Từ đáp ứng tiêu chuẩn đến kiến tạo chuẩn mực: tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt
16-10-2026Khi lợi thế cạnh tranh dựa trên chi phí và gia công dần thu hẹp, doanh nghiệp Việt Nam cần chuyển từ đáp ứng các tiêu chuẩn có sẵn sang làm chủ chất lượng, công nghệ và từng bước tạo ra những chuẩn mực mới.
Tại Diễn đàn “Cạnh tranh bằng định chuẩn trong thời kỳ xoay trục kinh tế”, các nhà quản lý, doanh nghiệp và chuyên gia trong nước, quốc tế đã cùng trao đổi về những điều kiện để chuyển hóa đổi mới sáng tạo thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế. Trong đó, chính sách hỗ trợ nghiên cứu, phát triển công nghệ, bảo hộ sở hữu trí tuệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu được xác định là những yếu tố quan trọng.
Chủ động tham gia định hình chuẩn mực thị trường
Diễn ra ngày 15/10, trong khuôn khổ VIS 2026 (Hội nghị Thượng đỉnh Đổi mới sáng tạo Việt Nam 2026), diễn đàn đặt vấn đề nâng cấp năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh dòng vốn đầu tư, thương mại và chuỗi giá trị toàn cầu đang tái cấu trúc. Các yêu cầu về hàng rào kỹ thuật thế hệ mới, kiểm kê carbon, tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG), minh bạch truy xuất nguồn gốc và vận hành bền vững ngày càng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận thị trường.

Diễn đàn “Cạnh tranh bằng định chuẩn trong thời kỳ xoay trục kinh tế” diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh, trong khuôn khổ VIS 2026 (Hội nghị Thượng đỉnh Đổi mới sáng tạo Việt Nam 2026)
Trong bối cảnh đó, giá thành và tốc độ sản xuất không còn là những yếu tố duy nhất quyết định lợi thế cạnh tranh. Doanh nghiệp cần bảo đảm chất lượng ổn định, nâng cao năng lực công nghệ, minh bạch trong quản trị và duy trì độ tin cậy khi mở rộng quy mô. Việc đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế vẫn cần thiết, nhưng để tạo ra lợi thế dài hạn, doanh nghiệp phải biến những yêu cầu bên ngoài thành năng lực vận hành nội tại, tiến tới chủ động cải tiến và tạo ra giá trị mới.
Ông Mohammad Mudasser, Phó Tổng Giám đốc PwC Việt Nam, nhận định lợi thế cạnh tranh dựa trên chi phí và gia công đang thu hẹp. Giai đoạn phát triển tiếp theo đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải làm chủ chất lượng, công nghệ và quản trị, đồng thời từng bước tạo ra những giá trị có khả năng trở thành chuẩn tham chiếu.
Theo khung tiếp cận được thảo luận tại diễn đàn, quá trình nâng cấp năng lực doanh nghiệp có thể nhìn nhận qua ba cấp độ Adapt - Align - Author (thích ứng, đồng bộ và kiến tạo chuẩn mực). Ở cấp độ đầu tiên, doanh nghiệp tiếp nhận và đáp ứng yêu cầu kỹ thuật để tham gia thị trường. Tiếp đó, các tiêu chuẩn được tích hợp vào hệ thống quản trị, công nghệ và quy trình vận hành. Ở cấp độ cao hơn, doanh nghiệp có khả năng chủ động cải tiến, hình thành những cách làm hiệu quả và tạo ra giá trị được thị trường công nhận.
Để thực sự làm chủ tiêu chuẩn, doanh nghiệp phải duy trì chất lượng nhất quán, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), nâng cao năng lực nhân lực và liên tục cải tiến quy trình. Khi những cải tiến được kiểm chứng, chuẩn hóa và áp dụng hiệu quả, doanh nghiệp mới có cơ sở để nhân rộng mô hình, đồng thời tạo ảnh hưởng tích cực đến các đối tác và nhà cung cấp trong chuỗi giá trị.

Đại biểu tham dự diễn đàn
Đổi mới sáng tạo vì thế không chỉ giới hạn ở việc ứng dụng công nghệ mới. Những thay đổi về tư duy quản trị, mô hình kinh doanh và quy trình vận hành nhằm giải quyết tốt hơn các vấn đề thực tế cũng có thể tạo ra giá trị đổi mới. Khi những giải pháp này được đo lường, chuẩn hóa và chứng minh hiệu quả, chúng có thể trở thành nền tảng để mở rộng quy mô, tăng độ tin cậy và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Từ góc nhìn doanh nghiệp, ông Richard D. McClellan, Tổng Giám đốc điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh (VIFC), cho rằng dù đã có những doanh nghiệp Việt Nam vận hành tiệm cận chuẩn mực quốc tế, phần lớn doanh nghiệp nội địa vẫn cần nâng cao năng lực toàn diện. Trong đó, minh bạch quản trị và khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ chuẩn mực của thị trường tài chính - thương mại toàn cầu là những yêu cầu quan trọng.
