SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nâng cao hiệu quả thực hiện EPR: giải pháp cho doanh nghiệp sản xuất bao bì nhựa

23-01-2026
Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM vừa tổ chức Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ (KH&CN) "Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) của các doanh nghiệp sản xuất bao bì nhựa tại Thành phố Hồ Chí Minh".

Nhiệm vụ do ThS. Trịnh Thị Minh Châu làm chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM là cơ quan chủ trì, được thực hiện với mục tiêu đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp giúp nâng cao hiệu quả thực hiện EPR cho các doanh nghiệp sản xuất bao bì nhựa tại TP.HCM, góp phần giảm phát thải nhựa trên địa bàn Thành phố trong tương lai.

07KQNCLVntdtEPRh6ok.jpg

Đại diện nhóm nghiên cứu trình bày báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ   

Theo nhóm nghiên cứu, cơ sở pháp lý cho EPR được đề cập tại Luật Bảo vệ Môi trường (BVMT) năm 2020, với cách tiếp cận hoàn toàn mới - dưới góc độ là một công cụ kinh tế. Cụ thể, Luật BVMT năm 2020 quy định hai nội dung về EPR: trách nhiệm tái chế của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu (Điều 54); trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu (Điều 55). Các nội dung về đối tượng, lộ trình, cách thức triển khai EPR tại Việt Nam được hướng dẫn cụ thể trong Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/1/2022 của Chính phủ; theo đó, đối với bao bì nhựa, lộ trình thực hiện EPR bắt đầu từ ngày 01/1/2024.

Tại TP.HCM, trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, thách thức từ rác thải nhựa vẫn rất lớn với khối lượng thải ra khoảng 1.800 tấn mỗi ngày, nhưng tỷ lệ tái chế chỉ đạt khoảng 27%. Thực tế triển khai EPR tại địa phương còn đối mặt với nhiều rào cản từ nhận thức doanh nghiệp, chi phí đầu tư đến hạ tầng tái chế.

Trong nhiệm vụ này, nhóm nghiên cứu đã triển khai 5 nội dung chính, bao gồm: nghiên cứu tổng quan cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế; phân tích cơ sở pháp lý về EPR tại Việt Nam; đánh giá thực trạng thực hiện EPR tại các doanh nghiệp bao bì nhựa TP.HCM; xác định các "điểm nghẽn" rào cản; đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi.

Theo đó, nhóm đã tiến hành khảo sát 86 doanh nghiệp để đánh giá thực trạng triển khai EPR và hiệu quả thực hiện chính sách EPR đối với bao bì nhựa tại TPHCM. Kết quả khảo sát cho thấy, 61,6% doanh nghiệp đã hiểu khái niệm cơ bản về EPR, 38,4% đối tượng khảo sát cho biết đã được học tập và đào tạo về EPR. Các doanh nghiệp lớn đã bắt đầu thực hiện các chương trình tái chế, nhưng khối doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn gặp khó khăn do thiếu nguồn lực và hướng dẫn cụ thể. Ngoài ra, 66,3% doanh nghiệp được khảo sát đánh giá EPR đóng vai trò rất quan trọng và quan trọng đối với môi trường và nền kinh tế; 65,1% doanh nghiệp rất quan tâm và quan tâm đối với nhu cầu đào tạo về EPR. Hình thức đào đạo được các doanh nghiệp quan tâm là tư vấn chuyên nghiệp tại doanh nghiệp, tham gia các buổi hội thảo/tọa đàm; nội dung đào tạo liên quan đến EPR gồm: tính toán chi phí, thiết lập, quản lý hệ thống thu gom sản phẩm đã qua sử dụng, các chính sách hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp thực hiện EPR, giải pháp công nghệ và đổi mới trong lĩnh vực tái chế…

Nhóm cũng xây dựng và hiệu chỉnh bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện EPR dựa trên các khía cạnh: tỷ lệ thu hồi bao bì sau sử dụng; tỷ lệ tái chế chất thải bao bì; mức giảm phát thải CO2 sau khi thực hiện EPR; chi phí sản xuất và chi phí thực hiện EPR của doanh nghiệp. Đồng thời phân tích đánh giá các điểm nghẽn và chỉ ra những hạn chế cốt lõi của chính sách EPR khi triển khai áp dụng đối với bao bì nhựa, bao gồm hạn chế về thể chế - tổ chức; hạn chế về kinh tế, tài chính, cơ sở hạ tầng, sự phối hợp và tham gia của các bên liên quan.

