Theo các bảng xếp hạng quốc tế cập nhật đến tháng 10/2025, tốc độ Internet băng rộng cố định của Việt Nam đã vươn lên xếp thứ 10 thế giới, trong khi Internet di động băng rộng đứng thứ 15 toàn cầu. Sau gần một năm thương mại hóa, mạng 5G đã phủ sóng khoảng 59% dân số, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển kinh tế số, chính phủ số và xã hội số.
Thông tin trên được Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Phạm Đức Long công bố tại Internet Day 2025, diễn ra ngày 17/12/2025 tại Hà Nội với chủ đề "Kiến tạo không gian số tin cậy – Internet Must Be Safer".
Sự kiện do Hiệp hội Internet Việt Nam (VIA) phối hợp Trung tâm Internet Việt Nam, Bộ KH&CN cùng các doanh nghiệp công nghệ tổ chức.
Thứ trưởng Bộ KH&CN Phạm Đức Long và nguyên Thứ trưởng Thường trực Bộ Bưu chính Viễn thông Mai Liêm Trực nghe báo cáo tại gian hàng Viettel IDC.
Sau gần ba thập kỷ phát triển, Internet đã trở thành một phần không thể tách rời của đời sống kinh tế – xã hội Việt Nam. Hạ tầng Internet ngày càng hiện đại, độ phủ rộng khắp, mức độ tham gia của người dân và doanh nghiệp vào môi trường số ngày càng sâu rộng; chất lượng kết nối liên tục được cải thiện, tiệm cận các quốc gia phát triển.
Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Phạm Đức Long, khi bước sang giai đoạn phát triển mới, thách thức không còn nằm ở việc mở rộng quy mô hay gia tăng tốc độ, mà là định hướng phát triển Internet theo chiều sâu, bảo đảm phát huy hiệu quả các thành tựu đã đạt được, phục vụ mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và bao trùm.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là trụ cột then chốt của phát triển quốc gia. Trong bối cảnh đó, Internet không chỉ đơn thuần là hạ tầng kỹ thuật, mà trở thành không gian phát triển, nơi các hoạt động KHCN, dữ liệu, nền tảng số và đổi mới sáng tạo được kết nối và chuyển hóa thành giá trị thực tiễn.
Thứ trưởng Phạm Đức Long nhấn mạnh, Internet Việt Nam đang dịch chuyển từ vai trò hạ tầng kết nối sang hạ tầng số cho nền kinh tế số, bao gồm kết nối, năng lực tính toán, dữ liệu, nền tảng và an toàn thông tin. Đây là yếu tố then chốt quyết định năng suất, năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ của nền kinh tế số Việt Nam trong tương lai.
Theo Thứ trưởng Phạm Đức Long, Internet muốn phát triển bền vững trước hết phải được xây dựng trên nền tảng niềm tin: Niềm tin giữa con người với con người trong môi trường số và niềm tin của toàn bộ hệ sinh thái số, nơi các nền tảng công nghệ, dữ liệu và cộng đồng cùng vận hành, cùng tạo ra giá trị.
"Niềm tin không tự nhiên hình thành mà cần được kiến tạo một cách có chủ đích, thông qua thể chế, chuẩn mực, sự vào cuộc đồng bộ của Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội", Thứ trưởng Phạm Đức Long khẳng định.
Cùng quan điểm, ông Vũ Hoàng Liên, Chủ tịch Hiệp hội Internet Việt Nam cho rằng, thách thức lớn nhất của Internet hiện nay không còn nằm ở tốc độ đường truyền hay độ phủ sóng, mà là việc xây dựng một không gian số an toàn, đáng tin cậy.
Mặt trái của sự bùng nổ các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn đang bị lợi dụng cho lừa đảo trực tuyến, thao túng tâm lý và trục lợi với mức độ ngày càng tinh vi. Trong gần 80 triệu người dùng Internet tại Việt Nam, không ít người đã trở thành nạn nhân của các hành vi vi phạm trên không gian mạng.
Ông Vũ Hoàng Liên chia sẻ, khi niềm tin bị tổn thương, người dùng trở nên e ngại trước mỗi cú nhấp chuột; doanh nghiệp chùn bước trong chuyển đổi số vì lo ngại mất an toàn dữ liệu.
Theo quyền Giám đốc Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC) Nguyễn Trường Giang, các rủi ro an toàn Internet tồn tại ở mọi lớp mạng. Ở hạ tầng vật lý là rủi ro đứt cáp, mất điện, lỗi thiết bị. Ở hạ tầng kết nối là hình thức tấn công mạng như DDoS, phishing, cùng sự phụ thuộc vào đường truyền quốc tế. Với hạ tầng lõi, rủi ro lớn nhất nằm ở an toàn định tuyến - yếu tố gốc rễ của Internet.
Tuy nhiên, sau khi phát hiện nguy cơ, VNNIC đã phối hợp với các doanh nghiệp thực hiện các giải pháp bảo mật định tuyến. Nhờ triển khai sớm biện pháp từ năm 2020, đến nay tỷ lệ bảo vệ các vùng địa chỉ Internet của Việt Nam đạt 97%. Bên cạnh đó, 14.000 tên miền được bảo vệ, nhằm bảo đảm an toàn danh tính số.
Từ góc nhìn khu vực, ông Filip Graovac, đại diện Quỹ châu Á, cho rằng niềm tin số là nền tảng của nền kinh tế số. Sự gia tăng tỷ lệ thâm nhập của Internet đã làm thay đổi hành vi tiêu dùng, đặc biệt tại đô thị lớn. Trung bình 3/5 người dùng châu Á thường xuyên mua sắm trực tuyến, khoảng 60% giao dịch thực hiện qua thanh toán số. Vì thế, tăng trưởng kinh tế số chỉ được tạo ra khi người dân và doanh nghiệp thực sự tin môi trường số.
Theo các bảng xếp hạng quốc tế, tính đến tháng 10, tốc độ Internet băng rộng cố định của Việt Nam xếp thứ 10 thế giới, Internet di động băng rộng đứng thứ 15. Hạ tầng số Việt Nam hiện xếp hạng 67/193 quốc gia, tăng 7 bậc so với năm 2022.
