể tạo ra, sử dụng, khai thác hoặc thực hiện được giải pháp. Xin chú ý là: không nhất thiết phải chế tạo ra hoặc sản xuất thử để đưa ra hay cung cấp một minh chứng cụ thể, chỉ cần trình bày đủ và đúng lô-gích kỹ thuật.
+ Mô tả đủ rõ đến đâu thì sau khi nhận được Bằng độc quyền, sẽ có quyền cấm người khác không được sản xuất (sáng chế dạng sản phẩm) hoặc áp dụng (sáng chế dạng quy trình) đến đó: mô tả không rõ ràng và không đầy đủ thì không có cơ sở gì để cấm người khác không được làm theo.
+ Không nhất thiết phải bộc lộ cặn kẽ mọi chi tiết của sáng chế mà mình đã tạo ra. Thí dụ: nội dung (dấu hiệu) kỹ thuật nào e rằng sớm hoặc muộn cũng sẽ có người khác nghĩ được ra thì nên đưa vào mô tả trong “tập dấu hiệu kỹ thuật cơ bản” để xác lập quyền tương ứng trong Bằng độc quyền; nội dung (dấu hiệu) kỹ thuật nào cho là người khác sẽ khó hoặc không thể nào tạo ra được thì có thể tiếp tục giữ như một bí mật kinh doanh…
- Theo Điều 60 Luật SHTT, một sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài, trước ngày nộp đơn đăng ký hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế (xin xem bài “Khái quát về Pháp luật SHTT Việt Nam”). Để đáp ứng yêu cầu bảo hộ này:
+ Nhà khởi nghiệp cần bảo đảm rằng tập dấu hiệu kỹ thuật cơ bản hợp thành sáng chế muốn đăng ký của mình không bị trùng hoặc bị coi là tương đương với tập dấu hiệu kỹ thuật cơ bản của bất kỳ sáng chế đối chứng nào (sáng chế đối chứng là các sáng chế đã bộc lộ công khai trùng hoặc “tương tự gần nhất” với sáng chế muốn đăng ký).
+ Theo đó, nhà khởi nghiệp nên tra cứu kỹ để nhận biết các sáng chế đối chứng nhằm vừa tránh nghiên cứu trùng lặp, vừa kế thừa cả về nội hàm kỹ thuật lẫn một phần văn phong mô tả và, về lý thuyết, bất kỳ một “cải tiến” nào từ một trong số các sáng chế đối chứng, làm xuất hiện ít nhất một dấu hiệu kỹ thuật cơ bản mới trong sáng chế muốn đăng ký, thì sáng chế muốn đăng ký sẽ có thể đáp ứng được yêu cầu về tính mới trong việc đăng ký bảo hộ độc quyền.
- Theo Điều 61 Luật SHTT, một sáng chế được coi là có trình độ sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký, sáng chế đó là một bước tiến sáng tạo, tức không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng:
+ “Bước tiến sáng tạo” có thể nảy sinh từ hoạt động nghiên cứu KH&CN với cách tiếp cận toàn diện và có hệ thống, giúp (các) nhà nghiên cứu liên quan có thể am hiểu sâu hơn về bản chất của vấn đề cần giải quyết và theo đó là cách thức tạo ra các phương án xử lý khả dụng, so với những nhà chuyên môn khác đã cùng đọc qua mọi sáng chế tương tự đã bộc lộ công khai.
+ “Bước tiến sáng tạo” cũng có thể nảy sinh từ thực tiễn say mê hoặc kinh nghiệm lăn lộn trải nghiệm với đối tượng liên quan trong vấn đề cần giải quyết, giúp nhà hoặc nhóm tác giả sáng chế tương ứng có thể bật ra giải pháp khác biệt, ngay cả khi chưa biết đến hoặc chưa đọc hết về các sáng chế tương tự đã được bộc lộ công khai.
MỘT SỐ HÀM Ý THƯƠNG MẠI TRONG THỦ TỤC ĐĂNG KÝ SÁNG CHẾ
- Theo Khoản 2 Điều 108, Điều 109 và Khoản 1 Điều 119 Luật SHTT, Đơn đăng ký nộp đến sẽ được Cục SHTT thẩm định hình thức trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nộp đơn. Mục đích của việc thẩm định hình thức là để đánh giá về tính hợp lệ của Đơn theo Khoản 5, Điều 9 Thông tư 23/2023/TT-BKHCN.
