TP. Hồ Chí Minh đề xuất giải pháp chủ động phòng ngừa sự cố môi trường tại các hệ thống xử lý nước thải công nghiệp
11-07-2026Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh vừa tổ chức Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ nghiên cứu về đánh giá rủi ro sự cố môi trường liên quan đến hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các khu chế xuất, khu công nghiệp. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung cơ sở khoa học và đề xuất các giải pháp giúp chủ động phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường trong thực tiễn.
Theo nhóm nghiên cứu, TP. Hồ Chí Minh hiện có 17 khu chế xuất (KCX) và khu công nghiệp (KCN) đang hoạt động với 19 hệ thống xử lý nước thải tập trung (XLNTTT), tổng công suất thiết kế khoảng 100.000 m³/ngày đêm. Mặc dù các hệ thống đều vận hành ổn định và đáp ứng quy chuẩn xả thải hiện hành, nguy cơ xảy ra sự cố môi trường vẫn hiện hữu do thiết bị vận hành liên tục, có thể bị "lão hóa", phát sinh lỗi hệ thống quan trắc hoặc tình trạng "sốc tải"…
PGS.TS. Vũ Văn Nghị, đại diện nhóm nghiên cứu trình bày các kết quả thực hiện nhiệm vụ
Nhiệm vụ "Nghiên cứu, đánh giá mức độ, quy mô, phạm vi tác động của các sự cố môi trường liên quan đến hệ thống xử lý nước thải tập trung của các khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh đến nguồn tiếp nhận và đề xuất các giải pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố và phục hồi môi trường có hiệu quả" do Viện Khoa học và Đổi mới Công nghệ chủ trì thực hiện, PGS.TS. Vũ Văn Nghị làm chủ nhiệm.
Mục tiêu của nhiệm vụ là nhận diện và lượng hóa rủi ro sự cố môi trường, đánh giá mức độ tác động đến nguồn tiếp nhận và đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp với điều kiện thực tế của TP. Hồ Chí Minh. Nhóm đã tiến hành các nội dung nghiên cứu tổng quan về sự cố môi trường từ hệ thống XLNTTT của KCX, KCN; khảo sát và đánh giá hiện trạng, nhận diện những rủi ro khi xảy ra sự cố đối với hệ thống XLNTTT; mô phỏng các kịch bản sự cố; đồng thời đề xuất giải pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố và phục hồi môi trường, xây dựng mô hình thí điểm nhằm kiểm chứng khả năng áp dụng trong thực tế.

Hình ảnh triển khai nội dung nghiên cứu: khảo sát thực địa hệ thống XLNTTT
Đại diện nhóm nghiên cứu cho biết, một trong những kết quả nổi bật của nhiệm vụ là xây dựng thành công bộ tiêu chí đánh giá chỉ số sự cố môi trường (EII) gồm ba nhóm tiêu chí: hiểm họa, phơi nhiễm và tính dễ bị tổn thương. Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đã phân hạng mức độ rủi ro đối với 19 hệ thống XLNTTT, gồm 5 hệ thống có mức rủi ro thấp, 7 hệ thống rủi ro trung bình và 7 hệ thống rủi ro cao. Kết quả này tạo cơ sở để cơ quan quản lý và đơn vị vận hành chủ động xây dựng kế hoạch giám sát, kiểm tra và lựa chọn giải pháp phòng ngừa phù hợp với từng hệ thống.
Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu áp dụng mô hình MIKE 11 để mô phỏng các kịch bản lan truyền chất ô nhiễm khi xảy ra sự cố môi trường. Kết quả cho thấy nồng độ các chất ô nhiễm tăng mạnh trong khoảng 12 giờ đầu và phạm vi ảnh hưởng trong một số kịch bản có thể lan xa tới 12,3 km, qua đó cung cấp cơ sở khoa học phục vụ xây dựng phương án ứng phó khẩn cấp. Kết quả nghiên cứu cũng góp phần định hướng chuyển từ phương thức xử lý sự cố mang tính bị động sang chủ động nhận diện nguy cơ và phòng ngừa từ sớm.
Trên cơ sở kết quả đánh giá rủi ro, nhiệm vụ đề xuất hệ thống giải pháp gồm 17 giải pháp phi công trình và 12 giải pháp công trình phù hợp với điều kiện vận hành thực tế tại các trạm XLNTTT. Các giải pháp này tập trung hoàn thiện quy trình quản lý, tăng cường giám sát và ứng dụng công nghệ thông minh trong theo dõi vận hành; bổ sung các hạng mục kỹ thuật như bể điều hòa, hồ sự cố và các công trình dự phòng nhằm giảm thiểu rủi ro khi xảy ra sự cố.
Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ được Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh tổ chức ngày 09/7/2026
Đáng chú ý, nhóm nghiên cứu đã xây dựng hai mô hình thí điểm tại Khu chế xuất Linh Trung I và Khu công nghiệp Lê Minh Xuân, đại diện cho hai hướng tiếp cận phi công trình và công trình. Với mô hình phi công trình, nhóm nghiên cứu đề xuất quy trình vận hành tận dụng tối đa dung tích các bể hiện hữu để lưu giữ nước thải trong thời gian xảy ra sự cố mà không phải đầu tư xây dựng mới. Trong khi đó, mô hình công trình đề xuất bổ sung hồ sự cố chuyên dụng kết hợp hệ thống giám sát và điều khiển tự động nhằm nâng cao khả năng kiểm soát, lưu giữ và tái xử lý nước thải. Hai mô hình đều hướng tới nguyên tắc không xả thải trong thời gian xảy ra sự cố, tăng khả năng phục hồi hệ thống, đồng thời tạo cơ sở để nghiên cứu nhân rộng tại các KCX, KCN có điều kiện tương đồng.
Thành viên hội đồng nhận xét, đánh giá kết quả nghiên cứu
Hội đồng nghiệm thu đánh giá nhiệm vụ được triển khai công phu, bám sát yêu cầu thực tiễn của TP. Hồ Chí Minh, đặc biệt là việc xây dựng được cơ sở dữ liệu phục vụ đánh giá rủi ro và lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các sự cố môi trường liên quan đến nước thải công nghiệp. Khung kế hoạch phòng ngừa, ứng phó và phục hồi môi trường được đề xuất theo quy định hiện hành, đáp ứng yêu cầu triển khai tại các KCX, KCN. Kết quả nghiên cứu được nhận định có giá trị khoa học và thực tiễn, góp phần bổ sung công cụ hỗ trợ cơ quan quản lý và đơn vị vận hành chủ động nhận diện nguy cơ, xác định các biện pháp kiểm soát rủi ro và xây dựng phương án phòng ngừa, ứng phó phù hợp.
Lam Vân