Việt Nam hiện có 7 tuyến cáp quang biển kết nối quốc tế; hạ tầng dữ liệu mở rộng nhanh với 45 trung tâm dữ liệu. Khoảng 85% hộ gia đình đã sử dụng Internet cáp quang. Sau gần một năm thương mại hóa, mạng 5G phủ sóng 59% dân số, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển kinh tế số, chính phủ số và xã hội số. Theo Cục Viễn thông, mạng di động phủ sóng rộng khắp cả nước, với mức giá dịch vụ phổ cập, phù hợp với đa số người dân.
Trung tâm Truyền thông KH&CN
UBND TP Hồ Chí Minh vừa ban hành “Chiến lược chuyển đổi số TP Hồ Chí Minh đến năm 2030” được xác định là động lực then chốt để TP Hồ Chí Minh duy trì vai trò đầu tàu kinh tế, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo của cả nước...
Đặt con người ở trung tâm chuyển đổi số
Để hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số toàn diện, TP Hồ Chí Minh phấn đấu đến năm 2030 phủ sóng 5G đạt 100% người dân, bảo đảm mọi người sử dụng đều có khả năng truy cập Internet băng rộng cố định với tốc độ trên 1 Gbit/s. Mạng di động 4G, 5G được nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển các dịch vụ số thế hệ mới.
Cùng với đó, thành phố tập trung đầu tư xây dựng các trung tâm dữ liệu đạt chuẩn quốc tế, trung tâm dữ liệu dự phòng và kết nối đồng bộ với trung tâm dữ liệu quốc gia. Đáng chú ý, TP Hồ Chí Minh đặt mục tiêu thu hút đầu tư các trung tâm dữ liệu siêu lớn (Hyperscale Data Center), trung tâm dữ liệu phục vụ trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây và dữ liệu lớn. Đây được xem là “trái tim số” của đô thị thông minh, tạo nền tảng cho các ứng dụng AI trong quản lý giao thông, y tế, giáo dục, quy hoạch và điều hành kinh tế - xã hội.
TP Hồ Chí Minh cũng đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% thủ tục hành chính được tiếp nhận, giải quyết phi địa giới hành chính; 100% hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính được số hóa; ít nhất 85% hồ sơ được xử lý trực tuyến. Điều này không chỉ giúp giảm thời gian, chi phí cho người dân và doanh nghiệp mà còn thay đổi căn bản cách thức vận hành của bộ máy chính quyền. Quản lý, điều hành dựa trên dữ liệu, kết nối thời gian thực sẽ giúp lãnh đạo thành phố đưa ra quyết định nhanh hơn, chính xác hơn, phù hợp với thực tiễn biến động nhanh của một siêu đô thị.
Kinh tế số, xã hội số toàn dân
Trong bối cảnh các động lực tăng trưởng truyền thống dần bộc lộ hạn chế, TP Hồ Chí Minh kỳ vọng kinh tế số sẽ trở thành trụ cột quan trọng. Chiến lược đặt mục tiêu đến năm 2030, quy mô kinh tế số chiếm từ 30 - 40% GRDP của thành phố. Để đạt được mục tiêu này, thành phố tập trung hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong quá trình chuyển đổi số. Từ khảo sát, đánh giá mức độ sẵn sàng chuyển đổi số, đến xây dựng cẩm nang số, đội ngũ tư vấn và các gói hỗ trợ phù hợp, chính quyền thành phố đóng vai trò “bà đỡ”, tạo điều kiện để doanh nghiệp từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh.
Song song đó, TP Hồ Chí Minh định hướng phát triển các khu công nghệ số tập trung, thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và thu hút các tập đoàn công nghệ lớn trong và ngoài nước. Đặc biệt, việc triển khai chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn và nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực này cho thấy thành phố đang chủ động đón đầu xu hướng công nghệ toàn cầu.
Không chỉ tập trung vào chính quyền và doanh nghiệp, chiến lược chuyển đổi số TP Hồ Chí Minh nhấn mạnh phát triển xã hội số, nơi mọi người dân đều có khả năng tiếp cận, sử dụng và thụ hưởng các tiện ích số. Mục tiêu đến năm 2030, ít nhất 80% người dân từ 14 tuổi trở lên có tài khoản định danh điện tử VNeID, 70% người trưởng thành có chữ ký số hoặc chữ ký điện tử cá nhân.
Phong trào “Bình dân học vụ số” được triển khai nhằm phổ cập kỹ năng số, nâng cao nhận thức và khả năng thích ứng của người dân trong môi trường số. Thông qua các tổ công nghệ số cộng đồng, phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà” được thực hiện để hướng dẫn người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán điện tử và các tiện ích số thiết thực.
Phương Tuyền/Báo Công an Nhân dân
Trong khuôn khổ Ngày hội Khởi nghiệp sáng tạo quốc gia (Techfest) Việt Nam 2025, sáng 14/12, tại trụ sở Báo Nhân Dân đã diễn ra hội thảo "Khởi nghiệp sáng tạo trong kinh tế xanh và bền vững".
Thiếu hệ thống minh bạch đủ mạnh để thuyết phục thị trường
Phát biểu tại hội thảo, Bà Jlo Trần, đồng sáng lập và Giám đốc điều hành VBI Academy, đại diện GFI Ventures đã trình bày tham luận "Blockchain và minh bạch chuỗi giá trị cho khởi nghiệp bền vững". Theo bà, khủng hoảng niềm tin trong chuỗi giá trị toàn cầu đang trở thành thách thức lớn đối với doanh nghiệp, đặc biệt là các startup và SME.
Dẫn các nghiên cứu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF, 2022), bà JLo Chan cho biết, 94% người tiêu dùng cho rằng minh bạch thương hiệu giúp gia tăng niềm tin, trong khi 73% sẵn sàng trả giá cao hơn cho các sản phẩm minh bạch. Xu hướng toàn cầu đang dịch chuyển từ xây dựng thương hiệu dựa trên cảm tính sang niềm tin dựa trên dữ liệu có thể kiểm chứng, trong đó minh bạch chuỗi cung ứng và truy xuất nguồn gốc trở thành yêu cầu bắt buộc.
Tại Việt Nam, startup và doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp (theo Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam 2023). Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp này đang đối mặt với nhiều thách thức như quy mô nhỏ, áp lực tuân thủ ngày càng lớn, dữ liệu phân mảnh, thiếu hệ thống minh bạch đủ mạnh để thuyết phục thị trường, đối tác và nhà đầu tư.
