Tuyên truyền, nâng cao năng lực sở hữu trí tuệ trong giáo dục nghề nghiệp
07-09-2026Sở Khoa học và Công nghệ vừa tổ chức Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ "Xây dựng chương trình tuyên truyền sở hữu trí tuệ cho học sinh, sinh viên các trường trung cấp, cao đẳng và ứng dụng thí điểm tại một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp được chọn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh".
Nhiệm vụ do Trường Cao đẳng Kinh tế Thành phố chủ trì, TS. Nguyễn Đặng An Long làm chủ nhiệm. Kết quả nghiên cứu đã xây dựng chương trình tuyên truyền chuyên biệt cùng hệ thống học liệu và giải pháp số tương tác, hướng tới mô hình tuyên truyền sở hữu trí tuệ (SHTT) có tính hệ thống, phù hợp với giáo dục nghề nghiệp, góp phần đưa kiến thức và kỹ năng SHTT đến gần hơn với lực lượng lao động trẻ.
Theo nhóm nghiên cứu, giáo dục nghề nghiệp có đặc thù gắn chặt với thực hành, sáng tạo kỹ thuật, thiết kế, chế tạo, nghiên cứu ứng dụng và thực tập nghề nghiệp. Trong quá trình học tập, học sinh, sinh viên có thể trực tiếp tạo ra các sản phẩm, giải pháp có khả năng hình thành tài sản trí tuệ; đồng thời có thể phát sinh nguy cơ xâm phạm quyền SHTT nếu thiếu kiến thức và kỹ năng cần thiết.

Đại diện nhóm nghiên cứu trình bày, báo cáo một số kết quả thực hiện nhiệm vụ
Nhiệm vụ được thực hiện với mục tiêu nghiên cứu, xây dựng chương trình tuyên truyền SHTT phù hợp với đặc điểm học sinh, sinh viên khối giáo dục nghề nghiệp; nội dung tập trung vào những kiến thức SHTT cơ bản, thiết thực, tăng cường trải nghiệm, tương tác và khả năng vận dụng thực tế trong các hoạt động học tập, nghiên cứu, thực hành nghề nghiệp, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo... Qua đó góp phần nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng và năng lực thực hành SHTT cho học sinh, sinh viên các trường trung cấp, cao đẳng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện nhóm nghiên cứu trao đổi, thảo luận về kết quả thực hiện nhiệm vụ
Để đánh giá thực trạng, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát trên 1.200 người tại 20 trường trung cấp và cao đẳng trên địa bàn Thành phố, đồng thời thực hiện phỏng vấn sâu với 20 chuyên gia. Kết quả cho thấy 45,33% học sinh, sinh viên được khảo sát chưa từng học hoặc nghe tuyên truyền về SHTT; 36% cán bộ quản lý và 39% giáo viên trường nghề chưa từng tham gia các khóa đào tạo về lĩnh vực này. Một số kết quả khảo sát cũng cho thấy việc hình thành thói quen tôn trọng quyền SHTT và liêm chính học thuật ở người học vẫn còn hạn chế.
Trên cơ sở kết quả khảo sát, nhóm nghiên cứu định hướng mô hình tuyên truyền SHTT chuyển trọng tâm từ phổ biến kiến thức pháp luật sang phát triển năng lực thực hành SHTT, giúp người học có khả năng nhận diện tài sản trí tuệ, xác định quyền đối với sản phẩm sáng tạo, bảo vệ kết quả nghiên cứu, từng bước tiếp cận khai thác thương mại hóa tài sản trí tuệ.

