UBND TP Hồ Chí Minh vừa ban hành “Chiến lược chuyển đổi số TP Hồ Chí Minh đến năm 2030” được xác định là động lực then chốt để TP Hồ Chí Minh duy trì vai trò đầu tàu kinh tế, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo của cả nước...
Đặt con người ở trung tâm chuyển đổi số
Để hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số toàn diện, TP Hồ Chí Minh phấn đấu đến năm 2030 phủ sóng 5G đạt 100% người dân, bảo đảm mọi người sử dụng đều có khả năng truy cập Internet băng rộng cố định với tốc độ trên 1 Gbit/s. Mạng di động 4G, 5G được nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển các dịch vụ số thế hệ mới.
Cùng với đó, thành phố tập trung đầu tư xây dựng các trung tâm dữ liệu đạt chuẩn quốc tế, trung tâm dữ liệu dự phòng và kết nối đồng bộ với trung tâm dữ liệu quốc gia. Đáng chú ý, TP Hồ Chí Minh đặt mục tiêu thu hút đầu tư các trung tâm dữ liệu siêu lớn (Hyperscale Data Center), trung tâm dữ liệu phục vụ trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây và dữ liệu lớn. Đây được xem là “trái tim số” của đô thị thông minh, tạo nền tảng cho các ứng dụng AI trong quản lý giao thông, y tế, giáo dục, quy hoạch và điều hành kinh tế - xã hội.
TP Hồ Chí Minh cũng đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% thủ tục hành chính được tiếp nhận, giải quyết phi địa giới hành chính; 100% hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính được số hóa; ít nhất 85% hồ sơ được xử lý trực tuyến. Điều này không chỉ giúp giảm thời gian, chi phí cho người dân và doanh nghiệp mà còn thay đổi căn bản cách thức vận hành của bộ máy chính quyền. Quản lý, điều hành dựa trên dữ liệu, kết nối thời gian thực sẽ giúp lãnh đạo thành phố đưa ra quyết định nhanh hơn, chính xác hơn, phù hợp với thực tiễn biến động nhanh của một siêu đô thị.
Kinh tế số, xã hội số toàn dân
Trong bối cảnh các động lực tăng trưởng truyền thống dần bộc lộ hạn chế, TP Hồ Chí Minh kỳ vọng kinh tế số sẽ trở thành trụ cột quan trọng. Chiến lược đặt mục tiêu đến năm 2030, quy mô kinh tế số chiếm từ 30 - 40% GRDP của thành phố. Để đạt được mục tiêu này, thành phố tập trung hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong quá trình chuyển đổi số. Từ khảo sát, đánh giá mức độ sẵn sàng chuyển đổi số, đến xây dựng cẩm nang số, đội ngũ tư vấn và các gói hỗ trợ phù hợp, chính quyền thành phố đóng vai trò “bà đỡ”, tạo điều kiện để doanh nghiệp từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh.
Song song đó, TP Hồ Chí Minh định hướng phát triển các khu công nghệ số tập trung, thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và thu hút các tập đoàn công nghệ lớn trong và ngoài nước. Đặc biệt, việc triển khai chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn và nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực này cho thấy thành phố đang chủ động đón đầu xu hướng công nghệ toàn cầu.
Không chỉ tập trung vào chính quyền và doanh nghiệp, chiến lược chuyển đổi số TP Hồ Chí Minh nhấn mạnh phát triển xã hội số, nơi mọi người dân đều có khả năng tiếp cận, sử dụng và thụ hưởng các tiện ích số. Mục tiêu đến năm 2030, ít nhất 80% người dân từ 14 tuổi trở lên có tài khoản định danh điện tử VNeID, 70% người trưởng thành có chữ ký số hoặc chữ ký điện tử cá nhân.
Phong trào “Bình dân học vụ số” được triển khai nhằm phổ cập kỹ năng số, nâng cao nhận thức và khả năng thích ứng của người dân trong môi trường số. Thông qua các tổ công nghệ số cộng đồng, phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà” được thực hiện để hướng dẫn người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán điện tử và các tiện ích số thiết thực.
Phương Tuyền/Báo Công an Nhân dân
Trong hành trình chuyển đổi số, người cao tuổi từng được xem là nhóm yếu thế, khó tiếp cận công nghệ. Tuy nhiên, từ những lớp học nhỏ ở tổ dân phố, nhà văn hóa thôn bản đến các mô hình "Bình dân học vụ số", "Nhà văn hóa số", ngày càng nhiều người cao tuổi đang chủ động bước vào không gian số, trở thành minh chứng sinh động cho một quá trình chuyển đổi số bao trùm, không ai bị bỏ lại phía sau.
Tại Hải Phòng, việc "gỡ rào cản" công nghệ cho người dân, trong đó có người cao tuổi, được xác định là nhiệm vụ trọng tâm khi triển khai chuyển đổi số từ cơ sở. Theo Sở Khoa học và Công nghệ thành phố, rào cản lớn nhất không nằm ở thiết bị hay hạ tầng, mà ở tâm lý e ngại, thiếu kỹ năng và thói quen sử dụng công nghệ của một bộ phận người dân lớn tuổi. Vì vậy, cách làm được lựa chọn là "cầm tay chỉ việc", lấy những nhu cầu thiết thực nhất làm điểm khởi đầu.