Theo bà JLo Chan, truy xuất nguồn gốc không đơn thuần là dán mã QR hay cung cấp thông tin mô tả, mà phải là khả năng theo dõi toàn bộ vòng đời sản phẩm, từ nguyên liệu, sản xuất, logistics đến phân phối và người tiêu dùng, với dữ liệu liên thông, nhất quán và không thể chỉnh sửa ngược. Đây cũng là lý do nhiều hệ thống truy xuất hiện nay chỉ mang tính hình thức, chưa đủ độ tin cậy để đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, ESG hay tài chính xanh.
Ở góc độ công nghệ, blockchain được đánh giá là giải pháp cốt lõi giúp giải quyết bài toán niềm tin dữ liệu. Với các đặc tính như không thể sửa đổi, minh bạch, bảo mật cao, phi tập trung và khả năng tự động hóa thông qua hợp đồng thông minh, blockchain giúp doanh nghiệp chứng minh sự minh bạch bằng dữ liệu thay vì lời cam kết.
Đáng chú ý, công nghệ blockchain đang được xác định là một trong những chiến lược quốc gia trọng điểm giai đoạn 2025–2030. Các chính sách như Quyết định số 942/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư 16/2020/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước và Chiến lược quốc gia về ứng dụng và phát triển công nghệ chuỗi khối ban hành năm 2024 đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc ứng dụng blockchain trong quản lý, dịch vụ công và hoạt động doanh nghiệp.
"Trong kỷ nguyên số, niềm tin không còn được xây dựng bằng lời hứa, mà bằng dữ liệu. Blockchain giúp startup thiết kế minh bạch ngay từ đầu, chuẩn hóa dữ liệu theo tiêu chuẩn quốc tế và tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn," bà JLo Chan nhấn mạnh.
Mô hình kinh doanh tuần hoàn – nền tảng cạnh tranh của khởi nghiệp xanh
Tiếp nối chương trình, TS. Nguyễn Hồng Hải đã trình bày tham luận "Mô hình kinh doanh tuần hoàn trong khởi nghiệp xanh: Bài học từ mô hình Forest Ecopreneur – Viginseng", tiếp cận vấn đề từ góc nhìn mô hình hóa và chính sách.
Theo TS. Nguyễn Hồng Hải, mô hình kinh doanh tuần hoàn (Circular Business Model – CBM) là cấu trúc vận hành doanh nghiệp được thiết kế nhằm tạo, phân phối và thu giữ giá trị dựa trên hiệu quả sử dụng tài nguyên, thay vì gia tăng khai thác tài nguyên nguyên sinh. Trong CBM, "xanh" không phải là thuộc tính của sản phẩm, mà là cách doanh nghiệp tổ chức toàn bộ hệ thống hoạt động, từ chuỗi cung ứng, công nghệ đến quan hệ đối tác và phân phối giá trị.
CBM được xây dựng trên ba nguyên lý kỹ thuật cốt lõi: kéo dài vòng đời tài nguyên (Slowing Loops), khép kín dòng vật chất (Closing Loops) và giảm tiêu thụ tài nguyên nguyên sinh (Narrowing Loops). Đây là những tiêu chí cụ thể để đánh giá mức độ "tuần hoàn thực chất" của một startup, thay vì chỉ dừng ở tuyên bố hay thông điệp môi trường.
Phân tích trường hợp Viginseng – Forest Ecopreneur, TS. Nguyễn Hồng Hải cho thấy, việc ứng dụng công nghệ chiết xuất tiên tiến như hỗ trợ bằng sóng siêu âm (UAE) không chỉ giúp giảm 40–70% năng lượng tiêu thụ, giảm dung môi và chất thải, mà còn nâng cao hiệu suất chiết xuất hoạt chất, qua đó gia tăng giá trị kinh tế và giảm dấu chân carbon.
Tuy nhiên, theo TS. Nguyễn Hồng Hải, khởi nghiệp xanh hiện vẫn đang đối mặt với nhiều "nút thắt" như chuỗi giá trị tuyến tính, hạn chế về công nghệ, thiếu minh bạch ESG và bất bình đẳng trong phân phối giá trị. Đây là những rào cản lớn khiến doanh nghiệp khó tiếp cận tài chính xanh và mở rộng quy mô bền vững.
Từ đó, TS. Nguyễn Hồng Hải nhấn mạnh ba thông điệp chính sách: Mô hình kinh doanh tuần hoàn không phải là lựa chọn đạo đức mà là nền tảng cạnh tranh; tái tạo tài nguyên có thể thay thế mô thức khai thác truyền thống; và một mô hình đúng có thể tạo tác động lớn hơn nhiều lần so với quy mô doanh nghiệp.
"Điều quan trọng không phải là có bao nhiêu doanh nghiệp xanh, mà là có bao nhiêu mô hình kinh doanh xanh có thể nhân rộng và đứng vững trên thị trường," TS. Nguyễn Hồng Hải khẳng định, đồng thời kiến nghị Nhà nước chuyển trọng tâm từ hỗ trợ doanh nghiệp đơn lẻ sang thiết kế các công cụ điều phối mô hình như Green Taxonomy, cụm đổi mới sáng tạo tuần hoàn và cơ chế tài chính xanh linh hoạt.
Khung pháp lý trong hành trình phát triển kinh tế xanh và bền vững
Các đại biểu cũng phân tích sâu các chính sách, pháp luật mới đang tạo hành lang thuận lợi cho khởi nghiệp sáng tạo gắn với tăng trưởng xanh. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020; Nghị định số 08/2022/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 05/2025/NĐ-CP; cùng Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg (có hiệu lực từ tháng 8/2025) đã lần đầu tiên ban hành khung phân loại quốc gia, định nghĩa rõ thế nào là dự án xanh.
