SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

SÁNG CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG KHỞI NGHIỆP

04-12-2025

SÁNG CHẾ VÀ BẰNG ĐỘC QUYỀN SÁNG CHẾ/GIẢI PHÁP HỮU ÍCH

Theo quy định tại Khoản 12 Điều 4 Luật SHTT, sáng chế là một giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên (việc tìm ra các quy luật tự nhiên được gọi là các phát hiện hoặc phát minh).

  • Theo Điểm b Khoản 3 và Điểm d Khoản 5, Điều 16 Thông tư 23/2023/TT-BKHCN: mỗi sáng chế (mỗi giải pháp kỹ thuật) là một TẬP HỢP CẦN VÀ ĐỦ các THÔNG TIN KỸ THUẬT (cách thức kỹ thuật và/hoặc phương tiện kỹ thuật) nhằm giải quyết một vấn đề xác định, cụ thể:

+ Sáng chế dạng sản phẩm có thể là:

  • Vật thể (nhân tạo) như dụng cụ, máy móc, thiết bị, linh kiện, mạch điện...: được mô tả bằng một tập hợp cần và đủ các thông tin/đặc điểm kỹ thuật về mặt kết cấu như: chi tiết, cụm chi tiết, chức năng của chi tiết/cụm, mối liên kết giữa các chi tiết/cụm,….
  • Chất (đơn chất, hợp chất, hỗn hợp chất nhân tạo) như vật liệu, chất liệu, thực phẩm, dược phẩm...: được mô tả bằng một tập hợp cần và đủ các thông tin/đặc điểm kỹ thuật về mặt cấu tạo của chất như: các thành phần/phần tử hợp thành, chức năng của mỗi thành phần/phần tử, tỷ lệ và trạng thái của các thành phần/phần tử,…
  • Vật liệu sinh học như gen, thực vật hay động vật biến đổi gen...: được mô tả bằng các thông tin di truyền bị biến đổi dưới tác động của con người và có khả năng tự tái tạo.

+ Sáng chế dạng quy trình có thể là quy trình công nghệ hoặc phương pháp chẩn đoán, dự báo, kiểm tra hoặc xử lý…: được mô tả bằng một tập hợp cần và đủ các thông tin về các thao tác cần thực hiện, trình tự của các thao tác, điều kiện, biện pháp, phương tiện,…thực hiện mỗi thao tác…

Nhà khởi nghiệp nên xem xét làm quen dần và sử dụng theo văn phong của pháp luật về bảo hộ sáng chế, trong đó, mỗi thông tin kỹ thuật hoặc đặc điểm kỹ thuật sẽ được gọi là một dấu hiệu kỹ thuật, một dấu hiệu kỹ thuật nằm trong “một tập hợp cần và đủ các thông tin/đặc điểm kỹ thuật” sẽ được gọi là một dấu hiệu kỹ thuật cơ bản,…

  • Theo Điều 58 và 93 Luật SHTT:

+ Các sáng chế đáp ứng đồng thời 3 điều kiện: có khả năng áp dụng công nghiệp, có tính mới và có trình độ sáng tạo có thể được cấp Bằng độc quyền Sáng chế, có hiệu lực độc quyền từ ngày cấp đến hết 20 năm kể từ ngày nộp đơn;

+  Các sáng chế không phải là hiểu biết thông thường và đáp ứng đồng thời 2 điều kiện: có khả năng áp dụng công nghiệp và có tính mới có thể được cấp Bằng độc quyền Giải pháp hữu ích, có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 năm kể từ ngày nộp đơn.

Diễn đạt theo ngôn ngữ của pháp luật SHTT thì sáng chế (giải pháp kỹ thuật) là một đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp và có hai loại văn bằng bảo hộ dành cho đối tượng này: Bằng độc quyền Sáng chế (BĐQ SC) và Bằng độc quyền Giải pháp hữu ích (BĐQ GPHI).

Mục đích cơ bản của việc đăng ký bảo hộ sáng chế đối với doanh nghiệp khởi nghiệp là: nếu các hàng hóa hoặc dịch vụ được sản xuất theo sáng chế được thị trường chấp nhận và ưa thích, doanh nghiệp sẽ có cơ hội tối đa hóa doanh thu và lợi nhuận do có quyền ngăn cấm các bên cạnh tranh không được sản xuất hoặc cung ứng các hàng hóa hoặc dịch vụ đó. Một hệ quả tài chính của quyền ngăn cấm này là sự gia tăng tính hấp dẫn trong thu hút vốn đầu tư hoặc/và quan hệ hợp tác vào các kế hoạch kinh doanh hoặc dự án thương mại hóa liên quan.

