Ý TƯỞNG KHỞI NGHIỆP VÀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ (SHTT)
25-06-2025KHỞI SỰ KINH DOANH VÀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Một người hoặc một nhóm, vào một thời điểm cụ thể, nảy sinh ý định tự mình hoặc phối hợp với nhau, thành lập một tổ chức để xúc tiến việc sản xuất, kinh doanh một hoặc một số sản phẩm cụ thể, việc mà trước đó họ chưa từng làm, thì đang bước vào hoạt động KHỞI SỰ KINH DOANH.
1. Nếu ý tưởng KHỞI SỰ KINH DOANH xuất phát từ một hàng hóa hoặc dịch vụ hiện có trên thị trường, hoặc chỉ thực hiện một vài cải tiến nhỏ từ hàng hóa, dịch vụ hiện có, người khởi sự sẽ:
a. Cần nhận diện hoặc phát hiện được một thời cơ kinh doanh. Thời cơ kinh doanh thường gắn liền với sự chênh biệt cung cầu tại khu vực dự kiến khởi sự, hoặc khả năng cung ứng thêm được một vài dịch vụ đi kèm, có thể mang lại một tỷ suất sinh lợi thỏa đáng.
Trường hợp ý tưởng kinh doanh được hướng đến mục tiêu phục vụ xã hội hoặc/và phi lợi nhuận, doanh nghiệp khởi sự chỉ cần bảo toàn được vốn qua các chu kỳ hoạt động.
b. Ở khía cạnh tài chính, trước khi tính đến việc bảo toàn vốn hoặc đạt được một tỷ suất sinh lợi kỳ vọng, doanh nghiệp khởi sự sẽ cần:
+ Tập hợp đủ nguồn vốn ban đầu: thường sẽ có một bộ phận là vốn tự bỏ ra bởi (các) người khởi sự, bộ phận còn lại là vốn vay, nếu thấy thiếu.
Nói cách khác, nguồn vốn của doanh nghiệp khởi sự sẽ bao gồm phần vốn chủ sở hữu (vốn tự bỏ ra bởi một/nhiều chủ sở hữu của doanh nghiệp) và phần vốn vay hay nợ (được ghi nhận tách biệt thành hai khoản là nợ dài hạn và nợ ngắn hạn).
+ Sử dụng nguồn vốn đó để mua sắm các loại tài sản dài hạn và tài sản ngắn hạn cho doanh nghiệp, phục vụ việc triển khai ý tưởng khởi sự kinh doanh ban đầu.
Trong số các tài sản dài hạn, thường sẽ có các tài sản cố định hữu hình (như: nhà xưởng, thiết bị, công cụ sử dụng trên một năm,…) và các tài sản cố định vô hình (như: quyền sử dụng đất; các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, tác phẩm… được mua lại;…).
Trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tổng nguồn vốn (vốn chủ sở hữu + nợ) luôn bằng với tổng tài sản (tài sản dài hạn + tài sản ngắn hạn): việc nhận biết các thành phần hợp thành trong cấu trúc của nguồn vốn và của tổng tài sản, cùng tương quan tỷ lệ giữa một số thành phần đó, sẽ cung cấp cho người quan tâm các thông tin ban đầu về tình hình và đặc điểm tài chính của doanh nghiệp khởi sự.
+ Sử dụng tiền (thuộc nhóm tài sản ngắn hạn) để huy động nhân lực vào các dây chuyền lao động, tác nghiệp… và tạo ra các sản phẩm trí tuệ mới (từ các bảng biểu, báo cáo, kế hoạch… đến các sáng chế, kiểu dáng, phần mềm…: hoạt động này cũng đang ngày càng được bổ trợ hoặc thay thế dần bằng trí thông minh nhân tạo (AI) mà nếu tự tạo ra hoặc mua về, thường sẽ thuộc nhóm tài sản dài hạn/cố định).
c. Ở khía cạnh pháp lý:
+ Người/nhóm khởi sự kinh doanh sẽ cần từng bước nắm bắt và tuân thủ (có thể thông qua các dịch vụ pháp lý ở giai đoạn đầu): pháp luật về đăng ký kinh doanh, pháp luật chuyên ngành của lĩnh vực kinh doanh (các giấy phép, các điều cấm…), pháp luật lao động, pháp luật dân sự (giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự…), pháp luật có liên quan khác như thuế, đảm bảo chất lượng, tiêu chuẩn hóa, trách nhiệm đối với sản phẩm, bảo vệ người tiêu dùng và bí mật đời tư, bảo vệ môi trường, phòng cháy chữa cháy,…
+ Về mặt SHTT, doanh nghiệp khởi sự kinh doanh ít nhất nên xem xét:
- Thực hiện thủ tục nội bộ để xác lập quyền SHTT đối với tên của doanh nghiệp;
- Đăng ký bảo hộ (các) nhãn hiệu dự tính sử dụng để cung ứng (các) hàng hóa/dịch vụ (khác nhau);
- Đăng ký (các) tên miền có chứa tên doanh nghiệp hoặc nhãn hiệu đã được bảo hộ;
- Nắm bắt dần các vấn đề liên quan đến các sản phẩm trí tuệ (từ Mục II đến Mục VII của Sổ tay).