Giữa tháng 11/2025, tại phường Nhị Chiểu, hơn 200 học viên, trong đó nhiều người đã ngoài 50, 60 tuổi, tham gia lớp tập huấn chuyển đổi số do Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp tổ chức. Nội dung không nặng về lý thuyết, mà bắt đầu từ những thao tác rất cơ bản: Mở điện thoại thông minh, cài đặt và sử dụng ứng dụng "Smart Hải Phòng", nộp hồ sơ trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, tra cứu thông tin y tế, an sinh xã hội. Thậm chí, học viên còn được làm quen với một số ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) ở mức độ đơn giản.
Bà Nguyễn Thị Thương, 58 tuổi, ở tổ dân phố Phú Thứ 1, chia sẻ: "Trước đây, cứ nghe đến thủ tục hành chính là ngại, vì sợ thiếu giấy tờ, sợ đi lại nhiều lần. Nay được hướng dẫn từng bước, tôi mới thấy chỉ vài thao tác trên điện thoại là có thể nộp hồ sơ trực tuyến, vừa nhanh vừa minh bạch". Từ chỗ bỡ ngỡ, nhiều người cao tuổi như bà Thương dần hình thành thói quen sử dụng dịch vụ công trực tuyến, không còn phụ thuộc hoàn toàn vào con cháu hay cán bộ cơ sở.
Trong khi đó, tại các xã, thôn vùng cao của Lào Cai, hành trình đưa công nghệ đến với người cao tuổi cũng đang diễn ra một cách bền bỉ. Mô hình "Nhà văn hóa số" tại thôn Nghĩa Dũng, xã Lâm Giang là một ví dụ điển hình. Tại đây, người dân lớn tuổi được hỗ trợ tích hợp thẻ bảo hiểm y tế, sử dụng VNeID, khai báo hộ tịch, đăng ký cư trú, nộp hồ sơ dịch vụ công mức độ 3–4. Những thủ tục trước kia phải đi hàng chục cây số nay được giải quyết ngay tại thôn, với sự hỗ trợ trực tiếp của cán bộ và lực lượng trẻ tình nguyện.
Điểm chung trong các mô hình này là sự tham gia tích cực của các "hạt nhân số" tại cộng đồng. Ở Hải Phòng, tổ công nghệ số cộng đồng được triển khai tại các thôn, tổ dân phố của 114 xã, phường, đặc khu, với lực lượng nòng cốt là cán bộ cơ sở, đoàn viên thanh niên, hội viên các đoàn thể. Mỗi thành viên vừa là người học, vừa là người hướng dẫn, đặc biệt chú trọng hỗ trợ người cao tuổi, nhóm cần nhiều thời gian và sự kiên nhẫn nhất.
Phong trào "Bình dân học vụ số" do Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp phát động cũng cho thấy vai trò quan trọng của phụ nữ trung niên và cao tuổi trong lan tỏa kỹ năng số. Tại các lớp học số "Đồng hành công nghệ", nhiều chị em lần đầu tiên biết cách cài ứng dụng, tra cứu thông tin, nộp hồ sơ trực tuyến. Các mô hình "Gia đình số", "Chi hội số" không chỉ giúp người cao tuổi tự tin hơn với công nghệ, mà còn tạo sự gắn kết giữa các thế hệ trong gia đình, khi con cháu cùng hỗ trợ, cùng học hỏi.
Từ thực tiễn cho thấy, khi người cao tuổi được tiếp cận công nghệ theo cách phù hợp, chuyển đổi số không còn là khái niệm xa vời. Ngược lại, họ trở thành những người sử dụng công nghệ một cách thận trọng, có trách nhiệm, biết khai thác tiện ích số để phục vụ đời sống hằng ngày: từ chăm sóc sức khỏe, tiếp cận chính sách an sinh, đến tham gia phản ánh, góp ý với chính quyền cơ sở.
Chuyển đổi số chỉ thực sự thành công khi mọi người dân đều có thể tham gia và thụ hưởng. Việc người cao tuổi từng bước làm chủ công nghệ không chỉ góp phần giảm tải cho bộ máy hành chính, mà còn khẳng định tinh thần học tập suốt đời, thích ứng với thời đại số. Đó chính là nền tảng quan trọng để xây dựng một xã hội số nhân văn, bao trùm và bền vững./.
Viettel Solutions ứng dụng bộ giải pháp chuyển đổi số giúp chính quyền hai cấp xử lý khối lượng hành chính lớn, rút ngắn thời gian phục vụ người dân.
Ông Dương Công Đức - Giám đốc Trung tâm đô thị thông minh (IOC) Viettel Solutions, cho biết trước đây, người dân phải lên huyện, xuống xã giải quyết thủ tục hành chính, hiện mọi thứ thay đổi khi nước ta chuyển từ mô hình ba cấp (tỉnh - huyện - xã) sang hai cấp (tỉnh - xã/phường).
Sự thay đổi trên khiến quy mô, khối lượng công việc tại xã/phường tăng gấp nhiều lần. Ông Đức chỉ ra khoảng 85% dịch vụ hành chính công của quận huyện trước đây được chuyển xuống xã/phường.
Tại Hà Nội, cùng quy mô dân số hơn 8,8 triệu người, sau sáp nhập thành phố chỉ quản lý trực tiếp 126 xã, phường thay vì 526 như trước. Điều này khiến mỗi xã/phường gánh khối lượng công việc lớn gấp nhiều lần.
"Nếu vẫn giữ cách làm thủ công như trước, bốn chức năng cốt lõi của chính quyền là phục vụ người dân - doanh nghiệp, quản trị điều hành, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và hoạch định tương lai sẽ bất khả thi", ông Dương Công Đức nói.