CÁC ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ SÁNG CHẾ

  • Theo Điều 62 Luật SHTT, một sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện được việc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung của sáng chế và thu được kết quả ổn định. Để đáp ứng yêu cầu bảo hộ này, nhà khởi nghiệp:

+  Chỉ cần mô tả một cách rõ ràng và đầy đủ về bản chất của sáng chế (qua một tập hợp cần và đủ các dấu hiệu kỹ thuật cơ bản) đến mức người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật của sáng chế dựa vào lời mô tả đó là có thể tạo ra, sử dụng, khai thác hoặc thực hiện được giải pháp. Xin chú ý là: không nhất thiết phải chế tạo ra hoặc sản xuất thử để đưa ra hay cung cấp một minh chứng cụ thể, chỉ cần trình bày đủ và đúng lô-gích kỹ thuật.

+  Mô tả đủ rõ đến đâu thì sau khi nhận được Bằng độc quyền, sẽ có quyền cấm người khác không được sản xuất (sáng chế dạng sản phẩm) hoặc áp dụng (sáng chế dạng quy trình) đến đó: mô tả không rõ ràng và không đầy đủ thì không có cơ sở gì để cấm người khác không được làm theo.

+  Không nhất thiết phải bộc lộ cặn kẽ mọi chi tiết của sáng chế mà mình đã tạo ra. Thí dụ: nội dung (dấu hiệu) kỹ thuật nào e rằng sớm hoặc muộn cũng sẽ có người khác nghĩ được ra thì nên đưa vào mô tả trong “tập dấu hiệu kỹ thuật cơ bản” để xác lập quyền tương ứng trong Bằng độc quyền; nội dung (dấu hiệu) kỹ thuật nào cho là người khác sẽ khó hoặc không thể nào tạo ra được thì có thể tiếp tục giữ như một bí mật kinh doanh…

  • Theo Điều 60 Luật SHTT, một sáng chế được coi là tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài, trước ngày nộp đơn đăng ký hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế (xin xem bài “Khái quát về Pháp luật SHTT Việt Nam”). Để đáp ứng yêu cầu bảo hộ này:

+  Nhà khởi nghiệp cần bảo đảm rằng tập dấu hiệu kỹ thuật cơ bản hợp thành sáng chế muốn đăng ký của mình không bị trùng hoặc bị coi là tương đương với tập dấu hiệu kỹ thuật cơ bản của bất kỳ sáng chế đối chứng nào (sáng chế đối chứng là các sáng chế đã bộc lộ công khai trùng hoặc “tương tự gần nhất” với sáng chế muốn đăng ký).

+  Theo đó, nhà khởi nghiệp nên tra cứu kỹ để nhận biết các sáng chế đối chứng nhằm vừa tránh nghiên cứu trùng lặp, vừa kế thừa cả về nội hàm kỹ thuật lẫn một phần văn phong mô tả và, về lý thuyết, bất kỳ một “cải tiến” nào từ một trong số các sáng chế đối chứng, làm xuất hiện ít nhất một dấu hiệu kỹ thuật cơ bản mới trong sáng chế muốn đăng ký, thì sáng chế muốn đăng ký sẽ có thể đáp ứng được yêu cầu về tính mới trong việc đăng ký bảo hộ độc quyền.

  • Theo Điều 61 Luật SHTT, một sáng chế được coi là có trình độ sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký, sáng chế đó là một bước tiến sáng tạo, tức không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng:

+  “Bước tiến sáng tạo” có thể nảy sinh từ hoạt động nghiên cứu KH&CN với cách tiếp cận toàn diện và có hệ thống, giúp (các) nhà nghiên cứu liên quan có thể am hiểu sâu hơn về bản chất của vấn đề cần giải quyết và theo đó là cách thức tạo ra các phương án xử lý khả dụng, so với những nhà chuyên môn khác đã cùng đọc qua mọi sáng chế tương tự đã bộc lộ công khai.

+  “Bước tiến sáng tạo” cũng có thể nảy sinh từ thực tiễn say mê hoặc kinh nghiệm lăn lộn trải nghiệm với đối tượng liên quan trong vấn đề cần giải quyết, giúp nhà hoặc nhóm tác giả sáng chế tương ứng có thể bật ra giải pháp khác biệt, ngay cả khi chưa biết đến hoặc chưa đọc hết về các sáng chế tương tự đã được bộc lộ công khai.