Nhu cầu nắm bắt và xử lý đồng bộ các vấn đề trên sẽ đặt ra khá nhiều thách thức và các thách thức này có thể biến thành các rủi ro, nhất là khi (các) nhà khởi sự đang rất hứng khởi hoặc đầy nhiệt tâm và vì vậy, có thể rất nôn nóng.
2. Nếu ý tưởng KHỞI SỰ KINH DOANH xuất phát phát từ một sản phẩm hoàn toàn mới chưa từng có trước đó, hoặc một hàng hóa/dịch vụ được cải tiến đáng kể giúp tạo ra các tính năng hoặc công dụng mới cho người tiêu dùng, doanh nghiệp khởi sự kinh doanh liên quan có thể đang tham gia vào chuỗi hoạt động KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO với các nét đặc trưng dưới đây.
KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO VÀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ
1. Các cải tiến đáng kể từ một sản phẩm hiện có thường hình thành thông qua các sáng kiến. Mỗi sáng kiến là một sản phẩm trí tuệ mới và trong nhiều trường hợp, các sáng kiến mới này có thể được bảo hộ độc quyền SHTT để tạo rào cản pháp lý, ngăn các bên cạnh tranh không thể gia nhập thị trường bằng các sản phẩm được tạo ra từ sáng kiến đã được bảo hộ.
Doanh nghiệp khởi nghiệp từ các sáng kiến này nên xem xét từ đầu về việc: một khi các tính năng, công dụng mới của sản phẩm cải tiến được bộc lộ ra thị trường, các bên cạnh tranh có thể sẽ sửa đổi, bổ sung khác đi như thế nào theo năng lực công nghệ và hướng tiếp thị của họ. Từ đó, có kế hoạch bảo hộ SHTT mở rộng đến mọi giải pháp cải tiến xoay quanh sáng kiến ban đầu, trong phạm vi mà mình có thể hình dung ra và thiết kế được.
2. Các sản phẩm mới hoàn toàn thường xuất hiện từ các lĩnh vực công nghệ mới, bắt đầu với một (số) công nghệ nguồn chứng minh được các nguyên lý kỹ thuật mới. Mỗi công nghệ nguồn sẽ nảy sinh một chuỗi các công nghệ tiếp nối, công nghệ phái sinh, công nghệ ứng dụng …, có thể hình dung như một cây công nghệ đang tỏa nhánh hoặc như một dạng bản đồ công nghệ.
Đầu ra của các công nghệ ứng dụng là các sản phẩm hoàn toàn mới với các tính năng, công dụng mà thị trường và người tiêu dùng có khi còn chưa hình dung đến. Một khi vào được thị trường, mỗi sản phẩm hoàn toàn mới thường sẽ được các nhà tiếp thị từng bước xúc tiến việc phân mảng thị trường hoặc/và đa dạng hóa thành một phổ sản phẩm mới.
Doanh nghiệp khởi nghiệp thường khởi sự bằng một hoặc vài công nghệ ứng dụng, nảy sinh tại một điểm bất kỳ trên bản đồ công nghệ. Điểm khởi sự càng gần đầu nguồn bản đồ công nghệ, doanh nghiệp càng có cơ hội sở hữu một lượng bằng độc quyền lớn để:
- tăng tiềm lực chi phối thị trường;
- tăng cơ hội vận dụng các phương án (cấp) li-xăng công nghệ trong chiến lược khởi nghiệp, song song với các phương án gia nhập thị trường thông thường.
3. Bên cạnh các rủi ro đã nêu trong hoạt động KHỞI SỰ KINH DOANH, doanh nghiệp KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO sẽ gặp thêm các thách thức riêng có sau đây, đối ứng với các thành quả có thể rất lớn cho tinh thần mạo hiểm cao hơn so với hoạt động KHỞI SỰ KINH DOANH thông thường:
- Các tính năng, công dụng mới và sáng tạo của sản phẩm được cải tiến đáng kể hoặc hoàn toàn mới có thể đòi hỏi phải có thời gian để thị trường làm quen và kiểm chứng, cả về mức độ thiết yếu hoặc hấp dẫn đối với người tiêu dùng, lẫn mức độ hợp lý của giá cả. Kỹ năng truyền thông và tiếp thị có thể giúp rút ngắn hoặc/và gia tăng hiệu quả cho giai đoạn này.