Bên cạnh đó, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa với chương riêng cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; Nghị định số 264/2025/NĐ-CP về Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia và quỹ đầu tư mạo hiểm của địa phương; Nghị định số 268/2025/NĐ-CP hướng dẫn Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo… đã cụ thể hóa cơ chế sử dụng ngân sách nhà nước để khuyến khích đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp, đồng thời công nhận trung tâm đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
Đặc biệt, Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, được kỳ vọng sẽ trở thành "khung đánh giá rủi ro" mới, giúp các tổ chức tín dụng và quỹ đầu tư thẩm định dự án số gắn với tài chính xanh một cách minh bạch, hiệu quả hơn.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Thị Tuyết Nhung, Phó Hiệu trưởng Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ, Học viện Ngân hàng, nhận định rằng, nhiều doanh nghiệp nhỏ và startup hiện nay có sản phẩm tốt, mô hình kinh doanh bền vững, song lại thiếu dữ liệu chứng minh hiệu quả môi trường, dẫn đến khó tiếp cận các nguồn vốn xanh.
Theo bà Nhung, căn cứ Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg, doanh nghiệp cần xác định rõ mô hình kinh doanh, sản phẩm hoặc dịch vụ của mình thuộc nhóm nào trong Danh mục phân loại xanh, như năng lượng sạch, sản xuất xanh, nông nghiệp bền vững, quản lý chất thải và kinh tế tuần hoàn, giao thông xanh hay xây dựng và đô thị bền vững.
Các ý kiến tại hội thảo thống nhất rằng, trong kỷ nguyên số, niềm tin không còn được xây dựng bằng cam kết hay lời hứa, mà bằng dữ liệu có thể kiểm chứng. Blockchain vì thế không chỉ là công cụ quản lý, mà đang trở thành nền tảng kiến tạo minh bạch, giúp doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo phát triển bền vững và vươn ra thị trường khu vực, toàn cầu.
Nhân dịp này, lễ ký kết thỏa thuận hợp tác giữa các đơn vị và Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo quốc gia đã được tổ chức, mở ra thêm những cơ hội liên kết, hỗ trợ thiết thực cho cộng đồng startup trong hành trình phát triển kinh tế xanh và bền vững.
Trong hành trình chuyển đổi số, người cao tuổi từng được xem là nhóm yếu thế, khó tiếp cận công nghệ. Tuy nhiên, từ những lớp học nhỏ ở tổ dân phố, nhà văn hóa thôn bản đến các mô hình "Bình dân học vụ số", "Nhà văn hóa số", ngày càng nhiều người cao tuổi đang chủ động bước vào không gian số, trở thành minh chứng sinh động cho một quá trình chuyển đổi số bao trùm, không ai bị bỏ lại phía sau.
Tại Hải Phòng, việc "gỡ rào cản" công nghệ cho người dân, trong đó có người cao tuổi, được xác định là nhiệm vụ trọng tâm khi triển khai chuyển đổi số từ cơ sở. Theo Sở Khoa học và Công nghệ thành phố, rào cản lớn nhất không nằm ở thiết bị hay hạ tầng, mà ở tâm lý e ngại, thiếu kỹ năng và thói quen sử dụng công nghệ của một bộ phận người dân lớn tuổi. Vì vậy, cách làm được lựa chọn là "cầm tay chỉ việc", lấy những nhu cầu thiết thực nhất làm điểm khởi đầu.
Giữa tháng 11/2025, tại phường Nhị Chiểu, hơn 200 học viên, trong đó nhiều người đã ngoài 50, 60 tuổi, tham gia lớp tập huấn chuyển đổi số do Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp tổ chức. Nội dung không nặng về lý thuyết, mà bắt đầu từ những thao tác rất cơ bản: Mở điện thoại thông minh, cài đặt và sử dụng ứng dụng "Smart Hải Phòng", nộp hồ sơ trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, tra cứu thông tin y tế, an sinh xã hội. Thậm chí, học viên còn được làm quen với một số ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) ở mức độ đơn giản.
Bà Nguyễn Thị Thương, 58 tuổi, ở tổ dân phố Phú Thứ 1, chia sẻ: "Trước đây, cứ nghe đến thủ tục hành chính là ngại, vì sợ thiếu giấy tờ, sợ đi lại nhiều lần. Nay được hướng dẫn từng bước, tôi mới thấy chỉ vài thao tác trên điện thoại là có thể nộp hồ sơ trực tuyến, vừa nhanh vừa minh bạch". Từ chỗ bỡ ngỡ, nhiều người cao tuổi như bà Thương dần hình thành thói quen sử dụng dịch vụ công trực tuyến, không còn phụ thuộc hoàn toàn vào con cháu hay cán bộ cơ sở.
Trong khi đó, tại các xã, thôn vùng cao của Lào Cai, hành trình đưa công nghệ đến với người cao tuổi cũng đang diễn ra một cách bền bỉ. Mô hình "Nhà văn hóa số" tại thôn Nghĩa Dũng, xã Lâm Giang là một ví dụ điển hình. Tại đây, người dân lớn tuổi được hỗ trợ tích hợp thẻ bảo hiểm y tế, sử dụng VNeID, khai báo hộ tịch, đăng ký cư trú, nộp hồ sơ dịch vụ công mức độ 3–4. Những thủ tục trước kia phải đi hàng chục cây số nay được giải quyết ngay tại thôn, với sự hỗ trợ trực tiếp của cán bộ và lực lượng trẻ tình nguyện.
Điểm chung trong các mô hình này là sự tham gia tích cực của các "hạt nhân số" tại cộng đồng. Ở Hải Phòng, tổ công nghệ số cộng đồng được triển khai tại các thôn, tổ dân phố của 114 xã, phường, đặc khu, với lực lượng nòng cốt là cán bộ cơ sở, đoàn viên thanh niên, hội viên các đoàn thể. Mỗi thành viên vừa là người học, vừa là người hướng dẫn, đặc biệt chú trọng hỗ trợ người cao tuổi, nhóm cần nhiều thời gian và sự kiên nhẫn nhất.
Phong trào "Bình dân học vụ số" do Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp phát động cũng cho thấy vai trò quan trọng của phụ nữ trung niên và cao tuổi trong lan tỏa kỹ năng số. Tại các lớp học số "Đồng hành công nghệ", nhiều chị em lần đầu tiên biết cách cài ứng dụng, tra cứu thông tin, nộp hồ sơ trực tuyến. Các mô hình "Gia đình số", "Chi hội số" không chỉ giúp người cao tuổi tự tin hơn với công nghệ, mà còn tạo sự gắn kết giữa các thế hệ trong gia đình, khi con cháu cùng hỗ trợ, cùng học hỏi.