- Theo Khoản 2 Điều 110 Luật SHTT, Đơn đăng ký sáng chế được công bố trong tháng thứ 19 kể từ ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên, hoặc vào thời điểm sớm hơn theo yêu cầu của người nộp đơn. Theo đó, doanh nghiệp khởi nghiệp nên xem xét:
+ Nếu sáng chế đã nộp đơn đăng ký chưa đến thời điểm đưa vào khai thác: không cần công bố trước cuối tháng thứ 18 để tránh bộc lộ sớm về nội dung của sáng chế, có thể khiến các bên cạnh tranh nhận biết và đánh giá được chiến thuật, sách lược hoặc chiến lược công nghệ và sản phẩm của doanh nghiệp.
+ Ngược lại, nếu các điều kiện thương mại hóa đã được chuẩn bị đầy đủ: có thể yêu cầu công bố sớm và sử dụng Công báo Sở hữu công nghiệp cùng trang web tương ứng của Cục SHTT như một kênh giới thiệu chính thống để chào mời hợp tác khai thác sáng chế.
+ Trong một số trường hợp, việc công bố sáng chế còn được vận dụng như một công cụ khuyến cáo trong cạnh tranh, để khẳng định “quyền tạm thời” của người nộp đơn đăng ký theo quy định tại các Khoản 1 và 3 Điều 131 Luật SHTT.
+ Trước thời điểm Đơn đăng ký sáng chế được công bố, Cục SHTT có trách nhiệm bảo mật nội dung Đơn theo quy định tại Điều 111 Luật SHTT.
- Theo Khoản 1 và 2 Điều 113 và Điểm a Khoản 2 Điều 119 Luật SHTT, trong vòng 36 tháng đối với Đơn đăng ký nhận BĐQ GPHI và trong vòng 42 tháng đối với Đơn đăng ký nhận BĐQ SC, người nộp đơn có thể nộp phí để yêu cầu Cục SHTT thẩm định nội dung Đơn. Thời hạn thẩm định nội dung theo quy định là không quá 18 tháng kể từ ngày công bố Đơn (nếu yêu cầu thẩm định nội dung được nộp trước ngày công bố Đơn) hoặc kể từ ngày Cục nhận được yêu cầu thẩm định nội dung (nếu yêu cầu đó được đưa ra sau ngày công bố Đơn). Theo đó:
+ Tại thời điểm nộp đơn, nếu hàng hóa hoặc/và dịch vụ được sản xuất theo sáng chế đã có điều kiện gia nhập thị trường: doanh nghiêp khởi nghiệp có thể cho công bố và thẩm định nội dung luôn để sớm lấy Bằng, phục vụ việc khuyến cáo xâm phạm và bảo vệ các thị phần liên quan.
+ Nếu đã công bố sáng chế ra để xúc tiến tiếp thị hàng hóa/dịch vụ sản xuất theo sáng chế, nhưng đáp ứng từ thị trường là không đáng kể; hoặc bản thân sáng chế lại sớm bị đào thải về mặt công nghệ bởi các giải pháp kỹ thuật mới do người khác bộc lộ công khai: doanh nghiệp khởi nghiệp cũng không nhất thiết cho thẩm định nội dung để lấy Bằng độc quyền…
Nhiều tập đoàn quốc tế hàng năm đều đăng ký hàng ngàn đơn sáng chế vào nhiều nước khác nhau trong đó có Việt Nam, chủ yếu là để “ém trước” các thị trường của các sản phẩm dự định được sản xuất theo các sáng chế đã nộp đơn. Họ có thể tiến hành lấy Bằng độc quyền hoặc không trong vòng một, hai, ba, bốn hoặc năm năm sau tùy theo giá trị và thời cơ khai thác thương mại thực tế hoặc kỳ vọng của mỗi sáng chế theo dòng thời gian.
Theo đó, hệ thống đăng ký sáng chế về bản chất là một hệ thống pháp lý trợ giúp kinh doanh công nghệ độc quyền: sẽ có các sáng chế hết sức đắt giá nhưng sẽ có nhiều hơn các sáng chế chỉ có vai trò lót đường cho tri thức và công nghiệp. Xin tránh ngộ nhận rằng sáng chế là một hệ thống chủ yếu để thể hiện hoặc tôn vinh tài năng.