Từ thách thức trên, công nghệ dần "lên ngôi", đóng vai trò quan trọng: không còn là công cụ hỗ trợ rời rạc, mà trở thành "hạ tầng mềm" thiết yếu. Ưu điểm lớn là chuẩn hóa, tự động hóa toàn bộ quy trình nghiệp vụ giữa tỉnh và xã/phường. Nhờ đó, dữ liệu được kết nối, chia sẻ liên thông qua 12 cơ sở dữ liệu quốc gia cùng 330 cơ sở dữ liệu ngành.
Việc số hóa cũng rút ngắn tối đa thời gian xử lý hồ sơ và phục vụ người dân tại chỗ. Đồng thời, hệ thống cho phép giám sát, điều hành tập trung từ Trung tâm điều hành thông minh (IOC) ở từng tỉnh, thành nhưng vẫn có thể cá thể hóa dịch vụ theo đặc thù từng địa bàn.
Đà Nẵng là một trong những địa phương biến công nghệ thành trợ thủ đắc lực trong quản lý, điều hành, trước khi chuyển sang chính quyền hai cấp. Cụ thể, nơi đây từng triển khai thành công mô hình Trung tâm điều hành thông minh (IOC) cấp thành phố và có 7 OC quận/huyện vận hành tốt.
Sở Khoa học và Công nghệ tham mưu cho lãnh đạo thành phố Đà Nẵng dùng IOC giám sát, điều hành tỷ lệ giải quyết dịch vụ công, các KPI (tổng số thủ tục, tỷ lệ đúng hạn, tỷ lệ chậm, vấn đề phát sinh) và theo dõi thi đua thông qua hệ thống.
Nhờ cách tiếp cận trên, lãnh đạo Đà Nẵng có thể theo dõi diễn biến hàng ngày ở từng trung tâm (đông hay không, tỷ lệ tồn cao hay thấp), kịp thời điều phối nhân sự và đưa ra giải pháp phù hợp... Từ khi dùng IOC, tỷ lệ giải quyết dịch vụ công đúng hạn tại đây tăng rõ rệt, nhiều phường đạt trên 90%, có nơi gần 100%.
Đột phá nhất là mô hình hành chính công chủ động (hệ thống tự động nhận biết nhu cầu người dân, chủ động cung cấp dịch vụ), được triển khai thử nghiệm tại Quảng Nam cũ, trước khi sáp nhập hai tháng.
Theo đó, Quảng Nam triển khai 8 dịch vụ hành chính công chủ động ở 16 xã, phường. Đơn cử là thí điểm đăng ký khai sinh chủ động tại Bệnh viện đa khoa Quảng Nam. Trước đây khi sinh con, người dân phải mang giấy chứng sinh lên phường để làm giấy khai sinh. Giờ đây, khi bệnh viện cấp giấy chứng sinh, cha mẹ chỉ việc khai căn cước công dân (số định danh).
Bước tiếp theo, hệ thống bệnh viện sẽ tự động kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và gửi tin nhắn đến điện thoại người bố để hỏi tên con dự kiến. Sau khi đặt tên bé và xác nhận qua tin nhắn, hệ thống tự chuyển sang tư pháp hộ tịch để làm giấy khai sinh. Vài ngày sau, giấy này được gửi về tận nhà.
Hiện Đà Nẵng thí điểm 27 dịch vụ hành chính công chủ động, tích hợp công nghệ và đồng bộ để phục vụ người dân lẫn doanh nghiệp, qua đó, chính quyền hai cấp có thể biến thủ tục hành chính thành trải nghiệm số thực thụ.
Nguyễn Tuấn/Báo vnexpress
Quốc hội đã thông qua Luật Chuyển đổi số, tạo lập khung pháp lý thống nhất cho tiến trình xây dựng quốc gia số. Với vai trò là luật khung kết nối các luật chuyên ngành, đạo luật này định hình bức tranh tổng thể về chuyển đổi số của Việt Nam, bảo đảm sự liên thông, hiện đại và an toàn trong toàn bộ hệ thống pháp luật.
Để phát triển kinh tế dữ liệu, các chuyên gia cho rằng cần có phương pháp đo lường, học hỏi một số thị trường đi trước như Mỹ, Trung Quốc, EU.
Tại Hội thảo quốc tế về Kinh tế dữ liệu, do Bộ Công an tổ chức ngày 13/12 tại Hưng Yên, các chuyên gia đưa ra nhiều ý kiến về tầm quan trọng của kinh tế dữ liệu, cùng hướng đi cho ngành này tại Việt Nam.
Nhấn mạnh tầm quan trọng của dữ liệu là yếu tố sản xuất "ngang hàng với đất đai, lao động và vốn", Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương, Giám đốc Trung tâm Dữ liệu Quốc gia, cho rằng quốc gia nào quản trị dữ liệu tốt hơn, khai thác dữ liệu thông minh hơn sẽ nắm lợi thế vượt trội trong cạnh tranh toàn cầu.
"Việt Nam không đứng ngoài xu thế", ông nói, cho biết Việt Nam đang có những bước tiến trong lĩnh vực kinh tế dữ liệu, như xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia hiện đại, an toàn, liên thông; xây dựng và vận hành nhiều nền tảng dữ liệu cốt lõi, đồng thời kêu gọi các chuyên gia, nhà khoa học cùng hợp tác cho các chương trình nghiên cứu chung, đồng hành lâu dài giữa Việt Nam với cộng đồng học thuật toàn cầu trong lĩnh vực kinh tế dữ liệu.