Từ thực tiễn cho thấy, khi người cao tuổi được tiếp cận công nghệ theo cách phù hợp, chuyển đổi số không còn là khái niệm xa vời. Ngược lại, họ trở thành những người sử dụng công nghệ một cách thận trọng, có trách nhiệm, biết khai thác tiện ích số để phục vụ đời sống hằng ngày: từ chăm sóc sức khỏe, tiếp cận chính sách an sinh, đến tham gia phản ánh, góp ý với chính quyền cơ sở.
Chuyển đổi số chỉ thực sự thành công khi mọi người dân đều có thể tham gia và thụ hưởng. Việc người cao tuổi từng bước làm chủ công nghệ không chỉ góp phần giảm tải cho bộ máy hành chính, mà còn khẳng định tinh thần học tập suốt đời, thích ứng với thời đại số. Đó chính là nền tảng quan trọng để xây dựng một xã hội số nhân văn, bao trùm và bền vững./.
Viettel Solutions ứng dụng bộ giải pháp chuyển đổi số giúp chính quyền hai cấp xử lý khối lượng hành chính lớn, rút ngắn thời gian phục vụ người dân.
Ông Dương Công Đức - Giám đốc Trung tâm đô thị thông minh (IOC) Viettel Solutions, cho biết trước đây, người dân phải lên huyện, xuống xã giải quyết thủ tục hành chính, hiện mọi thứ thay đổi khi nước ta chuyển từ mô hình ba cấp (tỉnh - huyện - xã) sang hai cấp (tỉnh - xã/phường).
Sự thay đổi trên khiến quy mô, khối lượng công việc tại xã/phường tăng gấp nhiều lần. Ông Đức chỉ ra khoảng 85% dịch vụ hành chính công của quận huyện trước đây được chuyển xuống xã/phường.
Tại Hà Nội, cùng quy mô dân số hơn 8,8 triệu người, sau sáp nhập thành phố chỉ quản lý trực tiếp 126 xã, phường thay vì 526 như trước. Điều này khiến mỗi xã/phường gánh khối lượng công việc lớn gấp nhiều lần.
"Nếu vẫn giữ cách làm thủ công như trước, bốn chức năng cốt lõi của chính quyền là phục vụ người dân - doanh nghiệp, quản trị điều hành, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và hoạch định tương lai sẽ bất khả thi", ông Dương Công Đức nói.
Từ thách thức trên, công nghệ dần "lên ngôi", đóng vai trò quan trọng: không còn là công cụ hỗ trợ rời rạc, mà trở thành "hạ tầng mềm" thiết yếu. Ưu điểm lớn là chuẩn hóa, tự động hóa toàn bộ quy trình nghiệp vụ giữa tỉnh và xã/phường. Nhờ đó, dữ liệu được kết nối, chia sẻ liên thông qua 12 cơ sở dữ liệu quốc gia cùng 330 cơ sở dữ liệu ngành.
Việc số hóa cũng rút ngắn tối đa thời gian xử lý hồ sơ và phục vụ người dân tại chỗ. Đồng thời, hệ thống cho phép giám sát, điều hành tập trung từ Trung tâm điều hành thông minh (IOC) ở từng tỉnh, thành nhưng vẫn có thể cá thể hóa dịch vụ theo đặc thù từng địa bàn.
Đà Nẵng là một trong những địa phương biến công nghệ thành trợ thủ đắc lực trong quản lý, điều hành, trước khi chuyển sang chính quyền hai cấp. Cụ thể, nơi đây từng triển khai thành công mô hình Trung tâm điều hành thông minh (IOC) cấp thành phố và có 7 OC quận/huyện vận hành tốt.
Sở Khoa học và Công nghệ tham mưu cho lãnh đạo thành phố Đà Nẵng dùng IOC giám sát, điều hành tỷ lệ giải quyết dịch vụ công, các KPI (tổng số thủ tục, tỷ lệ đúng hạn, tỷ lệ chậm, vấn đề phát sinh) và theo dõi thi đua thông qua hệ thống.
Nhờ cách tiếp cận trên, lãnh đạo Đà Nẵng có thể theo dõi diễn biến hàng ngày ở từng trung tâm (đông hay không, tỷ lệ tồn cao hay thấp), kịp thời điều phối nhân sự và đưa ra giải pháp phù hợp... Từ khi dùng IOC, tỷ lệ giải quyết dịch vụ công đúng hạn tại đây tăng rõ rệt, nhiều phường đạt trên 90%, có nơi gần 100%.
Đột phá nhất là mô hình hành chính công chủ động (hệ thống tự động nhận biết nhu cầu người dân, chủ động cung cấp dịch vụ), được triển khai thử nghiệm tại Quảng Nam cũ, trước khi sáp nhập hai tháng.
Theo đó, Quảng Nam triển khai 8 dịch vụ hành chính công chủ động ở 16 xã, phường. Đơn cử là thí điểm đăng ký khai sinh chủ động tại Bệnh viện đa khoa Quảng Nam. Trước đây khi sinh con, người dân phải mang giấy chứng sinh lên phường để làm giấy khai sinh. Giờ đây, khi bệnh viện cấp giấy chứng sinh, cha mẹ chỉ việc khai căn cước công dân (số định danh).
Bước tiếp theo, hệ thống bệnh viện sẽ tự động kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và gửi tin nhắn đến điện thoại người bố để hỏi tên con dự kiến. Sau khi đặt tên bé và xác nhận qua tin nhắn, hệ thống tự chuyển sang tư pháp hộ tịch để làm giấy khai sinh. Vài ngày sau, giấy này được gửi về tận nhà.
Hiện Đà Nẵng thí điểm 27 dịch vụ hành chính công chủ động, tích hợp công nghệ và đồng bộ để phục vụ người dân lẫn doanh nghiệp, qua đó, chính quyền hai cấp có thể biến thủ tục hành chính thành trải nghiệm số thực thụ.
Nguyễn Tuấn/Báo vnexpress
Quốc hội đã thông qua Luật Chuyển đổi số, tạo lập khung pháp lý thống nhất cho tiến trình xây dựng quốc gia số. Với vai trò là luật khung kết nối các luật chuyên ngành, đạo luật này định hình bức tranh tổng thể về chuyển đổi số của Việt Nam, bảo đảm sự liên thông, hiện đại và an toàn trong toàn bộ hệ thống pháp luật.