Tác giả: Đào Minh Đức
Mục IV Sổ tay “Sở hữu trí tuệ trong hoạt động của Doanh nghiệp khởi nghiệp”
Chủ sở hữu Quyền tác giả: Sở KH&CN TP.HCM 2020
Ý TƯỞNG KHỞI NGHIỆP, GIẢI PHÁP THỰC HIỆN & CÁC ĐỐI TƯỢNG (CỦA) QUYỀN SHTT
Trong cuộc sống, thường xảy ra các tình huống như:
- Một người có ý định khởi sự kinh doanh do nhận biết được một thời cơ thuận lợi, nhưng lại chưa có đủ nguồn lực thực hiện; hoặc
- Một nhà chuyên môn có ý tưởng về một khả năng đổi mới, nhưng lại không thể tự mình phát triển hoặc hoàn thiện giải pháp khả thi tương ứng; hoặc
- Một nghệ sĩ có một cảm hứng về thẩm mỹ hoặc nghệ thuật, nhưng lại chưa thuận tiện hoặc chưa đủ điều kiện để diễn đạt thành một tác phẩm hoặc một cuộc biểu diễn có nét khác biệt…
Nếu người có ý định khởi nghiệp, nhà chuyên môn hoặc nghệ sĩ như nêu trên đã có ít nhiều kiến thức hoặc kinh nghiệm tham gia thương trường, phản xạ thường gặp sẽ là tạm giữ kín thông tin về thời cơ kinh doanh, khả năng đổi mới hoặc cảm hứng thẩm mỹ… để: hoặc tự mình tiếp tục củng cố nguồn lực và điều kiện thực hiện, hoặc xin thêm ý kiến tham vấn trong một phạm vi đủ tin cậy.
Ngược lại, với người có tính vô tư, hoặc không có nhu cầu hay áp lực về mặt tài chính, hoặc chưa trải nghiệm hoạt động kinh doanh…: xu hướng chung là sẽ chia sẻ rộng rãi về thời cơ đã nhận biết, ý tưởng về đổi mới, cảm hứng về thẩm mỹ… của mình, để mong sớm có thể hiện thực hóa nhằm góp phần thúc đẩy phát triển, hoặc có thể học hỏi thêm từ các ý kiến phản biện, góp ý, hỗ trợ…
Động cơ khởi phát nhiều ý tưởng ban đầu khác tất nhiên lại càng đa dạng, và rủi ro của việc quên mất ý tưởng ban đầu thường khi cũng không lớn hoặc không nhận biết được ngay. Tuy nhiên, có khi người tiếp nhận ý tưởng ban đầu không trao đổi trở lại với người đã đưa ra ý tưởng, mà lại đi bàn cách phát triển hoặc hoàn thiện giải pháp thực hiện ý tưởng đó với người khác vì một lý do nào đó, và rủi ro dẫn đến tranh chấp tương lai có thể phát sinh.
Rủi ro sẽ nghiêm trọng hơn trong trường hợp ý tưởng ban đầu đã có hoặc bao hàm luôn giải pháp thực hiện; hoặc thông qua hoạt động tiếp nhận các ý kiến phản biện, góp ý, hỗ trợ… mà giải pháp thực hiện được bật ra ngay hoặc dần được định hình. Khi này, tiến trình hoàn thiện giải pháp thực hiện hoặc chuẩn bị áp dụng giải pháp thực hiện sẽ gia tăng dần ý nghĩa kinh doanh, cũng là gia tăng dần khả năng đãi ngộ công lao của những người thích đưa vào áp dụng các ý tưởng mới.
Mỗi giải pháp thực hiện có giá trị cũng là một sản phẩm trí tuệ (SPTT) có ý nghĩa. Các SPTT có tính mới, tính sáng tạo và có giá trị phục vụ hoặc khả năng khai thác lâu dài dần được pháp luật nhìn nhận như các đối tượng cần được tạo ra càng nhiều càng tốt, trên cơ sở có một cơ chế bảo hộ phù hợp giúp khích lệ thỏa đáng các chủ thể đã sáng tạo hoặc đầu tư cho hoạt động sáng tạo tương ứng.
Theo dòng lịch sử, pháp luật SHTT được hình thành, tuần tự xác định và gọi một số SPTT có thể xác lập cơ chế bảo hộ minh bạch là các đối tượng (của) quyền SHTT.
Theo đó, bản chất của việc bảo hộ các đối tượng quyền SHTT là: khuyến nghị người sáng tạo hoặc người đầu tư cho việc sáng tạo hãy phổ cập kết quả sáng tạo của mình ra xã hội để phục vụ nhu cầu tiêu dùng và hưởng thụ văn hóa, qua đó, thúc đẩy phát triển kinh tế và đặc biệt là thúc đẩy các sáng tạo tiếp nối; đối lại, nhà nước sẽ trao độc quyền sử dụng cho người sáng tạo hoặc người đầu tư cho việc sáng tạo trong việc khai thác (các) thị trường liên quan, để họ có cơ hội tối đa hóa lợi nhuận nhằm phục hồi chi phí nghiên cứu sáng tạo và các chi phí sản xuất kinh doanh khác, cũng như thuận lợi trong việc đầu tư phát triển tiềm lực sáng tạo của mình.