Theo đó, chính sách đã thành công trong việc nâng cao nhận thức và thay đổi tư duy quản trị trong nội bộ doanh nghiệp, buộc họ phải xem xét lại quy trình và thiết kế sản phẩm theo hướng bền vững hơn để giảm thiểu chất thải và tăng cường thu hồi. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế của việc thực hiện EPR còn hạn chế do gặp phải hàng loạt rào cản, tập trung vào 4 nhóm vấn đề chính: việc áp dụng các yêu cầu tối thiểu của EPR (tỷ lệ thu hồi, tái chế, đăng ký, báo cáo) đã tạo ra tác động rõ rệt, chủ yếu là gia tăng áp lực tài chính và quản lý; hạ tầng thu gom và tái chế chưa đồng bộ, chưa được đầu tư bài bản, công nghệ tái chế chưa hiện đại, thiếu hụt các điểm thu gom; khung pháp lý về EPR còn nhiều hạn chế, thiếu tính đồng bộ, thiếu các hướng dẫn kỹ thuật chi tiết; tồn tại sự không đồng đều trong phân chia trách nhiệm thực hiện EPR giữa nhà sản xuất và các bên liên quan… 

Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện EPR cho các doanh nghiệp sản xuất bao bì nhựa phù hợp với điều kiện TP.HCM, cụ thể như hoàn thiện khung pháp lý, xây dựng cơ chế quản lý, giám sát, vận hành EPR tại TP.HCM; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu EPR liên thông, cơ chế chính sách điều chỉnh mức phí đóng góp vào Quỹ BVMT Việt Nam theo mức độ thân thiện với môi trường của bao bì nhựa...

Về kinh tế - tài chính, minh bạch nguồn thu chi từ Quỹ BVMT Việt Nam cho hoạt động tái chế tại địa phương, có các chính sách hỗ trợ riêng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Về cơ sở hạ tầng, phát triển hệ thống hạ tầng thu gom, phân loại tại nguồn và hợp thức hóa vai trò của khu vực phi chính thức thông qua việc ký kết hợp đồng với các hợp tác xã, tổ nhóm thu gom. Bên cạnh đó, đẩy mạnh tuyên truyền thay đổi thói quen phân loại rác của người tiêu dùng và khuyến khích sử dụng sản phẩm bao bì tái chế; áp dụng mô hình đồng điều tiết trong thực hiện EPR; thúc đẩy trách nhiệm của các bên liên quan như Nhà nước, doanh nghiệp, doanh nghiệp tái chế và dịch vụ môi trường, người tiêu dùng…

07KQNCLVntdtEPRh1.jpg

Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ tại Sở KH&CN TP.HCM ngày 23/1/2026

Kết quả nghiên cứu được đánh giá có ý nghĩa đóng góp vào hệ thống lý luận về EPR, cung cấp bộ chỉ số đánh giá thực tiễn cho cơ quan quản lý. Các giải pháp đề xuất có thể trực tiếp hỗ trợ trong việc vận hành, giám sát lộ trình EPR. Việc triển khai hiệu quả EPR sẽ góp phần giảm áp lực cho ngân sách Thành phố trong công tác thu gom, xử lý chất thải, hình thành thị trường tái chế minh bạch, gắn với bảo vệ môi trường, bảo vệ sinh kế cho những người lao động thu gom tự do, hướng tới mục tiêu xây dựng TP.HCM trở thành đô thị xanh và phát triển bền vững.

Lam Vân (CISAST)


Bản quyền © 2018 Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Thiết kế và phát triển bởi HCMGIS
Tổng số truy cập: 11537424