Để phát triển kinh tế dữ liệu, các chuyên gia cho rằng cần có phương pháp đo lường, học hỏi một số thị trường đi trước như Mỹ, Trung Quốc, EU.
Tại Hội thảo quốc tế về Kinh tế dữ liệu, do Bộ Công an tổ chức ngày 13/12 tại Hưng Yên, các chuyên gia đưa ra nhiều ý kiến về tầm quan trọng của kinh tế dữ liệu, cùng hướng đi cho ngành này tại Việt Nam.
Nhấn mạnh tầm quan trọng của dữ liệu là yếu tố sản xuất "ngang hàng với đất đai, lao động và vốn", Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương, Giám đốc Trung tâm Dữ liệu Quốc gia, cho rằng quốc gia nào quản trị dữ liệu tốt hơn, khai thác dữ liệu thông minh hơn sẽ nắm lợi thế vượt trội trong cạnh tranh toàn cầu.
"Việt Nam không đứng ngoài xu thế", ông nói, cho biết Việt Nam đang có những bước tiến trong lĩnh vực kinh tế dữ liệu, như xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia hiện đại, an toàn, liên thông; xây dựng và vận hành nhiều nền tảng dữ liệu cốt lõi, đồng thời kêu gọi các chuyên gia, nhà khoa học cùng hợp tác cho các chương trình nghiên cứu chung, đồng hành lâu dài giữa Việt Nam với cộng đồng học thuật toàn cầu trong lĩnh vực kinh tế dữ liệu.
Những hướng phát triển kinh tế dữ liệu
Kinh tế dữ liệu được hiểu là hệ thống kinh tế trong đó dữ liệu là nguồn lực cốt lõi để tạo ra giá trị và đổi mới sáng tạo. Hệ thống này bao gồm các hoạt động thu thập, lưu trữ, chia sẻ và thương mại hóa dữ liệu, từ đó mở ra các mô hình kinh doanh, dịch vụ mới, gia tăng năng lực cạnh tranh trong nhiều lĩnh vực, nhưng đồng thời cũng sẽ đặt ra những câu hỏi về quyền sở hữu, quản trị và phân bổ lợi ích.
Tại hội thảo, một số mô hình phát triển kinh tế dữ liệu và ứng dụng AI được đưa ra phân tích như Mỹ, Trung Quốc và châu Âu. Trong đó, Mỹ được coi là dẫn đầu về đổi mới thương mại, nhưng thiếu một khung pháp lý thống nhất ở cấp liên bang. Trung Quốc triển khai mạnh mẽ các chiến lược dữ liệu tập trung, gắn với luật bản địa hóa nghiêm ngặt, trong khi EU theo đuổi mô hình 'lấy con người làm trung tâm', đặt trọng tâm vào niềm tin, chủ quyền số và khả năng tương tác. Loạt chính sách của EU được nhiều nơi trên thế giới học hỏi, như Đạo luật Quản trị Dữ liệu (DGA), Đạo luật Dữ liệu (Data Act).
Theo PGS Ali Al-Dulaimi, Trưởng khoa Công nghệ và Khoa học Máy tính, Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam (BUV), mỗi mô hình đều có những thế mạnh mà Việt Nam có thể học và rủi ro cần tránh. Chẳng hạn mô hình do thị trường dẫn dắt có thể mang tới tốc độ phát triển nhanh và nguồn vốn mạnh nhờ tư nhân, nhưng sẽ dẫn tới nguy cơ bị thống trị của các tập đoàn công nghệ. Mô hình lấy người dân làm trung tâm giúp xây dựng niềm tin xã hội và đảm bảo công bằng, nhưng đổi lại là quá nhiều rào cản pháp lý.
Từ đây, ông khuyến nghị Việt Nam có thể hình thành một mô hình "lai". "Việt Nam có thể kết hợp vai trò định hướng của Nhà nước, năng lực đổi mới của khu vực tư nhân và các cơ chế bảo vệ người dân", ông nói.
Một trong những thách thức trong phát triển kinh tế dữ liệu và AI là chính sách. Theo Al-Dulaimi, việc Việt Nam xây dựng Luật Trí tuệ nhân tạo với các cấp độ rủi ro có thể là một "điểm ngọt" trong chính sách, khi cân bằng được giữa yêu cầu quản lý mà không kìm hãm sự đổi mới, tạo tiền đề để phát triển kinh tế dữ liệu và sử dụng AI một cách an toàn.
Một hướng tiếp cận khác được GS Trần Ngọc Anh từ Đại học Indiana và Chủ tịch Viện Sáng kiến Việt Nam gợi mở là phát triển nền kinh tế dữ liệu trên ba trụ cột then chốt, gồm: Hạ tầng số như 5G/6G, trung tâm dữ liệu; Nhân lực số về khoa học dữ liệu, AI, an ninh mạng; và Thể chế số, như bảo vệ dữ liệu cá nhân, chia sẻ dữ liệu mở, an ninh mạng, sandbox chính sách.
Ông đưa ra mô hình "Vòng xoáy tạo giá trị 4T" cho dữ liệu, gồm: Thu thập, Tinh luyện, Triển khai, Tái tạo. Trong đó, dữ liệu sử dụng cho AI để tạo sản phẩm, dịch vụ thông minh, tối ưu vận hành và tiếp tục sinh ra dữ liệu mới, mở rộng không ngừng giá trị kinh tế.
Từ kinh nghiệm quốc tế, ông đề xuất tiếp cận hệ sinh thái phối hợp Nhà nước - doanh nghiệp - viện trường - địa phương, trong đó Chính phủ giữ vai trò "tổng nhạc trưởng", xây dựng hạ tầng dữ liệu tin cậy, hệ thống đo lường, sàn giao dịch, hệ sinh thái nhân lực cho dữ liệu.
Đo lường trong kinh tế dữ liệu
Một trong những yếu tố quyết định đến sự phát triển của kinh tế dữ liệu là yêu cầu về đo lường. Theo PGS James Abdey từ Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị London (LSE), dữ liệu đã trở thành tài sản vô hình cốt lõi tạo nên sức cạnh tranh của các nền kinh tế hiện đại, tuy nhiên, việc chưa có hệ thống đo lường đầy đủ khiến phần lớn giá trị kinh tế từ dữ liệu chưa được phản ánh trong GDP.
