TP.HCM triển khai Chương trình phát triển Chính phủ số, hướng tới quản trị dựa trên dữ liệu và AI
14-04-2026UBND TP.HCM vừa ban hành Kế hoạch số 129/KH-UBND ngày 06/4/2026 triển khai Quyết định số 2629/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình phát triển Chính phủ số, đặt mục tiêu đến năm 2030 sẽ vận hành một chính quyền số hoàn chỉnh trên nền tảng dữ liệu và Trí tuệ nhân tạo (AI).
Theo kế hoạch, TP.HCM xác định mục tiêu tổng quát đến năm 2030 Thành phố phát triển chính quyền số vận hành trên nền tảng dữ liệu và trí tuệ nhân tạo, hướng tới mô hình quản trị chủ động dự báo lấy người dùng làm trung tâm phục vụ. Các hoạt động cơ bản của cơ quan nhà nước được vận hành trên các nền tảng số, thống nhất và liên thông; đồng thời đảm bảo an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Trí tuệ nhân tạo sẽ trở thành công cụ cốt lõi trong quản trị công, cung cấp dịch vụ công và hỗ trợ ra quyết định chính sách, góp phần nâng cao trải nghiệm người dân, doanh nghiệp và hiệu quả điều hành.
Kế hoạch cũng tập trung định hướng xây dựng chính quyền số theo hướng vận hành đồng bộ, hiện đại và dựa trên dữ liệu. Trọng tâm là hoàn thiện hệ thống nền tảng số dùng chung, bảo đảm kết nối, liên thông giữa các cơ quan, đơn vị từ Thành phố đến cơ sở, qua đó nâng cao hiệu quả phối hợp và xử lý công việc trên môi trường điện tử.
Thành phố xác định triển khai đồng bộ 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển chính quyền số, cụ thể:
+ Về hoàn thiện thể chế, Thành phố tập trung cập nhật, duy trì, giám sát và quản lý Khung kiến trúc số và quản trị dữ liệu, đồng thời xây dựng, hoàn thiện các quy định, chính sách và tiêu chuẩn kỹ thuật phục vụ phát triển chính quyền số.
App mô hình chính quyền số TP. Hồ Chí Minh. Ảnh: Quang Phương
+ Đối với dữ liệu số, Thành phố tập trung xây dựng, hoàn thiện 13 cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia, chuyên ngành trọng điểm ưu tiên triển khai bắt buộc phải kết nối, chia sẻ trong hệ thống chính trị. Sau đó, tiếp tục mở rộng ra phát triển các CSDL chuyên ngành khác. Tập trung số hóa dữ liệu, khai thác tái sử dụng dữ liệu để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC), trọng tâm là lĩnh vực tư pháp, giáo dục, y tế, đất đai…
+ Với nhóm phát triển các ứng dụng, nền tảng số, thành phố sẽ duy trì sử dụng hệ thống thông tin giải quyết TTHC của các bộ, ngành và hệ thống thông tin giải quyết TTHC thành phố trong tiếp nhận và giải quyết TTHC; kết nối Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Giao diện của app ứng dụng công dân số TP.HCM. Ảnh: Quang Phương
+ Về phát triển hạ tầng số, Thành phố triển khai mở rộng mạng viễn thông, thúc đẩy phát triển 5G, IoT và nghiên cứu các công nghệ mới; duy trì, kết nối trung tâm dữ liệu với hệ thống dữ liệu quốc gia. Đồng thời, bảo đảm hạ tầng mạng và trang thiết bị phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà nước được vận hành ổn định, hiệu quả.
+ Về nhân lực số, Thành phố chú trọng phát triển thông qua bố trí nhân sự chuyên trách về công nghệ thông tin và chuyển đổi số tại các cơ quan, đơn vị; đồng thời triển khai hiệu quả phong trào “Bình dân học vụ số” và hoạt động của các Tổ công nghệ số cộng đồng. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn chuyển đổi số cho cán bộ, công chức, viên chức; đưa nội dung phổ cập kỹ năng số, an ninh mạng, trí tuệ nhân tạo dựa trên các nền tảng mở, phần mềm nguồn mở vào chương trình giảng dạy từ cấp tiểu học.
