CẤU TRÚC CỦA LUẬT SÁNG CHẾ NHẬT BẢN
12-12-2025Luật Sáng chế hiện hành của Nhật Bản là Luật số 121 ngày 13 tháng 4 năm 1959, nên còn được biết đến là Luật Sáng chế năm 1959. Từ khi được ban hành đến nay đã hơn 60 năm, Luật Sáng chế được sửa đổi, bổ sung nhiều lần và lần sửa đổi, bổ sung gần nhất được thực hiện theo Luật số 51 ngày 03 tháng 7 năm 2023.
Luật Sáng chế năm 1959 có 12 Chương và 01 Phụ lục, số thứ tự chỉ có đến Chương XI, do có Chương III và Chương III-2. Trong các chương chỉ có Chương IV là được phân thành 3 Mục, còn lại các Chương khác không có sự phân chia thành mục.
Các điều được đánh số từ Điều 1 đến Điều 204, nếu chỉ dựa vào số thứ tự của Điều cuối cùng thì rất dễ dẫn đến kết luận sai về tổng số lượng điều trong Luật Sáng chế. Luật Sáng chế Nhật Bản hiện hành có 291 Điều đang có hiệu lực (không tính 20 Điều đã bị bãi bỏ).
Lý do là vì, trải qua hơn 60 năm thực thi, Luật được bổ sung số lượng lớn quy định mới và trong những lần bổ sung, sửa đổi, để không phá vỡ cấu trúc ban đầu của Luật năm 1959, các nhà làm luật đã sáng tạo ra cách thức đánh số thứ tự của các điều mới bổ sung như sau: cố định số thứ tự của các Điều đã có và vẫn còn hiệu lực, và điều mới bổ sung được đánh số thêm số thứ tự phụ.
Ví dụ, do đã có Điều 17, nên khi bổ sung những quy định mới liên quan đến Điều 17, Luật có thêm Điều 17-2 đến Điều 17-6. Cá biệt, Chương IX gồm 19 Điều hoàn toàn được bổ sung sau này (từ Điều 184-3 đến Điều 184-20) mà trong đó, Điều 184-12 lại được bổ sung bằng Điều 184-12-2).
Ngoài ra, số thứ tự của các Khoản, Điểm theo cách trình bày của Luật Sáng chế Nhật Bản được đặt trong hai dấu ngoặc đơn, trong đó số thứ tự của Khoản là (1), (2),…; còn dưới Khoản là Điểm thì số thứ tự được sử dụng là (i), (ii), (iii)…
Về nội dung, Luật Sáng chế Nhật Bản điều chỉnh các vấn đề liên quan đến: sáng chế, đăng ký sáng chế, xử lý xâm phạm quyền đối với sáng chế và thủ tục xử lý khiếu nại, khởi kiện liên quan đến sáng chế và bằng độc quyền sáng chế:
- Từ Chương I đến Chương IV (Điều 1 đến Điều 112-3): có 159 Điều quy định về xác lập quyền đối với sáng chế, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia quá trình này;
- Từ Chương V đến Chương VIII (Điều 113 đến Điều 184-2): có 85 Điều, là các quy định mang tính hành chính - tư pháp, điều chỉnh từ việc phản đối quyết định của thẩm định viên (về việc cấp bằng hoặc từ chối cấp bằng), đến việc yêu cầu tòa án hủy bằng độc quyền đã cấp;
- Chương IX bao gồm 19 Điều (từ Điều 184-3 đến Điều 184-20): tập trung các quy định điều chỉnh về đơn đăng ký quốc tế theo Hiệp ước PCT;
- Chương X gồm 15 Điều (từ Điều 185 đến Điều 195-4): điều chỉnh các vấn đề chung như: quy định áp dụng khi bằng độc quyền có từ hai yêu cầu bảo hộ trở lên, yêu cầu có dấu ký chú về bằng độc quyền trên sản phẩm (mark of patent), cấm đánh dấu giả về bằng độc quyền, Công báo về sáng chế…;
- Chương XI gồm 12 Điều (từ Điều 196 đến Điều 204): quy định các chế tài cụ thể đối với các hành vi xâm phạm quyền đối với bằng độc quyền sáng chế.
Đối chiếu nhanh với pháp luật về bảo hộ sáng chế tại Việt Nam: Việt Nam hiện không có văn bản luật điều chỉnh riêng đối với từng đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp nói chung và đối với sáng chế nói riêng.
Quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả; quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó do Luật Sở hữu trí tuệ điều chỉnh. Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam ban hành lần đầu tiên vào năm 2005 với 222 điều. Từ khi ban hành đến nay là 20 năm, Luật Sở hữu trí tuệ đã được sửa đổi, bổ sung 3 lần vào các năm 2009, 2019 và 2022 (lần sửa đổi, bổ sung thứ tư dự kiến sẽ thực hiện vào cuối năm 2025).
Theo Luật số 07/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, Luật hiện có có 232 điều, được đánh số thứ tự từ Điều 1 đến Điều 222, trong đó có 13 điều vừa được bổ sung và bãi bỏ 2 điều (Điều 5 và Điều 215). Các điều mới bổ sung được đánh số thứ tự bằng cách giữ cố định số thứ tự của các Điều đã có và thêm vào ký tự phụ là chữ cái theo bảng chữ cái tiếng Việt, ví dụ Điều 12a, Điều 191a, Điều 191b…
Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành có 109 điều liên quan đến sáng chế, trong đó 11 điều là phần quy định chung về sở hữu trí tuệ, 24 điều là quy định chung về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, 74 điều có quy định điều chỉnh trực tiếp liên quan đến sáng chế. Điều dễ dàng nhận ra là quy định của luật điều chỉnh về sáng chế của Việt Nam chỉ bằng khoảng 1/3 so với Luật Sáng chế Nhật Bản.
Như đã đề cập ở bài “Khái lược về quá trình hình thành pháp luật sáng chế Nhật Bản”, Chính phủ Nhật xác định hệ thống bảo hộ sáng chế là công cụ quan trọng để bảo vệ và phát triển nền kinh tế công nghiệp của quốc gia. Vì vậy việc bổ sung, phát triển Luật Sáng chế là “nhằm hiện thực hóa một nền kinh tế và xã hội năng động dựa trên việc tạo ra các giá trị gia tăng thông qua việc tạo ra tài sản trí tuệ mới và khai thác hiệu quả tài sản trí tuệ đó trước nhu cầu ngày càng tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế của ngành công nghiệp Nhật Bản trước những thay đổi của tình hình kinh tế xã hội trong và ngoài nước, thúc đẩy các biện pháp tạo ra, bảo vệ và khai thác tài sản trí tuệ một cách tập trung …”.
Điều này có nghĩa là mức độ chi tiết của các quy định về sáng chế của Luật Sáng chế Nhật Bản không chỉ phản ánh mức độ tiến độ của trình độ kỹ thuật theo thời gian mà còn phản ánh các khía cạnh kinh tế - pháp lý của sáng chế trong các ngành công nghiệp, dịch vụ.
ThS. Vương Tịnh Mạch, ThS. Nguyễn Thị Ngọc Nhung, ThS. Hoàng Tuấn Anh
(Trích giới thiệu Kết quả thực hiện Nhiệm vụ KH&CN theo HĐ số 01/2021/HĐ-QKHCN thuộc quyền sở hữu của Sở KH&CN TP.HCM - Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thị Xuân Anh, Viện Quản trị Tài sản trí tuệ Minh Đức)