SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

SÁNG CHẾ VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ SÁNG CHẾ THEO LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM VÀ LUẬT SÁNG CHẾ NHẬT BẢN

23-12-2025
  1. Khái niệm sáng chế

Trong sinh hoạt hàng ngày của cuộc sống thực và trên mạng xã hội, nhiều người tham gia các buổi trao đổi học thuật, hội thảo, trả lời phỏng vấn… thường sử dụng từ “phát minh” và “sáng chế” như hai khái niệm đồng nghĩa, có thể dùng đổi lẫn với nhau.

Cách đây gần 20 năm, trong tác phẩm “Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học” được giới thiệu khá rộng rãi trong các trường đại học ở Việt Nam, nhà giáo Vũ Cao Đàm đã phân tích tách biệt một số sản phẩm đặc biệt của hoạt động nghiên cứu, tập trung vào 3 khái niệm “phát minh”, “phát hiện” và “sáng chế”, qua đó giúp người đọc hiểu và sử dụng đúng từ ngữ khi mô tả sự vật, hiện tượng. Dưới đây xin lượt trích các khái niệm theo góc nhìn của nhà giáo Vũ Cao Đàm.

Phát minh (discovery) là sự khám phá ra những quy luật, những tính chất hoặc những hiện tượng của thế giới vật chất tồn tại một cách khách quantrước đó chưa ai biết, nhờ đó làm thay đổi cơ bản nhận thức của con người. Phát minh có các chỉ báo như: có khả năng áp dụng để giải thích thế giới; không trực tiếp áp dụng vào đời sống, sản xuất mà phải thông qua sáng chế; không có giá trị thương mại; bản thân phát minh không được bảo hộ pháp lý và tồn tại cùng lịch sử.

Phát hiện (discovery) là sự khám phá ra những vật thể, những quy luật xã hội đang tồn tại một cách khách quan. Phát hiện có các chỉ báo như: có khả năng áp dụng để giải thích thế giới; không trực tiếp áp dụng vào đời sống, sản xuất mà phải thông qua các giải pháp vận dụng; không có giá trị thương mại; bản thân phát hiện không được bảo hộ pháp lý và tồn tại cùng lịch sử.

Sáng chế là một thành tựu trong khoa học kỹ thuật và công nghệ. Trong khoa học xã hội và nhân văn không có sản phẩm loại này, nhưng các nhà khoa học xã hội vẫn thường phải bàn đến sáng chế do ý nghĩa và các tác động về mặt kinh tế, pháp lý và xã hội của sáng chế. Sáng chế (invention) là một giải pháp kỹ thuật mới về nguyên lý kỹ thuật, tính sáng tạo và áp dụng được.

Về bản chất, sáng chế không có mục tiêu là áp dụng vào việc giải thích thế giới. Sáng chế nhằm áp dụng trực tiếp hoặc áp dụng thử nghiệm vào đời sống và hoạt động sản xuất; do vậy, thường có giá trị thương mại và qua đó, làm phát sinh hoạt động mua bán sáng chế hoặc cấp phép sử dụng (licence) bằng độc quyền. Sáng chế có thể trở nên lạc hậu theo sự tiến bộ công nghệ.

Từ các phân tích của nhà giáo Vũ Cao Đàm về 3 khái niệm trên, xin bàn tiếp đến khái niệm pháp lý về sáng chế, dựa trên pháp luật sở hữu công nghiệp về việc bảo hộ (độc) quyền đối với sáng chế. Dưới đây là các định nghĩa về sáng chế và các quy định về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế theo pháp luật của Việt Nam và Nhật Bản.

  1. Định nghĩa “sáng chế” và các điều kiện bảo hộ sáng chế tại Việt Nam

Theo Khoản 12, Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành, sáng chếgiải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên.

Theo Điều 58, có 03 điều kiện chung đối với sáng chế được bảo hộ là: tính mới, trình độ sáng tạokhả năng áp dụng công nghiệp. Từ đó, Luật phân biệt và đưa ra 02 hình thức của văn bằng bảo hộ:

  • để được cấp Bằng độc quyền Sáng chế, giải pháp kỹ thuật nộp đơn đăng ký phải đáp ứng đủ cả 03 điều kiện nêu trên;
  • để được cấp Bằng độc quyền Giải pháp hữu ích, giải pháp kỹ thuật nộp đơn đăng ký, nếu không phải là hiểu biết thông thường, chỉ cần đáp ứng 02 điều kiện: có tính mới và có khả năng áp dụng công nghiệp; không cần phải “có trình độ sáng tạo”.