Ông Lê Minh Trung, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ phát triển công nghiệp và phát triển bền vững thuộc Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh, nhận định một số doanh nghiệp tiên phong chưa đủ tạo nên năng lực định chuẩn của cả nền kinh tế. Quá trình này cần sự chuyển động đồng bộ của thể chế, thị trường và cộng đồng doanh nghiệp, nhằm chuyển những năng lực riêng lẻ thành lợi thế cạnh tranh có khả năng lan tỏa trong toàn chuỗi giá trị.
Hỗ trợ doanh nghiệp làm chủ công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu
Tại phiên tọa đàm “Đâu là những lĩnh vực Việt Nam có thể vươn lên định chuẩn? Từ Đổi mới sáng tạo đến Định chuẩn: Xây dựng năng lực hệ sinh thái cho Việt Nam”, ông Nguyễn Hữu Yên, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh, nhấn mạnh yêu cầu gắn đổi mới sáng tạo với những bài toán thực tiễn của doanh nghiệp như logistics xanh, chuỗi cung ứng và ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Chính sách hỗ trợ cần tạo điều kiện để doanh nghiệp nâng cao năng lực công nghệ, chủ động thiết lập chuẩn mực và tiến tới những phân khúc có giá trị gia tăng cao hơn.
Các diễn giả tại phiên tọa đàm “Đâu là những lĩnh vực Việt Nam có thể vươn lên định chuẩn? Từ Đổi mới sáng tạo đến Định chuẩn: Xây dựng năng lực hệ sinh thái cho Việt Nam”
Theo ông Nguyễn Hữu Yên, Thành phố đang cụ thể hóa các định hướng phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thông qua hệ thống chính sách hỗ trợ về tài chính và cơ chế thực thi. Các chính sách tập trung vào những khâu quan trọng của quá trình hình thành năng lực định chuẩn, từ phát triển hạ tầng nghiên cứu, thử nghiệm công nghệ đến ươm tạo dự án, bảo hộ sở hữu trí tuệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Về hạ tầng, theo Nghị quyết số 65/2026/NQ-HĐND, Thành phố bố trí nguồn lực hỗ trợ lên đến 25 tỷ đồng cho mỗi dự án hoặc đơn vị nhằm xây dựng, nâng cấp phòng thí nghiệm, trang thiết bị kiểm định, năng lực tính toán và thử nghiệm công nghệ chiến lược. Cùng với đó, Nghị quyết số 63/2026/NQ-HĐND triển khai cơ chế hỗ trợ các trung tâm nghiên cứu xuất sắc đạt chuẩn quốc tế, với chính sách thu hút chuyên gia, nhà khoa học tham gia nghiên cứu và làm chủ công nghệ lõi.
Đối với hoạt động đổi mới sáng tạo, Nghị quyết số 64/2026/NQ-HĐND quy định cơ chế hỗ trợ ươm tạo dự án khởi nghiệp sáng tạo theo ba giai đoạn: 50 triệu đồng ở giai đoạn ý tưởng, 100 triệu đồng ở giai đoạn kiểm chứng và 500 triệu đồng ở giai đoạn tăng tốc. Trong khi đó, Nghị quyết số 23/2026/NQ-HĐND tập trung hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm và đào tạo nhân lực trong những lĩnh vực công nghệ số, công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật, bán dẫn và an ninh mạng.
Ông Nguyễn Hữu Yên, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh, chia sẻ tại tọa đàm
Một mắt xích quan trọng khác là đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường. Theo Nghị quyết số 62/2026/NQ-HĐND, các hoạt động xác lập, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đăng ký sáng chế trong và ngoài nước được hỗ trợ; trong đó, kinh phí hỗ trợ các hoạt động tư vấn, định giá, môi giới pháp lý và đào tạo chuyển giao quy trình, tiêu chuẩn có thể lên đến 200 triệu đồng/công nghệ/năm. Thành phố cũng thúc đẩy thương mại hóa nghiên cứu thông qua mô hình doanh nghiệp spin-off hình thành từ viện, trường. Theo Nghị quyết số 66/2026/NQ-HĐND, cơ chế lần đầu tiên cho phép các trường đại học, viện nghiên cứu góp vốn bằng tài sản trí tuệ và cho phép viên chức tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp spin-off để đưa kết quả R&D trực tiếp ra thị trường.
Theo ông Nguyễn Hữu Yên, định hướng xuyên suốt của Thành phố là lấy doanh nghiệp làm trung tâm, viện/trường làm chủ thể nghiên cứu, còn Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt, bảo vệ và hỗ trợ nguồn lực. Khi doanh nghiệp có khả năng làm chủ chất lượng, liên tục cải tiến và lan tỏa những cách làm hiệu quả đến các đối tác, lợi thế cạnh tranh sẽ không còn giới hạn trong từng sản phẩm hay tổ chức. Đó cũng là nền tảng để chuyển hóa năng lực của những doanh nghiệp tiên phong thành năng lực của ngành và nền kinh tế, từng bước nâng vị thế Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Lam Vân