Những hướng phát triển kinh tế dữ liệu
Kinh tế dữ liệu được hiểu là hệ thống kinh tế trong đó dữ liệu là nguồn lực cốt lõi để tạo ra giá trị và đổi mới sáng tạo. Hệ thống này bao gồm các hoạt động thu thập, lưu trữ, chia sẻ và thương mại hóa dữ liệu, từ đó mở ra các mô hình kinh doanh, dịch vụ mới, gia tăng năng lực cạnh tranh trong nhiều lĩnh vực, nhưng đồng thời cũng sẽ đặt ra những câu hỏi về quyền sở hữu, quản trị và phân bổ lợi ích.
Tại hội thảo, một số mô hình phát triển kinh tế dữ liệu và ứng dụng AI được đưa ra phân tích như Mỹ, Trung Quốc và châu Âu. Trong đó, Mỹ được coi là dẫn đầu về đổi mới thương mại, nhưng thiếu một khung pháp lý thống nhất ở cấp liên bang. Trung Quốc triển khai mạnh mẽ các chiến lược dữ liệu tập trung, gắn với luật bản địa hóa nghiêm ngặt, trong khi EU theo đuổi mô hình 'lấy con người làm trung tâm', đặt trọng tâm vào niềm tin, chủ quyền số và khả năng tương tác. Loạt chính sách của EU được nhiều nơi trên thế giới học hỏi, như Đạo luật Quản trị Dữ liệu (DGA), Đạo luật Dữ liệu (Data Act).
Theo PGS Ali Al-Dulaimi, Trưởng khoa Công nghệ và Khoa học Máy tính, Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam (BUV), mỗi mô hình đều có những thế mạnh mà Việt Nam có thể học và rủi ro cần tránh. Chẳng hạn mô hình do thị trường dẫn dắt có thể mang tới tốc độ phát triển nhanh và nguồn vốn mạnh nhờ tư nhân, nhưng sẽ dẫn tới nguy cơ bị thống trị của các tập đoàn công nghệ. Mô hình lấy người dân làm trung tâm giúp xây dựng niềm tin xã hội và đảm bảo công bằng, nhưng đổi lại là quá nhiều rào cản pháp lý.
Từ đây, ông khuyến nghị Việt Nam có thể hình thành một mô hình "lai". "Việt Nam có thể kết hợp vai trò định hướng của Nhà nước, năng lực đổi mới của khu vực tư nhân và các cơ chế bảo vệ người dân", ông nói.
Một trong những thách thức trong phát triển kinh tế dữ liệu và AI là chính sách. Theo Al-Dulaimi, việc Việt Nam xây dựng Luật Trí tuệ nhân tạo với các cấp độ rủi ro có thể là một "điểm ngọt" trong chính sách, khi cân bằng được giữa yêu cầu quản lý mà không kìm hãm sự đổi mới, tạo tiền đề để phát triển kinh tế dữ liệu và sử dụng AI một cách an toàn.
Một hướng tiếp cận khác được GS Trần Ngọc Anh từ Đại học Indiana và Chủ tịch Viện Sáng kiến Việt Nam gợi mở là phát triển nền kinh tế dữ liệu trên ba trụ cột then chốt, gồm: Hạ tầng số như 5G/6G, trung tâm dữ liệu; Nhân lực số về khoa học dữ liệu, AI, an ninh mạng; và Thể chế số, như bảo vệ dữ liệu cá nhân, chia sẻ dữ liệu mở, an ninh mạng, sandbox chính sách.
Ông đưa ra mô hình "Vòng xoáy tạo giá trị 4T" cho dữ liệu, gồm: Thu thập, Tinh luyện, Triển khai, Tái tạo. Trong đó, dữ liệu sử dụng cho AI để tạo sản phẩm, dịch vụ thông minh, tối ưu vận hành và tiếp tục sinh ra dữ liệu mới, mở rộng không ngừng giá trị kinh tế.
Từ kinh nghiệm quốc tế, ông đề xuất tiếp cận hệ sinh thái phối hợp Nhà nước - doanh nghiệp - viện trường - địa phương, trong đó Chính phủ giữ vai trò "tổng nhạc trưởng", xây dựng hạ tầng dữ liệu tin cậy, hệ thống đo lường, sàn giao dịch, hệ sinh thái nhân lực cho dữ liệu.
Đo lường trong kinh tế dữ liệu
Một trong những yếu tố quyết định đến sự phát triển của kinh tế dữ liệu là yêu cầu về đo lường. Theo PGS James Abdey từ Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị London (LSE), dữ liệu đã trở thành tài sản vô hình cốt lõi tạo nên sức cạnh tranh của các nền kinh tế hiện đại, tuy nhiên, việc chưa có hệ thống đo lường đầy đủ khiến phần lớn giá trị kinh tế từ dữ liệu chưa được phản ánh trong GDP.
Điều này khiến năng suất và quy mô kinh tế dữ liệu có thể bị đánh giá thấp, gây khó khăn cho hoạch định chính sách, theo dõi tiến độ chuyển đổi số cũng như thu hút đầu tư. Với Việt Nam, PGS Abdey cho rằng việc thiếu khung đo lường sẽ hạn chế khả năng nhận diện tiềm năng kinh tế dữ liệu, so sánh năng lực cạnh tranh trong khu vực và thu hút vốn đầu tư.