Điều này khiến năng suất và quy mô kinh tế dữ liệu có thể bị đánh giá thấp, gây khó khăn cho hoạch định chính sách, theo dõi tiến độ chuyển đổi số cũng như thu hút đầu tư. Với Việt Nam, PGS Abdey cho rằng việc thiếu khung đo lường sẽ hạn chế khả năng nhận diện tiềm năng kinh tế dữ liệu, so sánh năng lực cạnh tranh trong khu vực và thu hút vốn đầu tư.
Từ kinh nghiệm của Anh, ông đề xuất Việt Nam xây dựng khuôn khổ đo lường kết hợp chuẩn quốc tế với cách tiếp cận thực tiễn, bắt đầu bằng các chương trình thí điểm ở ba lĩnh vực có cường độ dữ liệu cao - y tế, giáo dục và tài chính, nhằm nhanh chóng tạo minh chứng về giá trị kinh tế trước khi nhân rộng toàn quốc.
Còn theo GS Chu Hoàng Long, Trường Chính sách Công Crawford - Đại học Quốc gia Australia, Việt Nam cần đo lường đồng thời ba nhóm yếu tố: khai thác dữ liệu, cung cấp dữ liệu, và môi trường chính sách - kinh doanh.
Ông gợi ý các đơn vị cung cấp dữ liệu, bên cạnh việc xây dựng hạ tầng dữ liệu mạnh mẽ, cần thúc đẩy chia sẻ dữ liệu thông qua các cơ chế như cổng dữ liệu mở, mạng trao đổi dữ liệu tin cậy, không gian dữ liệu theo ngành. Ngoài ra, cần tạo ra dữ liệu như kho dữ liệu công lớn, các chương trình thu thập dữ liệu, các đơn vị tạo dữ liệu.
GS Trần Ngọc Anh cũng đề xuất lộ trình giai đoạn 2026-2030, Việt Nam cần tập trung hoàn thiện thể chế và đo lường kinh tế dữ liệu, bên cạnh việc thúc đẩy chia sẻ, khung thử nghiệm, mở rộng đào tạo nhân lực AI - dữ liệu, phát triển các hệ sinh thái dữ liệu ngành.
"AI sẽ dẫn dắt kinh tế toàn cầu, nhưng dữ liệu mới là 'nguồn sống' của AI", ông nói. "Nếu phát huy đồng bộ hạ tầng, thể chế, nhân lực, Việt Nam hoàn toàn có thể bứt phá".
Lưu Quý/Báo vnexpress
Nhóm nghiên cứu của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh vừa hoàn thiện nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ xây dựng thể chế, chính sách, mô hình tổ chức bộ máy và phát triển nguồn nhân lực cho tiến trình hình thành Chính phủ số ở Việt Nam, tạo nền tảng khoa học và thực tiễn quan trọng cho mục tiêu đến năm 2030.
Nhiệm vụ "Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ hoàn thiện thể chế, chính sách, tổ chức bộ máy, quy trình nghiệp vụ hành chính phù hợp với Chiến lược phát triển Chính phủ số đến năm 2030" thuộc Chương trình: "Nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ phát triển Chính phủ sổ và đô thị thông minh" (KC. 01/21-30).
Nhiệm vụ nghiên cứu do PGS.TS. Nguyễn Văn Hậu chủ trì, triển khai từ tháng 6/2023 đến tháng 11/2024, hướng vào mục tiêu xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện thể chế, chính sách, tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực phục vụ phát triển Chính phủ số ở Việt Nam đến năm 2030.
Nhiệm vụ đã cung cấp những vấn đề lý luận về thể chế, chính sách, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, các quy trình nghiệp vụ hành chính phục vụ phát triển Chính phủ số ở Việt Nam. Hệ thống báo cáo gồm các bản tổng luận về quản trị nhà nước hiện đại, tác động của công nghệ số đối với bộ máy hành chính và các báo cáo thực trạng về thể chế, chính sách, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, quy trình nghiệp vụ hành chính trong bối cảnh xây dựng và phát triển Chính phủ số.
Từ các phân tích này, nhóm nghiên cứu đưa ra yêu cầu, giải pháp và hướng dẫn cụ thể trong xây dựng thể chế, mô hình tổ chức phù hợp, chuẩn hóa và tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ, đồng thời đề xuất các biện pháp nâng cao năng lực, kỹ năng, tác phong và văn hóa công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức trong môi trường số.
Nhiệm vụ cũng đã hoàn thiện báo cáo đề xuất về yêu cầu, giải pháp đối với xây dựng thể chế và tổ chức bộ máy; báo cáo chuẩn hóa và tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ; báo cáo đề xuất giải pháp phát triển năng lực và văn hóa công vụ.
Về thực tiễn, việc nghiên cứu nhiệm vụ góp phân làm sáng tỏ thực trạng xây dựng Chính phủ điện tử trong mối liên hệ và đặt trong lộ trình phát triên của Chính phủ số về thể chế, chính sách, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, các quy trình nghiệp vụ hành chính, chỉ ra những thành tựu và kết quả đạt được chủ yếu, đặc biệt là chỉ ra những điểm đã và đang thích ứng với yêu cầu phát triển của Chính phủ số, những điểm chưa thích ứng phải hoàn thiện. Đặc biệt, trong bối cảnh sáp nhập theo tinh thần Nghị quyết số 18- NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII, việc nghiên cứu này càng trở nên cấp thiết, hướng đến xây dựng bộ máy Nhà nước tỉnh gọn, hiệu lực và hiệu quả.
Bên cạnh đó, nhiệm vụ cũng nghiên cứu các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong xây dựng và phát triển Chính phủ số ở các quốc gia trên thế giới. Trên cơ sở nguyên tắc, yêu cầu, khung phân tích thể chế, chính sách, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, các quy trình nghiệp vụ hành chính của Chính phủ số, đề xuất được các quan điểm, quy trình nghiệp vụ hành chính của Chính phủ số, đề xuất được các quan điêm, lộ trình và các giải pháp, điều kiện và chỉ dẫn cụ thể trong việc hoàn thiện thể chế, chính sách, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, các quy trình nghiệp vụ hành chính phù hợp với Chiến lược phát triển Chính phủ số ở Việt Nam đến năm 2030, phù hợp với xu thế của thời đại và hội nhập quốc tế.