Hội đồng nghiệm thu nhiệm vụ tại Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh ngày 28/8/2026
Theo đó, chương trình tuyên truyền SHTT cho học sinh, sinh viên trung cấp, cao đẳng được xây dựng với cấu trúc có tính hệ thống, kết hợp giữa lý thuyết và tình huống thực tiễn, nội dung thiết kế theo hướng tăng dần từ nhận thức cơ bản đến khả năng vận dụng… Trên cơ sở đặc thù của từng nhóm ngành nghề, nội dung chương trình cũng được định hướng theo từng lĩnh vực. Cụ thể như nhóm ngành kỹ thuật tập trung nhiều hơn vào kiến thức về sáng chế; nhóm thiết kế, đồ họa và thời trang chú trọng các nội dung liên quan đến kiểu dáng công nghiệp và quyền tác giả; các ngành kinh tế, du lịch có thể tiếp cận sâu hơn về nhãn hiệu và bí mật kinh doanh.
Kết quả nhiệm vụ cũng xây dựng hệ thống học liệu phục vụ triển khai chương trình bao gồm tài liệu tuyên truyền dành cho học sinh, sinh viên; tài liệu hướng dẫn dành cho đội ngũ giáo viên, giảng viên; bộ câu hỏi trắc nghiệm và đáp án (150 câu hỏi và đáp án) về tuyên truyền SHTT; bộ công cụ (kiểm tra, đánh giá) triển khai chương trình SHTT thông qua phần mềm giáo dục "Giải pháp chuyển đổi số giúp người học vui học SHTT" cho học sinh, sinh viên; các sản phẩm truyền thông trực quan như video clip, brochure và tờ rơi. Trong đó, phần mềm giáo dục vui học SHTT là sản phẩm ứng dụng công nghệ số, có thể tạo ra những trò chơi trong hoạt động học tập thông qua hệ thống điểm số, thử thách, phần thưởng, câu hỏi tương tác, giúp người học tham gia chủ động, tăng khả năng ghi nhớ và củng cố kiến thức. Phần mềm đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả.
Đại diện nhóm nghiên cứu cho biết, sản phẩm của nhiệm vụ đã được triển khai thí điểm tại một số trường trung cấp và cao đẳng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Việc triển khai thực tế cho thấy khả năng tiếp nhận và ứng dụng của các sản phẩm nghiên cứu trong môi trường giáo dục nghề nghiệp. Trong đó, chương trình tuyên truyền SHTT có thể triển khai dưới nhiều hình thức khác nhau như chuyên đề, hoạt động ngoại khóa, sinh hoạt học thuật, cuộc thi tìm hiểu SHTT, chương trình hỗ trợ khởi nghiệp... Đặc biệt, việc chuẩn hóa chuỗi sản phẩm từ chương trình, tài liệu học tập, bộ câu hỏi đến phần mềm tương tác tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển giao và nhân rộng mô hình đến các cơ sở giáo dục nghề nghiệp khác.

PGS.TS. Nguyễn Văn Y, Chủ tịch Hội đồng, nhận xét đánh giá kết quả nhiệm vụ
Hội đồng nghiệm thu đánh giá nhiệm vụ có những đóng góp mới trong việc đề xuất hướng tiếp cận mô hình giáo dục, tuyên truyền SHTT trong môi trường giáo dục nghề nghiệp. Hướng tiếp cận mới chuyển trọng tâm từ phổ biến kiến thức pháp luật sang phát triển năng lực thực hành SHTT, lấy người học làm trung tâm, khơi dậy niềm đam mê, tư duy sáng tạo và năng lực nghiên cứu khoa học trong giới trẻ.

Các thành viên Hội đồng nghiệm thu chụp ảnh cùng nhóm nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu không chỉ hệ thống hóa, bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn về tuyên truyền SHTT trong giáo dục nghề nghiệp, mà còn tạo ra các sản phẩm có khả năng ứng dụng, phục vụ trực tiếp cho mục tiêu trang bị năng lực SHTT cho người học ngay trong quá trình đào tạo nghề. Mô hình nếu được triển khai nhân rộng sẽ góp phần xây dựng văn hóa tôn trọng, bảo vệ và khai thác hiệu quả tài sản trí tuệ cho lực lượng lao động trẻ; từng bước hình thành nguồn nhân lực có năng lực sáng tạo, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động và nền kinh tế tri thức trong bối cảnh hội nhập.
Lam Vân