Từ kinh nghiệm của Anh, ông đề xuất Việt Nam xây dựng khuôn khổ đo lường kết hợp chuẩn quốc tế với cách tiếp cận thực tiễn, bắt đầu bằng các chương trình thí điểm ở ba lĩnh vực có cường độ dữ liệu cao - y tế, giáo dục và tài chính, nhằm nhanh chóng tạo minh chứng về giá trị kinh tế trước khi nhân rộng toàn quốc.
Còn theo GS Chu Hoàng Long, Trường Chính sách Công Crawford - Đại học Quốc gia Australia, Việt Nam cần đo lường đồng thời ba nhóm yếu tố: khai thác dữ liệu, cung cấp dữ liệu, và môi trường chính sách - kinh doanh.
Ông gợi ý các đơn vị cung cấp dữ liệu, bên cạnh việc xây dựng hạ tầng dữ liệu mạnh mẽ, cần thúc đẩy chia sẻ dữ liệu thông qua các cơ chế như cổng dữ liệu mở, mạng trao đổi dữ liệu tin cậy, không gian dữ liệu theo ngành. Ngoài ra, cần tạo ra dữ liệu như kho dữ liệu công lớn, các chương trình thu thập dữ liệu, các đơn vị tạo dữ liệu.
GS Trần Ngọc Anh cũng đề xuất lộ trình giai đoạn 2026-2030, Việt Nam cần tập trung hoàn thiện thể chế và đo lường kinh tế dữ liệu, bên cạnh việc thúc đẩy chia sẻ, khung thử nghiệm, mở rộng đào tạo nhân lực AI - dữ liệu, phát triển các hệ sinh thái dữ liệu ngành.
"AI sẽ dẫn dắt kinh tế toàn cầu, nhưng dữ liệu mới là 'nguồn sống' của AI", ông nói. "Nếu phát huy đồng bộ hạ tầng, thể chế, nhân lực, Việt Nam hoàn toàn có thể bứt phá".
Lưu Quý/Báo vnexpress
Nhóm nghiên cứu của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh vừa hoàn thiện nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ xây dựng thể chế, chính sách, mô hình tổ chức bộ máy và phát triển nguồn nhân lực cho tiến trình hình thành Chính phủ số ở Việt Nam, tạo nền tảng khoa học và thực tiễn quan trọng cho mục tiêu đến năm 2030.
Nhiệm vụ "Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ hoàn thiện thể chế, chính sách, tổ chức bộ máy, quy trình nghiệp vụ hành chính phù hợp với Chiến lược phát triển Chính phủ số đến năm 2030" thuộc Chương trình: "Nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ phát triển Chính phủ sổ và đô thị thông minh" (KC. 01/21-30).
Nhiệm vụ nghiên cứu do PGS.TS. Nguyễn Văn Hậu chủ trì, triển khai từ tháng 6/2023 đến tháng 11/2024, hướng vào mục tiêu xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện thể chế, chính sách, tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực phục vụ phát triển Chính phủ số ở Việt Nam đến năm 2030.
Nhiệm vụ đã cung cấp những vấn đề lý luận về thể chế, chính sách, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, các quy trình nghiệp vụ hành chính phục vụ phát triển Chính phủ số ở Việt Nam. Hệ thống báo cáo gồm các bản tổng luận về quản trị nhà nước hiện đại, tác động của công nghệ số đối với bộ máy hành chính và các báo cáo thực trạng về thể chế, chính sách, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, quy trình nghiệp vụ hành chính trong bối cảnh xây dựng và phát triển Chính phủ số.
Từ các phân tích này, nhóm nghiên cứu đưa ra yêu cầu, giải pháp và hướng dẫn cụ thể trong xây dựng thể chế, mô hình tổ chức phù hợp, chuẩn hóa và tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ, đồng thời đề xuất các biện pháp nâng cao năng lực, kỹ năng, tác phong và văn hóa công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức trong môi trường số.
Nhiệm vụ cũng đã hoàn thiện báo cáo đề xuất về yêu cầu, giải pháp đối với xây dựng thể chế và tổ chức bộ máy; báo cáo chuẩn hóa và tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ; báo cáo đề xuất giải pháp phát triển năng lực và văn hóa công vụ.
Về thực tiễn, việc nghiên cứu nhiệm vụ góp phân làm sáng tỏ thực trạng xây dựng Chính phủ điện tử trong mối liên hệ và đặt trong lộ trình phát triên của Chính phủ số về thể chế, chính sách, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, các quy trình nghiệp vụ hành chính, chỉ ra những thành tựu và kết quả đạt được chủ yếu, đặc biệt là chỉ ra những điểm đã và đang thích ứng với yêu cầu phát triển của Chính phủ số, những điểm chưa thích ứng phải hoàn thiện. Đặc biệt, trong bối cảnh sáp nhập theo tinh thần Nghị quyết số 18- NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII, việc nghiên cứu này càng trở nên cấp thiết, hướng đến xây dựng bộ máy Nhà nước tỉnh gọn, hiệu lực và hiệu quả.
Bên cạnh đó, nhiệm vụ cũng nghiên cứu các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong xây dựng và phát triển Chính phủ số ở các quốc gia trên thế giới. Trên cơ sở nguyên tắc, yêu cầu, khung phân tích thể chế, chính sách, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, các quy trình nghiệp vụ hành chính của Chính phủ số, đề xuất được các quan điểm, quy trình nghiệp vụ hành chính của Chính phủ số, đề xuất được các quan điêm, lộ trình và các giải pháp, điều kiện và chỉ dẫn cụ thể trong việc hoàn thiện thể chế, chính sách, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, các quy trình nghiệp vụ hành chính phù hợp với Chiến lược phát triển Chính phủ số ở Việt Nam đến năm 2030, phù hợp với xu thế của thời đại và hội nhập quốc tế.
