TP.HCM nghiên cứu nâng cao hiệu quả chính sách về thị trường lao động theo hướng chủ động, bền vững
04-02-2026Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM vừa tổ chức Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) "Chính sách chủ động về thị trường lao động đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững tại Thành phố Hồ Chí Minh".
Nhiệm vụ do TS. Mai Thị Quế làm chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM là đơn vị chủ trì thực hiện.
Trong bối cảnh thị trường lao động (TTLĐ) Thành phố đang chịu nhiều tác động từ quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng, chuyển đổi số và yêu cầu phát triển bền vững, việc xây dựng các chính sách theo hướng chủ động, dài hạn trở thành yêu cầu cấp thiết.
Thực tế cho thấy, nhiều lao động có kỹ năng thấp, lao động lớn tuổi đang có nguy cơ bị gạt ra khỏi guồng quay phát triển nếu không có các chính sách hỗ trợ chủ động. Đặc biệt trong bối cảnh tái cơ cấu nền kinh tế, cấu trúc TTLĐ có sự thay đổi, các chính sách chủ động (ALMPs) cần được ưu tiên nhằm can thiệp sớm vào phía cung (nâng cao kỹ năng), phía cầu (tạo việc làm, kích cầu lao động) và hoàn thiện cơ chế khớp nối cung - cầu giúp cân bằng TTLĐ, giảm thất nghiệp cơ cấu.
Nhiệm vụ nghiên cứu được triển khai với mục tiêu tổng quát là phân tích, đánh giá thực trạng các chính sách chủ động về TTLĐ tại Thành phố, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát, phân tích, đánh giá các chính sách chủ động về TTLĐ do Trung ương ban hành, đã và đang được triển khai thực tế tại TP.HCM, bao gồm các chương trình hỗ trợ đào tạo nghề (ĐTN), chương trình tín dụng ưu đãi tạo việc làm và chương trình dịch vụ việc làm công (DVVLC).

TS. Mai Thị Quế, chủ nhiệm nhiệm vụ, trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu
Theo nhóm nghiên cứu, nhiệm vụ tập trung trả lời các câu hỏi về mức độ bao phủ của chính sách, tác động đến thu nhập, việc làm và những rào cản khiến người lao động (NLĐ) chưa tiếp cận được các hỗ trợ từ Nhà nước. Kết quả cho thấy, cả 3 chương trình chủ động về TTLĐ có tác động theo chiều hướng tích cực đến việc làm, thu nhập và lan tỏa đến những người tham gia. Dưới tác động của chính sách, cơ hội việc làm của NLĐ được cải thiện; tín dụng ưu đãi giúp NLĐ sử dụng nguồn vốn vay để mở rộng các hoạt động sản xuất kinh doanh, duy trì và tạo việc làm. Dịch vụ việc làm công cung cấp thông tin về TTLĐ, tư vấn, giới thiệu giúp NLĐ tiếp cận cơ hội việc làm; chương trình hỗ trợ ĐTN giúp NLĐ nâng cao năng lực và khả năng thích ứng trước những biến động của TTLĐ. Bên cạnh đó, các chính sách cũng góp phần tăng khả năng chuyển đổi việc làm từ phi chính thức sang chính thức, đầy đủ và phù hợp với nhu cầu hơn; cơ hội việc làm và thu nhập của NLĐ được cải thiện, kéo giảm nghèo đa chiều, NLĐ và gia đình hiện thực hóa quyền tiếp cận giáo dục, y tế, nâng cao chất lượng cuộc sống, thúc đẩy hòa nhập xã hội.