Ngược lại, các bên cạnh tranh sẽ phải có các sáng tạo tốt hơn hoặc ít ra là sáng tạo thay thế nếu muốn tiếp tục tồn tại hoặc giữ vững vị thế thị trường. Điều đó giúp thị trường được liên tục đa dạng hóa và đổi mới theo các tiến bộ công nghệ trong mọi lĩnh vực.
Không có cơ chế này, người đưa vào áp dụng các giải pháp mới và sáng tạo rất dễ bị người đang nắm lợi thế trong lĩnh vực kinh doanh tương ứng lấn át thị phần hoặc ép bật ra khỏi thị trường và theo đó, sẽ rất khó xảy ra các đợt đảo lộn ngôi vị của các tập đoàn (đa quốc gia) đang thống lĩnh thị trường và giúp nền kinh tế (quốc tế) có thể chuyển nhanh vào các chu kỳ tăng trưởng mới.
Cụ thể, các đối tượng quyền SHTT trong Luật SHTT Việt Nam hiện hành mà người khởi nghiệp có thể đối chiếu với giải pháp mới và sáng tạo của mình để chọn đúng (các) cơ chế bảo hộ thích đáng là:
- Các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học: là đối tượng của Quyền tác giả.
- Các cuộc biểu diễn, bản ghi âm hoặc/và ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa: là 04 đối tượng của Quyền liên quan (đến Quyền tác giả).
- Các bí mật kinh doanh, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, tên thương mại, nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý: là 07 đối tượng của Quyền Sở hữu công nghiệp.
- Vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch: là 02 đối tượng của Quyền đối với Giống cây trồng.
GIAO KẾT BẢO MẬT TRONG HOẠT ĐỘNG KHỞI NGHIỆP
Như vậy, nếu việc tạo ra một đối tượng quyền SHTT mới (một tác phẩm, một giống cây, một sáng chế…) có khả năng hấp dẫn nhu cầu hưởng thụ hoặc tiêu dùng là tiền đề kinh tế cho hoạt động khởi nghiệp sáng tạo, thì việc biến “đối tượng của quyền” này thành một quyền SHTT thực thụ là một ứng xử pháp lý tối ưu trong hoạt động thương mại hóa sản phẩm sáng tạo tương ứng.
Hành vi biến một đối tượng quyền SHTT thành một quyền SHTT tương ứng được gọi là hành vi xác lập quyền. Việc không muốn hoặc không thể xác lập quyền sẽ dẫn tới một hệ quả là: nếu doanh nghiệp khởi nghiệp tiếp thị thành công một hàng hóa hoặc một dịch vụ tạo ra từ đối tượng của quyền SHTT, các bên cạnh tranh sẽ có quyền sản xuất hoặc cung ứng theo, khiến kế hoạch kinh doanh ban đầu của doanh nghiệp có thể bị xáo trộn hoặc đổ vỡ, lợi nhuận có thể bị suy giảm, đối tác hoặc bên góp vốn có thể sẽ không hợp tác hoặc nếu đã lỡ hợp tác thì có thể phải tính toán lại.
Trong nghiên cứu phát triển, sản xuất kinh doanh hoặc đời sống thực tế, mỗi sản phẩm mới, quy trình mới, giải pháp mới... đều có thể hàm chứa nhiều đối tượng quyền SHTT khác nhau. Thí dụ, một báo cáo khoa học mà bản thân báo cáo đã là một tác phẩm có Quyền tác giả sẽ có thể:
(i) vừa hàm chứa một số bảng, biểu, đồ thị… mà mỗi bảng, biểu, đồ thị cũng là một “tác phẩm con” có thể có Quyền tác giả riêng biệt;
(ii) vừa hàm chứa phần mô tả về một giống cây có các tính trạng khác biệt, đồng nhất, ổn định và mới về mặt thương mại, đủ để có thể nhận được một Bằng bảo hộ Giống cây trồng;
(iii) vừa hàm chứa phần mô tả một hoặc một số quy trình tạo giống, gieo trồng, chăm sóc… tương ứng, đủ để có thể nhận được một Bằng độc quyền Sáng chế…
Nếu vì lý do nào đó mà hành vi xác lập quyền đối với một đối tượng quyền SHTT vẫn chưa được xúc tiến, hoặc đang xúc tiến nhưng chưa hoàn thành, thì mọi thông tin về đối tượng quyền SHTT tương ứng cần được bảo mật một cách phù hợp cho đến khi đưa vào kinh doanh. Cụ thể:
- Khi cần giới thiệu hoặc chào mời về một đối tượng quyền SHTT mới tạo lập nhưng chưa được xác lập quyền SHTT: mỗi thành viên của hội đồng thẩm định liên quan hoặc mỗi đối tác tiếp nhận thông tin đều cần được cho ký một cam kết bảo mật bằng văn bản, khẳng định sẽ không tiết lộ thông tin về đối tượng SHTT của doanh nghiệp hoặc nhà khởi nghiệp cho bất kỳ ai khác và cũng không sử dụng thông tin đó vào bất kỳ mục đích gì khác.
