KHÁI LƯỢC VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHÁP LUẬT SÁNG CHẾ NHẬT BẢN
18-12-2025Từ cuối thế kỷ 19, dưới thời Thiên hoàng Minh trị (Meiji (1868-1912)), Nhật Bản đã nhận biết rằng, hệ thống bảo hộ sáng chế có thể đóng vai trò chính trong việc phát triển nền công nghiệp nội địa nhằm bắt kịp Hoa Kỳ và các cường quốc châu Âu.
Quá trình hình thành pháp luật sáng chế của Nhật Bản được gắn liền với tên tuổi của Fukuzawa Yukichi (1835-1901), người đã giới thiệu khái niệm “bằng sáng chế” vào năm 1867. Ông đã từng tham gia rất sâu vào việc thiết lập hệ thống giáo dục của nước Nhật và vì vậy, việc phát triển và củng cố một hệ thống bảo hộ sáng chế cũng trở nên rất thuận lợi.
Năm 1871, Luật về “Quyền độc quyền” đã được Chính phủ Meiji ban hành dựa trên quy trình thẩm định sơ bộ các đơn đăng ký sáng chế theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên, nhưng luật này nhanh chóng bị bãi bỏ sau một năm vận hành thử nghiệm: nhiệt tâm nhanh chóng thiết lập hệ thống bảo hộ sáng chế đầu tiên này đã thất bại, do không thể chỉ ban hành luật là có thể vận hành một hệ thống bảo hộ khi chưa hình thành một nền tảng tổ chức tác nghiệp bài bản. Không có một hệ thống bảo hộ các kỹ thuật mới dưới dạng bằng độc quyền sáng chế, việc chuyển giao công nghệ tiên tiến từ Hoa Kỳ và các nước châu Âu phát triển vào Nhật Bản là hết sức khó khăn; đồng thời, bản thân nền công nghiệp Nhật Bản cũng khó phát triển do các sáng chế mới bị chiếm đoạt hoặc bắt chước bằng nhiều cách khác nhau mà không bị xem là phạm tội.
Dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Takahashi Korekiyo (1854-1936), sau khi tái chuẩn bị một cách kỹ lưỡng, ngày 18.4.1885, Pháp lệnh Sáng chế được ban hành và được xem như Luật Sáng đầu tiên của Nhật Bản. Hiện ngày 18.4 hàng năm được ấn định là ngày sáng chế tại Nhật Bản.
Pháp lệnh Sáng chế Nhật Bản được phỏng theo mô hình Luật sáng chế của Hoa Kỳ và của Pháp, trong đó có quy định rằng, thời hạn bảo hộ của bằng độc quyền sáng chế tại Nhật Bản thống nhất với quy định tương ứng trong Luật Sáng chế Hoa Kỳ, và việc hủy bỏ hiệu lực của bằng độc quyền trong trường hợp chủ sở hữu sáng chế không đưa sáng chế vào sử dụng được áp dụng như quy định trong Luật Sáng chế của Pháp. Các điểm chính yếu khác của Pháp lệnh Sáng chế Nhật Bản năm 1885 là:
- áp dụng nguyên tắc: bảo hộ cho người sáng tạo đầu tiên
- quy định nguyên tắc: mỗi Đơn đăng ký chỉ được yêu cầu bảo hộ một sáng chế;
- quy định nguyên tắc: mọi Đơn đăng ký đều phải được thẩm định về nội dung;
- chấp nhận bảo hộ các sáng chế phụ thuộc vào một sáng chế trước đó (được gọi là sáng chế cơ bản);
- yêu cầu một sáng chế về vật liệu phải có tính mới và hữu ích: riêng các sáng chế ảnh hưởng đến trật tự công cộng hoặc liên quan đến dược phẩm hoặc thuốc sẽ không được bảo hộ
Năm 1899, Nhật Bản trở thành thành viên của Công ước Paris về bảo hộ Sở hữu công nghiệp và đã nội luật hóa các quy định tương ứng trong Công ước Paris vào Luật Sáng chế Nhật Bản, trong đó, có việc đồng ý cấp Bằng độc quyền sáng chế cho người nước ngoài. Luật Sáng chế năm 1899 có một số điểm mới như:
- thừa nhận việc bảo hộ độc quyền sáng chế cho người không cư trú tại Nhật Bản: điều này dẫn đến nghĩa vụ của người không cư trú là phải chỉ định một đại diện có cư trú tại Nhật Bản trong các quan hệ với cơ quan có thẩm quyền;
- tích hợp các quy định về quyền ưu tiên theo Công ước Paris vào Luật Sáng chế;