Nhiệm vụ cũng tham gia vào công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của Học viện thông qua đào tạo thạc sĩ, hỗ trợ đào tạo tiến sĩ và xây dựng các đề cương học phần về Chính phủ số và Văn phòng hiện đại cho giai đoạn 2023–2025. Những sản phẩm này góp phần bổ sung tài liệu giảng dạy, phục vụ đào tạo cán bộ, công chức trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia.
Kết quả nghiên cứu của nhiệm vụ cũng góp phần làm chuyển biển và nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức và người dân về lý luận và thực tiễn vai trò của Chính phủ số, vai trò và giải pháp thu hút và tăng cường sự tham gia của công dân trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật và cung ứng dịch vụ công trực tuyên
Để bảo đảm môi trường số an toàn, minh bạch và cạnh tranh lành mạnh, tại Điều 4, Luật Chuyển đổi số quy định rõ các nhóm hành vi bị nghiêm cấm trong chuyển đổi số, từ can thiệp trái phép vào hệ thống, thu thập và khai thác dữ liệu trái pháp luật đến lạm dụng quyền hạn hoặc trục lợi trên nền tảng số. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng niềm tin số và bảo vệ quyền lợi của người dân, doanh nghiệp và cơ quan Nhà nước.
Trung tâm Truyền thông KH&CN
Quá trình đô thị hoá nhanh đòi hỏi các địa phương phải đổi mới mô hình quản trị, nâng cao năng lực vận hành hạ tầng và cung cấp dịch vụ công dựa trên dữ liệu và công nghệ số. Định hướng này phù hợp tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, trong đó nhấn mạnh yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số như động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao hiệu quả quản lý đô thị và chất lượng cuộc sống người dân.
![]()
Tại Hà Nội, việc triển khai hàng nghìn camera AI kết hợp hệ thống đèn tín hiệu thông minh là ví dụ rõ nét cho việc ứng dụng công nghệ trong giải quyết vấn đề dân sinh.
Giai đoạn 2025 - 2030, việc phát triển đô thị thông minh được ưu tiên triển khai tại các thành phố lớn, tiến tới mở rộng toàn quốc. Mục tiêu là xây dựng mô hình quản trị dựa trên dữ liệu thời gian thực, tự động hóa các quy trình vận hành, tăng tính minh bạch và nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ công.
Tại Hà Nội, việc triển khai hàng nghìn camera AI kết hợp hệ thống đèn tín hiệu thông minh là ví dụ rõ nét cho việc ứng dụng công nghệ trong giải quyết vấn đề dân sinh. Hệ thống có khả năng nhận diện vi phạm, cảnh báo ùn tắc và tự động điều chỉnh chu kỳ đèn theo lưu lượng giao thông, giúp giảm áp lực điều tiết thủ công và tăng hiệu quả quản lý.
Khi dữ liệu từ camera, cảm biến môi trường, hệ thống an ninh và các thiết bị IoT được tích hợp, đô thị hình thành một “bảng điều khiển số” hỗ trợ cơ quan quản lý theo dõi chất lượng không khí, dự báo nguy cơ ô nhiễm và điều chỉnh kế hoạch vận hành phù hợp. Đây cũng là một trong những nội dung được Nghị quyết 57 yêu cầu: Xây dựng hạ tầng dữ liệu, thúc đẩy chia sẻ dữ liệu giữa các ngành, các cấp để phục vụ điều hành phát triển kinh tế, xã hội.
Trung tâm điều hành đô thị thông minh (IOC) là hạt nhân của mô hình đô thị số. IOC cho phép tích hợp dữ liệu từ giao thông, giáo dục, y tế, an ninh, dịch vụ công và phản ánh hiện trường; hỗ trợ phân tích, dự báo và cảnh báo theo thời gian thực. Nhiều địa phương như Huế, Đà Nẵng cho thấy việc vận hành IOC đã rút ngắn thời gian xử lý phản ánh, cải thiện chất lượng quản trị và nâng cao mức độ hài lòng của người dân.
![]()
Trung tâm IOC tại Hà Nội.
Dữ liệu cũng được ứng dụng sâu vào các hạ tầng thiết yếu. Hệ thống chiếu sáng công cộng điều khiển tự động theo lưu lượng phương tiện giúp tiết kiệm năng lượng; thu gom rác thải theo định vị GPS tối ưu quãng đường và giảm chi phí; y tế áp dụng hồ sơ bệnh án điện tử, đặt lịch khám trực tuyến và thanh toán không tiền mặt. Công nghệ mô phỏng 3D và bản sao số (digital twin) hỗ trợ mạnh mẽ trong quy hoạch, đánh giá tác động của các dự án lên giao thông, thoát nước và môi trường, phù hợp chủ trương của Nghị quyết 57 về phát triển hệ thống hạ tầng số và đô thị số thông minh, bền vững.
Tuy vậy, phát triển đô thị thông minh vẫn đối mặt nhiều thách thức: Thiếu dữ liệu chuẩn hóa, hệ thống cũ khó tích hợp, hạ tầng công nghệ tại cấp cơ sở còn yếu, năng lực bảo đảm an toàn thông tin chưa đáp ứng yêu cầu khi khối lượng dữ liệu nhạy cảm tăng nhanh. Thực tế khảo sát tại một số địa phương cho thấy dù tỷ lệ hồ sơ trực tuyến cao, nhưng kết nối dữ liệu giữa các cơ quan còn thiếu liền mạch, và một số nền tảng dịch vụ công chưa vận hành ổn định.
Theo định hướng của Nghị quyết 57-NQ/TW, để phát triển đô thị thông minh bền vững, các địa phương cần hoàn thiện khung pháp lý về đô thị số; thiết lập tiêu chuẩn chia sẻ dữ liệu; tăng cường hợp tác công, tư trong đầu tư hạ tầng công nghệ; bảo đảm an toàn thông tin; và chú trọng đào tạo đội ngũ nhân lực quản trị đô thị số. Việc ứng dụng công nghệ sẽ không chỉ hỗ trợ quản lý đô thị hiệu quả hơn mà còn tạo nền tảng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế đô thị và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.