- Tốt hơn, các thông tin mật nên được bộc lộ dần qua một số bước trao đổi, để thuận tiện hơn cho việc đánh giá khả năng và thiện chí hợp tác, hỗ trợ, góp vốn... của đối tác, mỗi bước lại ký một cam kết bảo mật tương ứng. Nếu đi đến được hợp đồng hợp tác, góp vốn, li-xăng, chuyển giao công nghệ…, các hợp đồng này đều cần có một nhóm cam kết về nghĩa vụ bảo mật.
- Bản thân nhà khởi nghiệp hoặc doanh nghiệp khởi nghiệp cũng cần sẵn sàng ký các cam kết bảo mật tương tự, khi được tiếp cận các thông tin mật của các đối tác.
BÍ MẬT KINH DOANH (BMKD) CỦA DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP
Tốt hơn nữa, mọi thông tin mật đều cần được xem xét và đánh giá xem có thể được bảo hộ như một BMKD hay không, bằng cách đối chiếu với định nghĩa và các điều kiện bảo hộ sau:
- Định nghĩa: theo Khoản 23 Điều 4 và Điểm c Khoản 3 Điều 6 Luật SHTT, BMKD là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính hoặc trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh. Quyền sở hữu công nghiệp đối với BMKD được xác lập trên cơ sở có được BMKD một cách hợp pháp và thực hiện việc bảo mật BMKD đó;
- Điều kiện bảo hộ: theo Điều 84 Luật SHTT, BMKD được bảo hộ nếu đáp ứng đồng thời 03 điều kiện:
(i) không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được;
(ii) khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ BMKD lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng BMKD đó;
(iii) được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để BMKD đó không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được.
Hai điều kiện (i) và (ii) nêu trên không khó khăn gì để doanh nghiệp khởi nghiệp tự kiểm định và chứng minh; riêng điều kiện (iii) cần được bảo đảm qua các biện pháp tác nghiệp tối thiểu sau đây:
- Mọi thành viên tham gia doanh nghiệp khởi nghiệp (thành viên góp vốn, thành viên lãnh đạo hoặc quản lý, nhân viên chuyên môn và tác nghiệp, chuyên gia khách mời hay người thực tập…) đều phải ký một hợp đồng, thỏa thuận hoặc văn bản mà trong đó, có (các) điều khoản xác lập nghĩa vụ bảo mật đối với các thông tin mật và các BMKD của doanh nghiệp;
- Ban hành Quy chế bảo mật hoặc lồng ghép các quy định về bảo mật và bảo vệ BMKD vào các nội quy khác của doanh nghiệp khởi nghiệp, tổ chức tập huấn và tái tập huấn định kỳ cho mọi thành viên;
- Mọi hồ sơ mô tả, tài liệu chứa đựng hoặc vật mang thông tin mật và BMKD (bản vẽ, bản mô tả, băng, đĩa, tập tin...) và các bản sao đều phải được đóng hoặc ghi dấu MẬT trên từng trang rời và giáp lai; kèm theo quy định và thông tin hướng dẫn về phạm vi và cách thức sử dụng.
- Mọi cá nhân được tiếp cận và/hoặc sử dụng bất kỳ thông tin mật hoặc BMKD nào đều phải ký xác nhận cụ thể về: người tiếp cận/sử dụng; lý do và người cấp phép tiếp cận/sử dụng; thời điểm và thời gian tiếp cận/sử dụng; cam kết sử dụng đúng quy định và ngày hoàn trả.
- Mọi cá nhân tạo mới, tham gia tạo mới, tiếp nhận thông tin mật và BMKD đều phải thông tin ngay và đầy đủ mọi nội dung liên quan cho người, bộ phận chịu trách nhiệm quản lý thông tin mật và BMKD; bàn giao hoặc được tiếp tục sử dụng, bảo mật theo hướng dẫn và quy định.
Một thông tin mật đã trở thành một BMKD khi đáp ứng định nghĩa và 03 điều kiện nêu trên sẽ là một đơn vị tài sản trí tuệ có phạm vi độc quyền nhất định của doanh nghiệp hoặc người khởi nghiệp.
Tác giả: Đào Minh Đức
Chủ sở hữu Quyền tác giả: Sở KH&CN TP.HCM 2020
KHỞI SỰ KINH DOANH VÀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Một người hoặc một nhóm, vào một thời điểm cụ thể, nảy sinh ý định tự mình hoặc phối hợp với nhau, thành lập một tổ chức để xúc tiến việc sản xuất, kinh doanh một hoặc một số sản phẩm cụ thể, việc mà trước đó họ chưa từng làm, thì đang bước vào hoạt động KHỞI SỰ KINH DOANH.