MỘT SỐ HÀM Ý THƯƠNG MẠI TRONG THỦ TỤC ĐĂNG KÝ SÁNG CHẾ

  • Theo Khoản 2 Điều 108, Điều 109 và Khoản 1 Điều 119 Luật SHTT, Đơn đăng ký nộp đến sẽ được Cục SHTT thẩm định hình thức trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nộp đơn. Mục đích của việc thẩm định hình thức là để đánh giá về tính hợp lệ của Đơn theo Khoản 5, Điều 9 Thông tư 23/2023/TT-BKHCN.
  • Theo Khoản 2 Điều 110 Luật SHTT, Đơn đăng ký sáng chế được công bố trong tháng thứ 19 kể từ ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên, hoặc vào thời điểm sớm hơn theo yêu cầu của người nộp đơn. Theo đó, doanh nghiệp khởi nghiệp nên xem xét:

+  Nếu sáng chế đã nộp đơn đăng ký chưa đến thời điểm đưa vào khai thác: không cần công bố trước cuối tháng thứ 18 để tránh bộc lộ sớm về nội dung của sáng chế, có thể khiến các bên cạnh tranh nhận biết và đánh giá được chiến thuật, sách lược hoặc chiến lược công nghệ và sản phẩm của doanh nghiệp.

+  Ngược lại, nếu các điều kiện thương mại hóa đã được chuẩn bị đầy đủ: có thể yêu cầu công bố sớm và sử dụng Công báo Sở hữu công nghiệp cùng trang web tương ứng của Cục SHTT như một kênh giới thiệu chính thống để chào mời hợp tác khai thác sáng chế.

+  Trong một số trường hợp, việc công bố sáng chế còn được vận dụng như một công cụ khuyến cáo trong cạnh tranh, để khẳng định “quyền tạm thời” của người nộp đơn đăng ký theo quy định tại các Khoản 1 và 3 Điều 131 Luật SHTT.

+  Trước thời điểm Đơn đăng ký sáng chế được công bố, Cục SHTT có trách nhiệm bảo mật nội dung Đơn theo quy định tại Điều 111 Luật SHTT.

  • Theo Khoản 1 và 2 Điều 113 và Điểm a Khoản 2 Điều 119 Luật SHTT, trong vòng 36 tháng đối với Đơn đăng ký nhận BĐQ GPHI và trong vòng 42 tháng đối với Đơn đăng ký nhận BĐQ SC, người nộp đơn có thể nộp phí để yêu cầu Cục SHTT thẩm định nội dung Đơn. Thời hạn thẩm định nội dung theo quy định là không quá 18 tháng kể từ ngày công bố Đơn (nếu yêu cầu thẩm định nội dung được nộp trước ngày công bố Đơn) hoặc kể từ ngày Cục nhận được yêu cầu thẩm định nội dung (nếu yêu cầu đó được đưa ra sau ngày công bố Đơn). Theo đó:

+  Tại thời điểm nộp đơn, nếu hàng hóa hoặc/và dịch vụ được sản xuất theo sáng chế đã có điều kiện gia nhập thị trường: doanh nghiêp khởi nghiệp có thể cho công bố và thẩm định nội dung luôn để sớm lấy Bằng, phục vụ việc khuyến cáo xâm phạm và bảo vệ các thị phần liên quan.

+  Nếu đã công bố sáng chế ra để xúc tiến tiếp thị hàng hóa/dịch vụ sản xuất theo sáng chế, nhưng đáp ứng từ thị trường là không đáng kể; hoặc bản thân sáng chế lại sớm bị đào thải về mặt công nghệ bởi các giải pháp kỹ thuật mới do người khác bộc lộ công khai: doanh nghiệp khởi nghiệp cũng không nhất thiết cho thẩm định nội dung để lấy Bằng độc quyền

Nhiều tập đoàn quốc tế hàng năm đều đăng ký hàng ngàn đơn sáng chế vào nhiều nước khác nhau trong đó có Việt Nam, chủ yếu là để “ém trước” các thị trường của các sản phẩm dự định được sản xuất theo các sáng chế đã nộp đơn. Họ có thể tiến hành lấy Bằng độc quyền hoặc không trong vòng một, hai, ba, bốn hoặc năm năm sau tùy theo giá trị và thời cơ khai thác thương mại thực tế hoặc kỳ vọng của mỗi sáng chế theo dòng thời gian.

Theo đó, hệ thống đăng ký sáng chế về bản chất là một hệ thống pháp lý trợ giúp kinh doanh công nghệ độc quyền: sẽ có các sáng chế hết sức đắt giá nhưng sẽ có nhiều hơn các sáng chế chỉ có vai trò lót đường cho tri thức và công nghiệp. Xin tránh ngộ nhận rằng sáng chế là một hệ thống chủ yếu để thể hiện hoặc tôn vinh tài năng.

 Tác giả: Đào Minh Đức

Mục IV Sổ tay “Sở hữu trí tuệ trong hoạt động của Doanh nghiệp khởi nghiệp”

Chủ sở hữu Quyền tác giả: Sở KH&CN TP.HCM 2020


Bản quyền © 2018 Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Thiết kế và phát triển bởi HCMGIS
Tổng số truy cập: 11537424