Nhiệm vụ cũng tham gia vào công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của Học viện thông qua đào tạo thạc sĩ, hỗ trợ đào tạo tiến sĩ và xây dựng các đề cương học phần về Chính phủ số và Văn phòng hiện đại cho giai đoạn 2023–2025. Những sản phẩm này góp phần bổ sung tài liệu giảng dạy, phục vụ đào tạo cán bộ, công chức trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia.
Kết quả nghiên cứu của nhiệm vụ cũng góp phần làm chuyển biển và nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức và người dân về lý luận và thực tiễn vai trò của Chính phủ số, vai trò và giải pháp thu hút và tăng cường sự tham gia của công dân trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật và cung ứng dịch vụ công trực tuyên
Chuyển đổi số đang trở thành một trong những định hướng phát triển lớn của Việt Nam. Trong đó, kinh tế số và đô thị thông minh được xác định là hai trụ cột quan trọng góp phần nâng cao năng lực quản trị, cải thiện chất lượng dịch vụ công và tạo ra động lực tăng trưởng mới. Điều này đặc biệt phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, nhấn mạnh vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nền tảng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững.![]()
Kinh tế số tại Việt Nam đang duy trì mức tăng trưởng cao. Theo Tổng cục Thống kê, năm 2024, kinh tế số chiếm hơn 13,17% GDP, tăng trên 14% so với năm trước; tại TP. Hồ Chí Minh, tỷ trọng đạt 21,5% GRDP và dự kiến tăng lên 25% vào 2025. Các ngành lõi như điện tử, viễn thông, phần mềm đóng vai trò dẫn dắt, chiếm hơn 60% tổng giá trị, tạo nền tảng hạ tầng công nghệ để triển khai đô thị thông minh.
Sự phát triển này cũng được hỗ trợ bởi hành lang pháp lý quan trọng, đặc biệt là Nghị định số 82/2024/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 73/2019/NĐ-CP, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư công nghệ thông tin, khuyến khích mô hình thuê dịch vụ CNTT và tăng hiệu quả vận hành các hệ thống số. Đây là cơ chế mà Nghị quyết 57-NQ/TW yêu cầu tiếp tục mở rộng, nhằm thúc đẩy đầu tư vào hạ tầng số, dữ liệu dân cư, doanh nghiệp và các nền tảng phục vụ phát triển kinh tế số.
Trong lĩnh vực đô thị thông minh, Chính phủ đã ban hành chiến lược đến năm 2030 với mục tiêu hơn 1.000 đô thị đạt chuẩn số hóa và quản trị thông minh. Hạ tầng viễn thông, đặc biệt là mạng 5G theo Quyết định 37/2025/QĐ-TTg, được triển khai để hỗ trợ IoT, dữ liệu thời gian thực và các trung tâm điều hành thông minh (IOC). Tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh, thành, nền tảng dữ liệu dùng chung được xây dựng theo hướng đồng bộ, bảo đảm kết nối liên ngành và an toàn thông tin, đúng với yêu cầu trong Nghị quyết 57 về “thúc đẩy hình thành hệ sinh thái dữ liệu quốc gia và bảo đảm an ninh, an toàn mạng”.
Người dân tiếp tục là trung tâm của quản trị đô thị thông minh. Các nền tảng tương tác như Hue-S tại Thừa Thiên Huế hay tính năng Mạng xã hội Cộng đồng trên iHanoi cho phép người dân gửi phản ánh, theo dõi xử lý và tiếp cận thông tin chính thống từ cơ quan nhà nước. Việc hình thành “thói quen số” giúp người dân chủ động hơn trong đời sống đô thị và nâng cao hiệu quả quản lý xã hội.
Các trung tâm IOC đóng vai trò hạt nhân, quản lý điều hành đô thị, hỗ trợ chính quyền giám sát hạ tầng, phân tích dữ liệu và đưa ra cảnh báo sớm. Công nghệ thông tin biến dữ liệu thành hành động cụ thể như điều tiết giao thông, quản lý chiếu sáng, giám sát môi trường, cảnh báo thiên tai hay tối ưu năng lượng. Những mô hình này phản ánh tinh thần của Nghị quyết 57 về “phát triển đô thị số, chính quyền số và cung cấp dịch vụ công trực tuyến chất lượng cao”.
Mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam đặt kỳ vọng có hơn 1.000 đô thị thông minh, tỷ lệ đô thị hóa vượt 50%, làm chủ các công nghệ chiến lược như AI, 5G, blockchain, robot tự hành; triển khai hạ tầng dữ liệu dùng chung và IOC tại nhiều địa phương; đẩy mạnh nguồn nhân lực số và đổi mới sáng tạo. Đây cũng là những yêu cầu trọng tâm của Nghị quyết 57-NQ/TW nhằm tăng cường nội lực công nghệ, đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển và thu hút đầu tư chất lượng cao.
Việt Nam hiện có lợi thế về quyết tâm chính trị và mô hình hợp tác công, tư, tạo điều kiện huy động nguồn lực xã hội cho phát triển hạ tầng số. Nhiều dự án đô thị thông minh kết hợp giữa Nhà nước – doanh nghiệp – startup đã hình thành mô hình linh hoạt và bền vững. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại các thách thức như thiếu liên thông dữ liệu liên ngành, thiếu nhân lực chất lượng cao, chi phí duy trì hạ tầng lớn, yêu cầu bảo mật ngày càng khắt khe. Nghị quyết 57 cũng chỉ rõ: Phải hoàn thiện khung pháp lý về dữ liệu, bảo đảm an toàn thông tin và nâng cao năng lực quản trị số trong toàn hệ thống.