1. Nếu ý tưởng KHỞI SỰ KINH DOANH xuất phát từ một hàng hóa hoặc dịch vụ hiện có trên thị trường, hoặc chỉ thực hiện một vài cải tiến nhỏ từ hàng hóa, dịch vụ hiện có, người khởi sự sẽ:
a. Cần nhận diện hoặc phát hiện được một thời cơ kinh doanh. Thời cơ kinh doanh thường gắn liền với sự chênh biệt cung cầu tại khu vực dự kiến khởi sự, hoặc khả năng cung ứng thêm được một vài dịch vụ đi kèm, có thể mang lại một tỷ suất sinh lợi thỏa đáng.
Trường hợp ý tưởng kinh doanh được hướng đến mục tiêu phục vụ xã hội hoặc/và phi lợi nhuận, doanh nghiệp khởi sự chỉ cần bảo toàn được vốn qua các chu kỳ hoạt động.
b. Ở khía cạnh tài chính, trước khi tính đến việc bảo toàn vốn hoặc đạt được một tỷ suất sinh lợi kỳ vọng, doanh nghiệp khởi sự sẽ cần:
+ Tập hợp đủ nguồn vốn ban đầu: thường sẽ có một bộ phận là vốn tự bỏ ra bởi (các) người khởi sự, bộ phận còn lại là vốn vay, nếu thấy thiếu.
Nói cách khác, nguồn vốn của doanh nghiệp khởi sự sẽ bao gồm phần vốn chủ sở hữu (vốn tự bỏ ra bởi một/nhiều chủ sở hữu của doanh nghiệp) và phần vốn vay hay nợ (được ghi nhận tách biệt thành hai khoản là nợ dài hạn và nợ ngắn hạn).
+ Sử dụng nguồn vốn đó để mua sắm các loại tài sản dài hạn và tài sản ngắn hạn cho doanh nghiệp, phục vụ việc triển khai ý tưởng khởi sự kinh doanh ban đầu.
Trong số các tài sản dài hạn, thường sẽ có các tài sản cố định hữu hình (như: nhà xưởng, thiết bị, công cụ sử dụng trên một năm,…) và các tài sản cố định vô hình (như: quyền sử dụng đất; các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, tác phẩm… được mua lại;…).
Trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tổng nguồn vốn (vốn chủ sở hữu + nợ) luôn bằng với tổng tài sản (tài sản dài hạn + tài sản ngắn hạn): việc nhận biết các thành phần hợp thành trong cấu trúc của nguồn vốn và của tổng tài sản, cùng tương quan tỷ lệ giữa một số thành phần đó, sẽ cung cấp cho người quan tâm các thông tin ban đầu về tình hình và đặc điểm tài chính của doanh nghiệp khởi sự.
+ Sử dụng tiền (thuộc nhóm tài sản ngắn hạn) để huy động nhân lực vào các dây chuyền lao động, tác nghiệp… và tạo ra các sản phẩm trí tuệ mới (từ các bảng biểu, báo cáo, kế hoạch… đến các sáng chế, kiểu dáng, phần mềm…: hoạt động này cũng đang ngày càng được bổ trợ hoặc thay thế dần bằng trí thông minh nhân tạo (AI) mà nếu tự tạo ra hoặc mua về, thường sẽ thuộc nhóm tài sản dài hạn/cố định).
c. Ở khía cạnh pháp lý:
+ Người/nhóm khởi sự kinh doanh sẽ cần từng bước nắm bắt và tuân thủ (có thể thông qua các dịch vụ pháp lý ở giai đoạn đầu): pháp luật về đăng ký kinh doanh, pháp luật chuyên ngành của lĩnh vực kinh doanh (các giấy phép, các điều cấm…), pháp luật lao động, pháp luật dân sự (giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự…), pháp luật có liên quan khác như thuế, đảm bảo chất lượng, tiêu chuẩn hóa, trách nhiệm đối với sản phẩm, bảo vệ người tiêu dùng và bí mật đời tư, bảo vệ môi trường, phòng cháy chữa cháy,…
+ Về mặt SHTT, doanh nghiệp khởi sự kinh doanh ít nhất nên xem xét:
- Thực hiện thủ tục nội bộ để xác lập quyền SHTT đối với tên của doanh nghiệp;
- Đăng ký bảo hộ (các) nhãn hiệu dự tính sử dụng để cung ứng (các) hàng hóa/dịch vụ (khác nhau);
- Đăng ký (các) tên miền có chứa tên doanh nghiệp hoặc nhãn hiệu đã được bảo hộ;
- Nắm bắt dần các vấn đề liên quan đến các sản phẩm trí tuệ (từ Mục II đến Mục VII của Sổ tay).