- đưa ra quy định về việc bảo hộ đối với các sáng chế tham gia trưng bày tại một triển lãm quốc tế;…
Trong giai đoạn Chiến tranh thế giới thứ nhất, Chính phủ và nền công nghiệp Nhật Bản ngày càng nhận thức rõ sự cần thiết phải phát triển các ngành công nghệ và công nghiệp của riêng mình: chính sách của Chính phủ nhấn mạnh vào việc thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ mà kết quả chính trong thương mại quốc tế là các sáng chế được đăng ký độc quyền hoặc được giữ kín dưới dạng các bí mật kinh doanh; đồng thời, việc bảo hộ cũng cần cân bằng giữa độc quyền của các nhà sáng chế với lợi ích của công chúng và của các bên liên quan. Theo đó, số lượng Đơn đăng ký sáng chế bắt đầu tăng nhanh, thí dụ năm 1910 đã đạt 12.026 đơn so với 6.210 đơn trong năm 1909. Thực tiễn đó cũng thúc đẩy nhu cầu hiện đại hóa hệ thống sở hữu công nghiệp quốc gia và Luật sáng chế năm 1921 tiếp tục có một số thay đổi như:
- quy định nguyên tắc nộp đơn đầu tiên;
- ban hành quy trình công bố đơn và quy trình cho phép phản đối việc cấp bằng;
- quy định việc phải thông báo rõ lý do từ chối cấp bằng;
- đưa ra các quy định về cấp li-xăng bắt buộc (li-xăng không tự nguyện);
- đưa ra quy định liên quan sáng chế của nhân viên: quyền đăng ký về cơ bản là thuộc về nhân viên tạo ra sáng chế; người sử dụng lao động tương ứng được hưởng quyền sử dụng sáng chế của nhân viên; nhân viên tạo ra sáng chế phải được nhận tiền thù lao tương ứng.
Khi chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc vào năm 1945, hệ thống chính trị và xã hội của Nhật Bản được cấu trúc theo những thay đổi quan trọng được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946 đang có hiệu lực cho đến hiện nay. Góp phần vào sự phát triển nhanh chóng về kinh tế và công nghiệp trong những năm sau chiến tranh là các cải tiến và hiệu chỉnh trong hệ thống bảo hộ sáng chế, dẫn đến việc ban hành Luật Sáng chế năm 1959 với nhiều nội dung đổi mới quan trọng như:
- điều kiện bảo hộ “sáng chế thuộc lĩnh vực công nghiệp” (industrial invention) được chuyển thành thành một “sáng chế có khả năng áp dụng công nghiệp” (industrially-applicable invention);
- đưa ra quy định về “bước tiến sáng tạo (inventive step)” của sáng chế;
- các công bố sáng chế của nước ngoài được xem là thuộc phạm vi của “tình trạng kỹ thuật đã biết”, khi thẩm định về tính mới của sáng chế;
- một chất liệu được sản xuất thông qua quá trình biến đổi hạt nhân không phải là đối tượng được bảo hộ sáng chế;
- một đơn đăng ký có thể yêu cầu bảo hộ nhiều hơn một đối tượng (của quyền đối với sáng chế), hay nói cách khác là nhiều hơn một sáng chế;
- việc công bố và bộc lộ sáng chế tại một hội thảo khoa học được thừa nhận là trường hợp được loại trừ đối với khả năng làm mất tính mới.
Như vậy, sau Pháp lệnh Sáng chế đầu tiên năm 1985, Nhật Bản đã có 03 phiên bản Luật Sáng chế mang tính bước ngoặt được ban hành vào các năm 1899, 1921 và 1959. Luật Sáng chế năm 1959 cũng đã được tiếp tục sửa đổi, bổ sung nhiều lần với lần gần nhất là theo Luật số 51 ngày 03/7/2023.
Các quy định cụ thể về việc bảo hộ sáng chế tại Nhật Bản theo Luật Sáng chế năm 1959 sửa đổi, bổ sung xin được tuần tự giới thiệu trong các bài viết tiếp sau.
ThS. Vương Tịnh Mạch, ThS. Nguyễn Thị Ngọc Nhung, ThS. Hoàng Tuấn Anh
(Trích giới thiệu Kết quả thực hiện Nhiệm vụ KH&CN theo HĐ số 01/2021/HĐ-QKHCN thuộc quyền sở hữu của Sở KH&CN TP.HCM - Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thị Xuân Anh, Viện Quản trị Tài sản trí tuệ Minh Đức)