Kinh tế số và đô thị thông minh, khi được triển khai đồng bộ theo định hướng của Nghị quyết 57-NQ/TW, sẽ tạo động lực quan trọng giúp Việt Nam nâng cao năng suất, hiện đại hóa quản trị và cải thiện chất lượng sống của người dân.
Với sự phát triển của hạ tầng viễn thông, dữ liệu quốc gia, công nghệ nền tảng và đội ngũ nhân lực số, Việt Nam có cơ sở vững chắc để hiện thực hóa mục tiêu hình thành các đô thị thông minh, kết nối, hiệu quả và bền vững vào năm 2030.
Để bảo đảm môi trường số an toàn, minh bạch và cạnh tranh lành mạnh, tại Điều 4, Luật Chuyển đổi số quy định rõ các nhóm hành vi bị nghiêm cấm trong chuyển đổi số, từ can thiệp trái phép vào hệ thống, thu thập và khai thác dữ liệu trái pháp luật đến lạm dụng quyền hạn hoặc trục lợi trên nền tảng số. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng niềm tin số và bảo vệ quyền lợi của người dân, doanh nghiệp và cơ quan Nhà nước.
Trung tâm Truyền thông KH&CN
Luật Chuyển đổi số vừa được Quốc hội thông qua với 433/442 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành đã đánh dấu bước ngoặt trong nỗ lực chuyển đổi số quốc gia. Trong đó, quy định về dịch vụ công trực tuyến toàn trình là một trong những điểm mới quan trọng, thể hiện rõ định hướng lấy người dân làm trung tâm và mục tiêu hiện đại hóa hoạt động của Chính phủ.
Theo quy định tại Điều 32, dịch vụ công trực tuyến toàn trình là nguyên tắc mặc định khi cung cấp thủ tục hành chính của các cơ quan nhà nước. Chỉ trong trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc xảy ra sự cố kỹ thuật chưa thể khắc phục ngay, cơ quan mới được phép cung cấp theo hình thức trực tuyến một phần.
Việc quy định "toàn trình là mặc định" mang ý nghĩa chuyển hẳn từ mô hình hành chính dựa trên giấy tờ sang mô hình dựa trên dữ liệu. Người dân và doanh nghiệp chỉ cần thực hiện các thủ tục qua một kênh duy nhất là Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia mà không phải nộp lại các giấy tờ, thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu của Nhà nước.
Quy trình này cũng thể hiện nguyên tắc "khai báo một lần là mặc định" được nêu trong Luật, nhằm giảm trùng lặp, tiết kiệm thời gian, chi phí cho người dân, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý của cơ quan nhà nước.
Luật Chuyển đổi số cũng quy định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc hướng dẫn, hỗ trợ người dân khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến; công khai quy trình, thời hạn xử lý, kết quả giải quyết thủ tục hành chính.
Một điểm mới đáng chú ý là quy định xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức yêu cầu người dân nộp thêm giấy tờ trong trường hợp hệ thống thông tin đã kết nối, khai thác được dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia hoặc cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Luật cũng nhấn mạnh yêu cầu đánh giá chất lượng dịch vụ công trực tuyến dựa trên khảo sát người sử dụng, kết quả đo lường thực tế và đánh giá độc lập. Việc công khai kết quả đánh giá sẽ giúp tăng tính minh bạch, thúc đẩy các cơ quan cải thiện chất lượng dịch vụ, đảm bảo phục vụ người dân tốt hơn.
Trong Luật Chuyển đối số mới được Quốc hội thông qua, các quy định về dịch vụ công trực tuyến gắn liền với yêu cầu xây dựng Chính phủ số hoạt động toàn trình trên môi trường số. Theo đó, cơ quan nhà nước phải thực hiện toàn bộ hoạt động quản trị nội bộ, chỉ đạo, điều hành, giám sát và kiểm tra trên nền tảng số, trừ các trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định khác.
Mọi hoạt động chỉ đạo, điều hành ra quyết định sẽ dựa trên dữ liệu số đầy đủ, chính xác, kịp thời. Quy trình nghiệp vụ phải được rà soát, chuẩn hóa, tái cấu trúc trước khi số hóa, nhằm bảo đảm tinh gọn, tăng tính tự động hóa và không yêu cầu cá nhân, tổ chức cung cấp lại thông tin đã hợp lệ.
Điều này đánh dấu sự chuyển đổi căn bản trong mô hình vận hành của bộ máy hành chính, chuyển hẳn sang ra quyết định dựa trên dữ liệu số, góp phần nâng cao năng lực quản trị công, nâng cao hiệu quả phục vụ.
Để dịch vụ công trực tuyến toàn trình được triển khai hiệu quả, Luật yêu cầu thống nhất nền tảng kỹ thuật từ trung ương đến địa phương, sử dụng các hệ thống kết nối mở, bảo đảm khả năng tích hợp và liên thông dữ liệu giữa các cơ quan.
Bên cạnh đó, việc đảm bảo an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư của người sử dụng được đặt làm nguyên tắc xuyên suốt. Luật khuyến khích áp dụng các công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao mức độ an toàn, đồng thời tăng cường trách nhiệm giải trình trong mọi quyết định dựa trên công nghệ nhằm nâng cao niềm tin của người sử dụng.