Nhu cầu nắm bắt và xử lý đồng bộ các vấn đề trên sẽ đặt ra khá nhiều thách thức và các thách thức này có thể biến thành các rủi ro, nhất là khi (các) nhà khởi sự đang rất hứng khởi hoặc đầy nhiệt tâm và vì vậy, có thể rất nôn nóng.
2. Nếu ý tưởng KHỞI SỰ KINH DOANH xuất phát phát từ một sản phẩm hoàn toàn mới chưa từng có trước đó, hoặc một hàng hóa/dịch vụ được cải tiến đáng kể giúp tạo ra các tính năng hoặc công dụng mới cho người tiêu dùng, doanh nghiệp khởi sự kinh doanh liên quan có thể đang tham gia vào chuỗi hoạt động KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO với các nét đặc trưng dưới đây.
KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO VÀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ
1. Các cải tiến đáng kể từ một sản phẩm hiện có thường hình thành thông qua các sáng kiến. Mỗi sáng kiến là một sản phẩm trí tuệ mới và trong nhiều trường hợp, các sáng kiến mới này có thể được bảo hộ độc quyền SHTT để tạo rào cản pháp lý, ngăn các bên cạnh tranh không thể gia nhập thị trường bằng các sản phẩm được tạo ra từ sáng kiến đã được bảo hộ.
Doanh nghiệp khởi nghiệp từ các sáng kiến này nên xem xét từ đầu về việc: một khi các tính năng, công dụng mới của sản phẩm cải tiến được bộc lộ ra thị trường, các bên cạnh tranh có thể sẽ sửa đổi, bổ sung khác đi như thế nào theo năng lực công nghệ và hướng tiếp thị của họ. Từ đó, có kế hoạch bảo hộ SHTT mở rộng đến mọi giải pháp cải tiến xoay quanh sáng kiến ban đầu, trong phạm vi mà mình có thể hình dung ra và thiết kế được.
2. Các sản phẩm mới hoàn toàn thường xuất hiện từ các lĩnh vực công nghệ mới, bắt đầu với một (số) công nghệ nguồn chứng minh được các nguyên lý kỹ thuật mới. Mỗi công nghệ nguồn sẽ nảy sinh một chuỗi các công nghệ tiếp nối, công nghệ phái sinh, công nghệ ứng dụng …, có thể hình dung như một cây công nghệ đang tỏa nhánh hoặc như một dạng bản đồ công nghệ.
Đầu ra của các công nghệ ứng dụng là các sản phẩm hoàn toàn mới với các tính năng, công dụng mà thị trường và người tiêu dùng có khi còn chưa hình dung đến. Một khi vào được thị trường, mỗi sản phẩm hoàn toàn mới thường sẽ được các nhà tiếp thị từng bước xúc tiến việc phân mảng thị trường hoặc/và đa dạng hóa thành một phổ sản phẩm mới.
Doanh nghiệp khởi nghiệp thường khởi sự bằng một hoặc vài công nghệ ứng dụng, nảy sinh tại một điểm bất kỳ trên bản đồ công nghệ. Điểm khởi sự càng gần đầu nguồn bản đồ công nghệ, doanh nghiệp càng có cơ hội sở hữu một lượng bằng độc quyền lớn để:
- tăng tiềm lực chi phối thị trường;
- tăng cơ hội vận dụng các phương án (cấp) li-xăng công nghệ trong chiến lược khởi nghiệp, song song với các phương án gia nhập thị trường thông thường.
3. Bên cạnh các rủi ro đã nêu trong hoạt động KHỞI SỰ KINH DOANH, doanh nghiệp KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO sẽ gặp thêm các thách thức riêng có sau đây, đối ứng với các thành quả có thể rất lớn cho tinh thần mạo hiểm cao hơn so với hoạt động KHỞI SỰ KINH DOANH thông thường:
- Các tính năng, công dụng mới và sáng tạo của sản phẩm được cải tiến đáng kể hoặc hoàn toàn mới có thể đòi hỏi phải có thời gian để thị trường làm quen và kiểm chứng, cả về mức độ thiết yếu hoặc hấp dẫn đối với người tiêu dùng, lẫn mức độ hợp lý của giá cả. Kỹ năng truyền thông và tiếp thị có thể giúp rút ngắn hoặc/và gia tăng hiệu quả cho giai đoạn này.
- Theo đó, chi phí ban đầu cho hoạt động đổi mới sáng tạo và tiếp thị nói chung là cao hơn so với hoạt động khởi sự kinh doanh thông thường; dẫn đến giá thành của sản phẩm ở giai đoạn đầu thường cũng cao hơn mà nếu thất bại, hệ quả tài chính có thể sẽ rất nặng nề.