Theo Điều 61 Luật Sở hữu trí tuệ, trình độ sáng tạo được hiểu là “một bước tiến sáng tạo, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng”.

Khoản 3 Điều 3 Thông tư số 23/2023/TT-BKHCN giải thích người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng được hiểu là người có các kỹ năng thực hành kỹ thuật thông thường và biết rõ các kiến thức chung, phổ biến trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng”.

Không khó để có thể hình dung: kỹ năng thực hành kỹ thuật thông thường có thể đạt được qua việc đã được đào tạo trong lĩnh vực kỹ thuật liên quan; còn kiến thức chung về một lĩnh vực kỹ thuật cụ thể có thể nắm bắt được qua các tài liệu kỹ thuật về lĩnh vực kỹ thuật đó đã được xuất bản, phổ biến trong và ngoài nước, đặc biệt là, qua các sáng chế tương tự với giải pháp kỹ thuật đang nộp đơn xin bảo hộ, nằm trong các bằng độc quyền và các đơn đăng ký sáng chế đã được công bố bởi các cơ quan sáng chế quốc gia trên thế giới. Các thẩm định viên của các cơ quan sáng chế quốc gia là những người có điều kiện đạt được trình độ “hiểu biết trung bình” không ngừng gia tăng này.

  1. Định nghĩa “sáng chế” và các điều kiện bảo hộ sáng chế tại Nhật Bản

Theo Khoản 1 Điều 2 Luật Sáng chế Nhật Bản hiện hành, sáng chế là “sự sáng tạo các ý tưởng kỹ thuật tiên tiến bằng cách ứng dụng các quy luật tự nhiên”.

Về 03 điều kiện bảo hộ, khác với trình tự nêu ra từng điều kiện cụ thể trong Luật Việt Nam, theo Điều 29 của Luật Sáng chế Nhật Bản, điều kiện quan trọng ban đầu để sáng chế được bảo hộ là có khả năng áp dụng công nghiệp.

Tiếp đó, nếu giải pháp kỹ thuật nộp đơn đăng ký bảo đảm được khả năng áp dụng công nghiệp, nhưng lại để mất tính mới trong 3 trường hợp: hoặc đã bộc lộ công khai, hoặc đã sử dụng rộng rãi, hoặc đã được mô tả trong một ấn phẩm đã phân phối hay trong các sáng chế đã được bộc lộ công khai tại Nhật Bản và nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký, thì  giải pháp kỹ thuật đó cũng không được bảo hộ.

Về điều kiện thứ ba để sáng chế được bảo hộ, Luật Sáng chế Nhật Bản không sử dụng các thuật ngữ “trình độ sáng tạo”, mà quy định trực tiếp rằng: nếu trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế, một người có hiểu biết trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật của sáng chế có thể dễ dàng tạo ra giải pháp kỹ thuật trong đơn đăng ký, dựa trên các sáng chế đã được mô tả, đã được bộc lộ công khai hay sử dụng công khai, thì giải pháp kỹ thuật đăng ký cũng không được cấp bằng độc quyền.

Tóm lại, sáng chế muốn được bảo hộ ở Nhật Bản phải đáp ứng ba điều kiện: trước hết là khả năng áp dụng công nghiệp, tiếp theo là tính mới và cuối cùng là không dễ dàng tạo ra đối với người có hiểu biết trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật của sáng chế.

  1. Nhận xét

Tuy có sự khác biệt về cách định nghĩa sáng chế và cách diễn đạt các điều kiện bảo hộ sáng chế, nhưng do cùng là hai quốc gia thành viên của Công ước Paris 1983 về Bảo hộ Sở hữu công nghiệp nên nhìn chung, điều kiện bảo hộ sáng chế tại Việt Nam và Nhật Bản là tương đồng.

Đồng thời, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam và Luật Sáng chế Nhật Bản cũng đều có các quy định về trường hợp sáng chế không được bảo hộ, cũng như các ngoại lệ đối với các trường hợp sáng chế bị mất tính mới.

 

ThS. Vương Tịnh Mạch

ThS. Nguyễn Thị Ngọc Nhung

ThS. Hoàng Tuấn Anh

(Trích giới thiệu Kết quả thực hiện Nhiệm vụ KH&CN theo HĐ số 01/2021/HĐ-QKHCN thuộc quyền sở hữu của Sở KH&CN TP.HCM - Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thị Xuân Anh, Viện Quản trị Tài sản trí tuệ Minh Đức)


Bản quyền © 2018 Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Thiết kế và phát triển bởi HCMGIS
Tổng số truy cập: 11537424