Niềm tin của người dân là yếu tố quyết định thành công của chuyển đổi số. Khi các dịch vụ công trực tuyến trở nên thuận tiện, an toàn và đáng tin cậy, người dân sẽ chủ động tham gia, từ đó hình thành một xã hội số hoạt động hiệu quả.
Việc đưa quy định "dịch vụ công trực tuyến toàn trình" vào Luật Chuyển đổi số thể hiện rõ quyết tâm của Nhà nước trong việc xây dựng Chính phủ số phục vụ người dân và doanh nghiệp. Đây không chỉ là cải cách về thủ tục, mà là sự thay đổi căn bản trong tư duy quản lý và cách thức cung cấp dịch vụ công.
Quá trình đô thị hoá nhanh đòi hỏi các địa phương phải đổi mới mô hình quản trị, nâng cao năng lực vận hành hạ tầng và cung cấp dịch vụ công dựa trên dữ liệu và công nghệ số. Định hướng này phù hợp tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, trong đó nhấn mạnh yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số như động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao hiệu quả quản lý đô thị và chất lượng cuộc sống người dân.
![]()
Tại Hà Nội, việc triển khai hàng nghìn camera AI kết hợp hệ thống đèn tín hiệu thông minh là ví dụ rõ nét cho việc ứng dụng công nghệ trong giải quyết vấn đề dân sinh.
Giai đoạn 2025 - 2030, việc phát triển đô thị thông minh được ưu tiên triển khai tại các thành phố lớn, tiến tới mở rộng toàn quốc. Mục tiêu là xây dựng mô hình quản trị dựa trên dữ liệu thời gian thực, tự động hóa các quy trình vận hành, tăng tính minh bạch và nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ công.
Tại Hà Nội, việc triển khai hàng nghìn camera AI kết hợp hệ thống đèn tín hiệu thông minh là ví dụ rõ nét cho việc ứng dụng công nghệ trong giải quyết vấn đề dân sinh. Hệ thống có khả năng nhận diện vi phạm, cảnh báo ùn tắc và tự động điều chỉnh chu kỳ đèn theo lưu lượng giao thông, giúp giảm áp lực điều tiết thủ công và tăng hiệu quả quản lý.
Khi dữ liệu từ camera, cảm biến môi trường, hệ thống an ninh và các thiết bị IoT được tích hợp, đô thị hình thành một “bảng điều khiển số” hỗ trợ cơ quan quản lý theo dõi chất lượng không khí, dự báo nguy cơ ô nhiễm và điều chỉnh kế hoạch vận hành phù hợp. Đây cũng là một trong những nội dung được Nghị quyết 57 yêu cầu: Xây dựng hạ tầng dữ liệu, thúc đẩy chia sẻ dữ liệu giữa các ngành, các cấp để phục vụ điều hành phát triển kinh tế, xã hội.
Trung tâm điều hành đô thị thông minh (IOC) là hạt nhân của mô hình đô thị số. IOC cho phép tích hợp dữ liệu từ giao thông, giáo dục, y tế, an ninh, dịch vụ công và phản ánh hiện trường; hỗ trợ phân tích, dự báo và cảnh báo theo thời gian thực. Nhiều địa phương như Huế, Đà Nẵng cho thấy việc vận hành IOC đã rút ngắn thời gian xử lý phản ánh, cải thiện chất lượng quản trị và nâng cao mức độ hài lòng của người dân.
![]()
Trung tâm IOC tại Hà Nội.
Dữ liệu cũng được ứng dụng sâu vào các hạ tầng thiết yếu. Hệ thống chiếu sáng công cộng điều khiển tự động theo lưu lượng phương tiện giúp tiết kiệm năng lượng; thu gom rác thải theo định vị GPS tối ưu quãng đường và giảm chi phí; y tế áp dụng hồ sơ bệnh án điện tử, đặt lịch khám trực tuyến và thanh toán không tiền mặt. Công nghệ mô phỏng 3D và bản sao số (digital twin) hỗ trợ mạnh mẽ trong quy hoạch, đánh giá tác động của các dự án lên giao thông, thoát nước và môi trường, phù hợp chủ trương của Nghị quyết 57 về phát triển hệ thống hạ tầng số và đô thị số thông minh, bền vững.
Tuy vậy, phát triển đô thị thông minh vẫn đối mặt nhiều thách thức: Thiếu dữ liệu chuẩn hóa, hệ thống cũ khó tích hợp, hạ tầng công nghệ tại cấp cơ sở còn yếu, năng lực bảo đảm an toàn thông tin chưa đáp ứng yêu cầu khi khối lượng dữ liệu nhạy cảm tăng nhanh. Thực tế khảo sát tại một số địa phương cho thấy dù tỷ lệ hồ sơ trực tuyến cao, nhưng kết nối dữ liệu giữa các cơ quan còn thiếu liền mạch, và một số nền tảng dịch vụ công chưa vận hành ổn định.
Theo định hướng của Nghị quyết 57-NQ/TW, để phát triển đô thị thông minh bền vững, các địa phương cần hoàn thiện khung pháp lý về đô thị số; thiết lập tiêu chuẩn chia sẻ dữ liệu; tăng cường hợp tác công, tư trong đầu tư hạ tầng công nghệ; bảo đảm an toàn thông tin; và chú trọng đào tạo đội ngũ nhân lực quản trị đô thị số. Việc ứng dụng công nghệ sẽ không chỉ hỗ trợ quản lý đô thị hiệu quả hơn mà còn tạo nền tảng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế đô thị và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.