Với định hướng rõ ràng và giải pháp đồng bộ, Thành phố đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu xây dựng chính quyền số hiện đại, vận hành hiệu quả trên nền tảng dữ liệu và công nghệ số. Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.
|
Thành phố đặt ra các mục tiêu cụ thể trong giai đoạn từ năm 2027-2030: Về phát triển dịch vụ số: + Đến năm 2027: 100% dịch vụ công trực tuyến toàn trình trên tổng số thủ tục hành chính có đủ điều kiện; 100% thông tin, giấy tờ, tài liệu trong các thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh chỉ cung cấp một lần cho cơ quan hành chính nhà nước; 95% người dân, doanh nghiệp đánh giá hài lòng khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến. + Đến năm 2030: 99% người dân, doanh nghiệp đánh giá hài lòng khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến; Triển khai 50% dịch vụ công trực tuyến thiết yếu ở mức chủ động, có trí tuệ nhân tạo (AI) hỗ trợ “cá thể hóa”, thông báo hoặc gợi ý hành động theo các mốc sự kiện quan trọng trong cuộc đời; 100% cơ quan nhà nước cung cấp dữ liệu mở đúng chuẩn; 100% hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính được số hóa; 80% thông tin, dữ liệu đã được số hóa trong giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công được khai thác, sử dụng lại. Về nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành dựa trên dữ liệu: + Đến năm 2027: 100% các nền tảng số của Thành phố, nền tảng số dùng chung của ngành, lĩnh vực phục vụ Chính quyền số được hoàn thành và đưa vào sử dụng thống nhất từ Thành phố đến cấp xã theo đúng kế hoạch; 100% hồ sơ công việc tại cấp Thành phố, cấp xã được xử lý trên môi trường điện tử và sử dụng chữ ký số cá nhân trong giải quyết công việc (trừ hồ sơ thuộc phạm vi bí mật nhà nước); 100% chế độ báo cáo của các cơ quan được thực hiện trên Hệ thống thông tin báo cáo; 100% nhiệm vụ UBND Thành phố, Chủ tịch UBND Thành phố giao cho các sở, ban, ngành và địa phương được theo dõi, giám sát, đánh giá trên môi trường điện tử; 100% các sở, ban, ngành đạt cấp độ 3 mức độ trưởng thành về quản trị dữ liệu; 100% cán bộ, công chức, viên chức được đào tạo kỹ năng số cơ bản; 50% cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin, chuyển đổi số được đào tạo đạt chứng chỉ quản trị dữ liệu cơ bản. + Đến năm 2030 với mục tiêu: 100% các sở, ban, ngành đạt cấp độ 4 và 90% đạt cấp độ 5 mức độ trưởng thành về quản trị dữ liệu; 100% cán bộ chuyên trách về công nghệ thông tin, chuyển đổi số được đào tạo đạt chứng chỉ quản trị dữ liệu cơ bản; 100% hệ thống thông tin được kết nối, chia sẻ dữ liệu qua dịch vụ chia sẻ dữ liệu; 100% cơ quan, tổ chức sử dụng ít nhất 01 ứng dụng AI để phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành; 25% đội ngũ lãnh đạo của từng cơ quan, tổ chức có chuyên môn, kinh nghiệm về khoa học, kỹ thuật, chuyển đổi số phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ; 100% hệ thống thông tin phục vụ phát triển Chính quyền số được phê duyệt hồ sơ bảo đảm an ninh mạng theo cấp độ trước khi đưa vào vận hành và được kiểm tra, đánh giá an ninh mạng định kỳ. |
Nguyễn Tuyết