- Theo đó, chi phí ban đầu cho hoạt động đổi mới sáng tạo và tiếp thị nói chung là cao hơn so với hoạt động khởi sự kinh doanh thông thường; dẫn đến giá thành của sản phẩm ở giai đoạn đầu thường cũng cao hơn mà nếu thất bại, hệ quả tài chính có thể sẽ rất nặng nề.
- Tuy nhiên, nếu được tiếp thị thành công, thị trường tương ứng có thể “trương nở” rất nhanh (khởi động được → bật lên nhanh), vừa tạo ra thời cơ lớn, vừa tạo thêm thách thức lớn cả về mặt tài chính lẫn tiếp thị và SHTT:
+ Về mặt SHTT: nếu việc bảo hộ phổ công nghệ và phổ sản phẩm là chưa thích đáng hoặc không thích đáng, các bên cạnh tranh có thể đuổi bám và xâm lấn thị trường bằng các sản phẩm trùng lặp hoặc tương tự với giá thành thấp hơn, nhờ tiết kiệm được chi phí đổi mới sáng tạo, chi phí nghiên cứu thị trường, chi phí kích khởi nhu cầu hoặc ý thích tiêu dùng mới…;
+ Về mặt tiếp thị: ngay cả khi việc bảo hộ SHTT là thỏa đáng, các bên cạnh tranh vẫn có thể tung ra các sản phẩm thay thế có tính năng, công dụng tương đương hoặc áp dụng các kỹ thuật thương mại như: hạ thấp giá bán, tăng hoa hồng cho kênh phân phối, đưa dịch vụ gia tăng vào sản phẩm hiện hữu…, nhất là khi doanh nghiệp khởi nghiệp chần chừ trong phát triển thị phần;
+ Về mặt tài chính: trước áp lực khách quan của việc thị trường (kỳ vọng) trương nở quá nhanh và áp lực chủ quan từ tâm lý phải lấn nhanh thị phần để tận dụng thời cơ, nguồn vốn ban đầu thường khi sẽ cực kỳ thiếu hụt, nếu doanh nghiệp khởi nghiệp vẫn nuôi tham vọng trực tiếp dẫn dắt thị trường thông qua tăng trưởng quy mô. Khi này, hoạt động huy động vốn từ bên ngoài sẽ trở thành cấp bách.
Việc huy động có thể thông qua các công cụ vốn (mời góp thêm vốn chủ sở hữu) hoặc công cụ nợ (bằng các khoản vay hay phát hành trái phiếu) và trong cả hai trường hợp, ít nhất sẽ luôn cần có một kế hoạch kinh doanh trung hạn như một công cụ truyền thông và thuyết phục, để chứng minh tính hấp dẫn của dự án khởi nghiệp sáng tạo.
KHỞI TÁCH DOANH NGHIỆP VÀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Khi hoạt động KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO không được thực hiện bởi một (nhóm) cá nhân đơn lẻ, mà bởi một doanh nghiệp được thành lập và tách ra từ một doanh nghiệp “mẹ”, một trường đại học, hoặc một viện nghiên cứu, nhằm xúc tiến việc khai thác thị trường cho một hoặc một số sản phẩm đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp (mẹ)/trường/viện/…, thì đó là một DOANH NGHIỆP KHỞI TÁCH.
DOANH NGHIỆP KHỞI TÁCH thường giảm nhẹ được khá nhiều thách thức và rủi ro so với các doanh nghiệp KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO khác, ít nhất là trong giai đoạn đầu đưa sản phẩm mới vào thị trường; do thường được tổ chức đã ra quyết định thành lập hỗ trợ ban đầu về: cơ sở vật chất (nhà đất, trang thiết bị, phòng thí nghiệm, xưởng mô phỏng/tạo mẫu…), nhân sự chuyên môn về công nghệ và quản trị, cơ chế tài chính, danh tiếng, các quan hệ đối tác/tiếp thị/khách hàng…
Về mặt SHTT, bên cạnh các nội dung như đã đề cập trong hoạt động KHỞI SỰ KINH DOANH và KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO, DOANH NGHIỆP KHỞI TÁCH thường cũng có lợi thế hơn khi được tổ chức đã ra quyết định thành lập chuyển nhượng hoặc cấp li-xăng sử dụng công nghệ, bí quyết trong hoạt động sản xuất; hoặc thương hiệu, lô gô, nhãn hiệu hay tác phẩm độc quyền trong truyền thông và tiếp thị.
Trong các bài tiếp theo, thuật ngữ khởi nghiệp sẽ được sử dụng chung trong bàn luận, trừ trường hợp cần nêu tách bạch các đặc trưng giữa ba hoạt động: khởi sự kinh doanh, khởi nghiệp sáng tạo và khởi tách doanh nghiệp.
Tác giả: Đào Minh Đức
Chủ sở hữu Quyền tác giả: Sở KH&CN TP.HCM 2020