Tuy nhiên, chính sách chưa bao phủ hết các nhóm dễ bị tổn thương trước những biến động của TTLĐ. Chương trình hỗ trợ ĐTN mặc dù có độ bao phủ rộng nhưng còn "bỏ sót" nhóm lao động chịu ảnh hưởng bởi những rào cản về điều kiện xã hội (quá trình tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi sang nền kinh tế xanh, kinh tế số, quá trình già hóa dân số, lao động di cư…). NLĐ gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận cơ hội việc làm, đa số lao động làm công việc không liên quan hoặc chỉ liên quan một phần nghề được đào tạo, khả năng phát triển trong công việc không cao. Bên cạnh đó, số lao động tiếp cận chính sách thực tế còn hạn chế và có xu hướng giảm; nhiều nhóm lao động khó khăn về việc làm do những rào cản xã hội cần được hỗ trợ ĐTN nhưng không thuộc diện thụ hưởng chính sách; thiếu cân đối giữa các nhóm mục tiêu đào tạo, trình độ đào tạo…
Nguồn vốn và đối tượng thụ hưởng tín dụng ưu đãi tạo việc làm có xu hướng tăng nhưng chưa đáp ứng nhu cầu thực tế; nguồn vốn vay tập trung vào mô hình sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ, hiệu quả kinh tế thấp… DVVLC mang tính giàn trải, thiếu tập trung vào nhóm mục tiêu; chưa thu hút được nhiều NLĐ và doanh nghiệp tham gia; hiệu quả kết nối cung - cầu chưa cao, nhiều lao động không tìm được việc làm sau khi được tư vấn, giới thiệu việc làm…
Trên cơ sở đó, nhiệm vụ đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách chủ động về TTLĐ tại TP.HCM, tập trung vào các nhóm giải pháp mở rộng độ bao phủ của chính sách, hoàn thiện các chương trình chủ động, tổ chức thực hiện chính sách chủ động về TTLĐ, đánh giá chính sách chủ động về TTLĐ. Cụ thể như xây dựng chính sách theo hướng tiếp cận toàn diện, lấy con người làm trung tâm, đảm bảo tính bao phủ; nâng cao năng lực dự báo và thông tin TTLĐ; phát triển kỹ năng và tái đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số; thúc đẩy liên kết giữa Nhà nước - cơ sở đào tạo - doanh nghiệp; tăng cường các chính sách hỗ trợ nhóm lao động dễ bị tổn thương trong tiến trình phát triển.

Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ tại Sở KH&CN TP.HCM chiều 30/1/2026
Các giải pháp tổ chức thực hiện chính sách được đề xuất: về hỗ trợ ĐTN, tăng cường năng lực thể chế của chương trình, đảm bảo hỗ trợ đào tạo đúng đối tượng và cam kết đầu ra sản phẩm; đa dạng hóa phương thức hỗ trợ; tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức. Đối với chính sách tín dụng ưu đãi tạo việc làm: tăng cường nguồn vốn ủy thác, nguồn vốn xã hội hóa giải quyết việc làm; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quản lý, nâng cao năng lực hệ thống ủy thác… Đối với chương trình DVVLC, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và chuẩn hóa nguồn nhân lực cho trung tâm DVVLC; hoàn thiện cơ sở dữ liệu về thông tin TTLĐ; tăng cường liên kết vùng; đa dạng hóa hình thức hỗ trợ NLĐ và doanh nghiệp tiếp cận thông tin cung - cầu lao động, thông tin về TTLĐ…
Nhiệm vụ cũng đưa ra các kiến nghị trọng tâm như: xây dựng khung pháp lý đồng bộ, linh hoạt và bao quát các vấn đề từ đào tạo kỹ năng đến tạo việc làm và kết nối việc làm; phân bổ nguồn ngân sách hiệu quả; kiến nghị Trung ương giao quyền tự quyết định cho TP.HCM trong việc sử dụng nguồn lực địa phương để triển khai các chính sách đặc thù, đột phá trong lĩnh vực TTLĐ…
Nhiệm vụ được đánh giá góp phần bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng chính sách chủ động về TTLĐ tại TP.HCM trong giai đoạn phát triển mới. Kết quả nghiên cứu có khả năng ứng dụng trong công tác quản lý, dự báo, tham mưu ban hành chính sách lao động - việc làm của TP.HCM, qua đó góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Việc triển khai hiệu quả các giải pháp đề xuất sẽ góp phần nâng cao khả năng thích ứng của TTLĐ trước các biến động, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững của TP.HCM trong dài hạn.
Lam Vân (CISAST)