- Tuy nhiên, nếu được tiếp thị thành công, thị trường tương ứng có thể “trương nở” rất nhanh (khởi động được → bật lên nhanh), vừa tạo ra thời cơ lớn, vừa tạo thêm thách thức lớn cả về mặt tài chính lẫn tiếp thị và SHTT:
+ Về mặt SHTT: nếu việc bảo hộ phổ công nghệ và phổ sản phẩm là chưa thích đáng hoặc không thích đáng, các bên cạnh tranh có thể đuổi bám và xâm lấn thị trường bằng các sản phẩm trùng lặp hoặc tương tự với giá thành thấp hơn, nhờ tiết kiệm được chi phí đổi mới sáng tạo, chi phí nghiên cứu thị trường, chi phí kích khởi nhu cầu hoặc ý thích tiêu dùng mới…;
+ Về mặt tiếp thị: ngay cả khi việc bảo hộ SHTT là thỏa đáng, các bên cạnh tranh vẫn có thể tung ra các sản phẩm thay thế có tính năng, công dụng tương đương hoặc áp dụng các kỹ thuật thương mại như: hạ thấp giá bán, tăng hoa hồng cho kênh phân phối, đưa dịch vụ gia tăng vào sản phẩm hiện hữu…, nhất là khi doanh nghiệp khởi nghiệp chần chừ trong phát triển thị phần;
+ Về mặt tài chính: trước áp lực khách quan của việc thị trường (kỳ vọng) trương nở quá nhanh và áp lực chủ quan từ tâm lý phải lấn nhanh thị phần để tận dụng thời cơ, nguồn vốn ban đầu thường khi sẽ cực kỳ thiếu hụt, nếu doanh nghiệp khởi nghiệp vẫn nuôi tham vọng trực tiếp dẫn dắt thị trường thông qua tăng trưởng quy mô. Khi này, hoạt động huy động vốn từ bên ngoài sẽ trở thành cấp bách.
Việc huy động có thể thông qua các công cụ vốn (mời góp thêm vốn chủ sở hữu) hoặc công cụ nợ (bằng các khoản vay hay phát hành trái phiếu) và trong cả hai trường hợp, ít nhất sẽ luôn cần có một kế hoạch kinh doanh trung hạn như một công cụ truyền thông và thuyết phục, để chứng minh tính hấp dẫn của dự án khởi nghiệp sáng tạo.
KHỞI TÁCH DOANH NGHIỆP VÀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Khi hoạt động KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO không được thực hiện bởi một (nhóm) cá nhân đơn lẻ, mà bởi một doanh nghiệp được thành lập và tách ra từ một doanh nghiệp “mẹ”, một trường đại học, hoặc một viện nghiên cứu, nhằm xúc tiến việc khai thác thị trường cho một hoặc một số sản phẩm đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp (mẹ)/trường/viện/…, thì đó là một DOANH NGHIỆP KHỞI TÁCH.
DOANH NGHIỆP KHỞI TÁCH thường giảm nhẹ được khá nhiều thách thức và rủi ro so với các doanh nghiệp KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO khác, ít nhất là trong giai đoạn đầu đưa sản phẩm mới vào thị trường; do thường được tổ chức đã ra quyết định thành lập hỗ trợ ban đầu về: cơ sở vật chất (nhà đất, trang thiết bị, phòng thí nghiệm, xưởng mô phỏng/tạo mẫu…), nhân sự chuyên môn về công nghệ và quản trị, cơ chế tài chính, danh tiếng, các quan hệ đối tác/tiếp thị/khách hàng…
Về mặt SHTT, bên cạnh các nội dung như đã đề cập trong hoạt động KHỞI SỰ KINH DOANH và KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO, DOANH NGHIỆP KHỞI TÁCH thường cũng có lợi thế hơn khi được tổ chức đã ra quyết định thành lập chuyển nhượng hoặc cấp li-xăng sử dụng công nghệ, bí quyết trong hoạt động sản xuất; hoặc thương hiệu, lô gô, nhãn hiệu hay tác phẩm độc quyền trong truyền thông và tiếp thị.
Trong các bài tiếp theo, thuật ngữ khởi nghiệp sẽ được sử dụng chung trong bàn luận, trừ trường hợp cần nêu tách bạch các đặc trưng giữa ba hoạt động: khởi sự kinh doanh, khởi nghiệp sáng tạo và khởi tách doanh nghiệp.
Tác giả: Đào Minh Đức
Chủ sở hữu Quyền tác giả: Sở KH&CN TP.HCM 2020