TP. Hồ Chí Minh hoàn thiện cơ sở khoa học và thực tiễn, hướng đến cấp nước uống trực tiếp tại vòi
09-07-2026Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh vừa tổ chức Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ "Nghiên cứu xây dựng quy chuẩn nước uống trực tiếp tại vòi trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh" do Trung tâm Công nghệ Môi trường (ENTEC) chủ trì thực hiện, TS. Phùng Anh Đức làm chủ nhiệm.
Kết quả nghiên cứu đã cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ đề xuất quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng nước uống trực tiếp tại vòi (NUTTTV), góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng nước, đáp ứng yêu cầu phát triển hệ thống cấp nước đô thị và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Theo nhóm nghiên cứu, mô hình cấp nước đô thị đạt chuẩn cho phép người dân uống trực tiếp tại vòi mới chỉ xuất hiện vài năm trở lại đây ở Việt Nam. Trong đó, TP. Hồ Chí Minh đã từng bước triển khai các điểm cấp nước uống trực tiếp tại một số không gian công cộng theo Quyết định số 205/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố. Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam mới có quy chuẩn QCVN 01-1:2024/BYT cho nước sạch sinh hoạt và QCVN 6-1:2010/BYT cho nước uống đóng chai/nước khoáng, chưa có quy chuẩn riêng đối với NUTTTV. Điều này dẫn đến khoảng trống trong công tác quản lý, giám sát chất lượng nước tại điểm sử dụng cũng như thiếu cơ sở thống nhất để đánh giá mức độ an toàn và triển khai rộng rãi mô hình cấp nước này.
Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ do Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh tổ chức
Nhiệm vụ nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xây dựng cơ sở khoa học làm căn cứ đánh giá chất lượng nước uống trực tiếp phục vụ công tác nâng cao chất lượng nước, hướng đến NUTTTV; đề xuất bộ quy chuẩn NUTTTV trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành các nội dung đánh giá, phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam về tiêu chuẩn, quy chuẩn NUTTTV; xác định các thông số giám sát chất lượng NUTTTV trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh trên cơ sở kết quả phân tích chất lượng nước phục vụ cho các nhà máy cấp nước, nước máy từ năm 2017 - 2024; đánh giá bổ sung chất lượng nước sinh hoạt và chất lượng nước uống trực tiếp tại vòi; xây dựng quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng NUTTTV phù hợp với điều kiện thực tế TP. Hồ Chí Minh; đề xuất các công cụ pháp lý, kinh tế, giải pháp kỹ thuật và truyền thông, tăng cường năng lực nhằm đảm bảo chất lượng nước uống tại vòi trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
Theo đó, nhiệm vụ đã phân tích dữ liệu gồm 5.146 mẫu nước sạch được thu thập trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2017 - 2024; đồng thời tiến hành lấy mẫu và phân tích bổ sung 80 mẫu nước tại các vòi nước và trụ nước công cộng trong cả mùa khô và mùa mưa. Trên cơ sở các dữ liệu này, nhóm nghiên cứu áp dụng các phương pháp QMRA (đánh giá rủi ro vi sinh định lượng) và AHP (phân tích thứ bậc) để xác định các thông số cần giám sát, bảo đảm các đề xuất được xây dựng trên cơ sở dữ liệu thực chứng và phù hợp với điều kiện hạ tầng cấp nước của Thành phố.
Kết quả đã đề xuất danh mục gồm 31 thông số giám sát chất lượng NUTTTV, thuộc 5 nhóm thông số chính: nhóm vi sinh vật (4 chỉ tiêu); nhóm vô cơ ưu tiên cao (4 chỉ tiêu); nhóm kim loại ưu tiên cao (5 chỉ tiêu); nhóm hóa chất hữu cơ và sản phẩm phụ khử trùng (14 chỉ tiêu); nhóm cảm quan và hóa học (4 chỉ tiêu). Kết quả nhiệm vụ cũng xây dựng dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng nước uống trực tiếp tại vòi, trong đó đề xuất các giới hạn đối với từng thông số chất lượng nước và các yêu cầu quản lý tương ứng. Đồng thời đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng NUTTTV trong thời gian tới. Các giải pháp tập trung vào nâng cấp công nghệ xử lý nước hiện hữu; bổ sung công nghệ xử lý nâng cao như ozon, than hoạt tính, màng UF/NF/RO, và UV; tăng cường giám sát chất lượng trên mạng lưới cấp nước, đảm bảo chất lượng tại điểm sử dụng; hoàn thiện các công cụ pháp lý và cơ chế quản lý, đẩy mạnh công khai thông tin chất lượng nước để nâng cao niềm tin của người dân đối với việc sử dụng nước uống trực tiếp tại vòi…

Hình ảnh triển khai nội dung nghiên cứu nhằm xây dựng dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng NUTTTV
Theo nhóm nghiên cứu, các giới hạn tối đa cho phép (MDL) quy định tại QCVN 01-1:2024/BYT được xác định là phù hợp để áp dụng cho mục tiêu NUTTTV trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Các ngưỡng này vừa đảm bảo sự hài hòa giữa yêu cầu bảo vệ sức khỏe cộng đồng và tính khả thi về công nghệ, kinh tế của hệ thống cấp nước hiện hữu, vừa tương thích với tiêu chuẩn quốc tế (WHO, US EPA, EU). Việc tuân thủ các ngưỡng này giúp kiểm soát hiệu quả rủi ro mà không gây áp lực không cần thiết lên quy trình vận hành và chi phí xử lý nước. Đối với nhóm vi sinh vật như E. coli, Coliform và Trực khuẩn mủ xanh có giới hạn < 1 CFU/100ml (tương đương không phát hiện) là hoàn toàn đồng nhất với nguyên tắc "Zero Tolerance" (Không chấp nhận rủi ro) của WHO và các tiêu chuẩn quốc tế.
Về lộ trình phát triển hệ thống NUTTTV ở TP. Hồ Chí Minh, nhiệm vụ đề xuất theo 3 giai đoạn: ngắn hạn (tập trung tối ưu công nghệ hiện có, kiểm soát clo dư, cải thiện vận hành mạng lưới…); trung hạn (bổ sung các công nghệ xử lý nâng cao, mở rộng hệ thống giám sát các chất ô nhiễm mới nổi và DBPs); dài hạn hướng tới xây dựng hệ thống đa lớp tích hợp công nghệ tiên tiến, kiểm soát toàn diện các chất ô nhiễm, ứng dụng giám sát thông minh và công khai dữ liệu nhằm đảm bảo an toàn, minh bạch…
Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ tại Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh ngày 07/7/2026
Hội đồng nghiệm thu đánh giá nhiệm vụ đã hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu đề ra, cung cấp được cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ việc xây dựng quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng NUTTTV. Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng nước khi đề xuất các thông số giám sát, ngưỡng giới hạn và các đề xuất quản lý được xây dựng trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, đồng thời bám sát điều kiện nguồn nước, hạ tầng cấp nước và đặc điểm quản lý của TP. Hồ Chí Minh. Các sản phẩm nghiên cứu có khả năng ứng dụng cụ thể nhằm triển khai theo Quyết định số 205/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh, trong đó có kế hoạch lắp đặt từ 1.500 - 2.000 vị trí nước uống trực tiếp tại vòi theo đề xuất của UBND các phường/xã.
Lam Vân