
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt. Ảnh VGP/Hoàng Giang
Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Huỳnh Thành Đạt đã chỉ ra 5 giải pháp để KH&CN và đổi mới sáng tạo thực sự là một trong ba đột phá chiến lược như Dự thảo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định.
Theo Bộ trưởng Huỳnh Thành Đạt, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, xem trọng vai trò của KH&CN cùng với giáo dục và đào tạo, KH&CN là quốc sách hàng đầu, là nền tảng động lực phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
Năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam liên tục tăng
Trong những năm qua, KH&CN Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ và thành tựu nổi bật, đóng góp thiết thực cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, củng cố quốc phòng và an ninh, cải thiện an sinh xã hội và chất lượng cuộc sống người dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Công tác quản lý nhà nước về KH&CN từng bước được đổi mới, hành lang pháp lý trong lĩnh vực KH&CN được tạo lập toàn diện và đồng bộ hơn, tạo môi trường thuận lợi và cạnh tranh lành mạnh trong nghiên cứu sáng tạo.
Đổi mới sáng tạo dần trở thành tư duy mới trong quản lý, điều hành; nhận thức rõ hơn về vai trò trung tâm của doanh nghiệp trong hệ thống sáng tạo quốc gia; từng bước xóa bỏ cơ chế quản lý hành chính quan liêu; áp dụng nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng trong tuyển chọn nhiệm vụ KH&CN; thực hiện cơ chế khoán chi và kiểm soát chi thông thoáng; gắn nhiệm vụ nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn và thị trường; trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức KH&CN công lập; phát triển thị trường công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo; hình thành doanh nghiệp KH&CN, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; khuyến khích doanh nghiệp thành lập viện nghiên cứu và đầu tư mạnh cho KH&CN; thí điểm mô hình thu hút, trọng dụng cán bộ khoa học tài năng trong nước và trí thức kiều bào.
Những đổi mới mạnh mẽ về cơ chế, chính sách đã góp phần nâng cao tiềm lực và trình độ KH&CN của đất nước. Đến nay, cả nước có 687 tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, 236 trường đại học, ba khu công nghệ cao quốc gia, 13 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tám khu công nghệ thông tin tập trung và gần 67 nghìn cán bộ nghiên cứu. Đã hình thành các viện nghiên cứu công nghệ công nghiệp theo mô hình tiên tiến thế giới ở khu vực công lập và tư nhân. Nguồn lực tài chính cho KH&CN từ ngân sách nhà nước được duy trì mức 2% tổng chi hằng năm; đầu tư từ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp quy mô lớn ngày càng tăng mạnh (chiếm 48% tổng chi xã hội cho KH&CN).
Hạ tầng nghiên cứu một số lĩnh vực trọng điểm như: Công nghệ sinh học, hóa dầu, vật liệu, năng lượng, tự động hóa, nano, công nghệ tính toán, y học được đầu tư tăng cường. Nguồn lực thông tin, nền tảng Tri thức Việt số hóa được đầu tư, kết nối và chia sẻ mở trong cộng đồng. Thị trường công nghệ, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo phát triển sôi động, hệ thống sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng ngày càng hoàn thiện, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp, khuyến khích sự ra đời của hàng nghìn doanh nghiệp khởi nghiệp có tiềm năng tăng trưởng.
Số lượng bài báo, công trình khoa học công bố quốc tế và sáng chế của người Việt Nam tăng hằng năm; tốc độ đổi mới công nghệ, năng lực công nghệ của quốc gia và doanh nghiệp được tăng cường; khoảng cách giữa Việt Nam và các nước trong khu vực được rút ngắn đáng kể trong xếp hạng năng lực cạnh tranh, năng lực đổi mới sáng tạo toàn cầu và ở một số lĩnh vực khoa học có thế mạnh. Năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam liên tục tăng, năm 2017 tăng 12 bậc, năm 2018 tăng thêm ba bậc, năm 2019 và 2020 đạt thứ hạng tốt nhất từ trước tới nay, xếp thứ 42 trên 131 quốc gia, dẫn đầu nhóm quốc gia thu nhập trung bình thấp.
Đóng góp thiết thực cho phát triển kinh tế - xã hội
Với các tiến bộ trong cơ chế quản lý, tăng cường đầu tư cho tiềm lực và trình độ KH&CN, lực lượng KH&CN thật sự đồng hành cùng các cấp, các ngành và địa phương để bám sát thực tiễn, đóng góp ngày càng thiết thực hơn cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Khoa học xã hội và nhân văn đã phát triển hệ thống lý luận mới về vai trò của văn hóa, lịch sử, con người và các nhân tố tạo nên sự phát triển bền vững, giúp thay đổi nhận thức và hành vi, bồi đắp trí tuệ của con người Việt Nam trong xã hội hiện đại, bảo tồn và phát huy các giá trị tinh hoa của dân tộc, góp phần xây dựng các nền tảng của một xã hội văn minh và hội nhập với thế giới tiến bộ.
Khoa học chính trị và kinh tế cung cấp các luận cứ sâu sắc và kịp thời trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị; đổi mới đồng bộ thể chế kinh tế, chính trị và xã hội; có nhiều đóng góp thiết thực trong việc bảo đảm sự ổn định chính trị của đất nước trong điều kiện mới. Các công trình nghiên cứu về Biển Đông, đánh giá và dự báo kịp thời cục diện chính trị và ngoại giao trong khu vực, đã phục vụ đắc lực cho công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và an ninh, quốc phòng.
Khoa học tự nhiên đã có tiến bộ vượt bậc về lượng và chất. Các nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học trái đất và môi trường đã góp phần nâng cao năng lực dự báo, phòng tránh và giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai, biến đổi khí hậu ở Việt Nam. Nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên có đóng góp rất quan trọng trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trình độ cao, nhất là bậc sau đại học; gia cố nền tảng, năng lực nghiên cứu và đội ngũ cán bộ khoa học tài năng trong các trường đại học, viện nghiên cứu. Nhiều nhà khoa học trẻ đã nhận được các giải thưởng khoa học danh giá trong nước và quốc tế.
Khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển lên một tầm cao mới về năng lực và trình độ. Trong nông nghiệp, các nhà khoa học Việt Nam tạo được các giống cây trồng mới có năng suất và chất lượng vượt trội so với khu vực và thế giới: Năng suất lúa cao gấp rưỡi Thái Lan và cao nhất ASEAN; năng suất hồ tiêu và cá tra đứng đầu thế giới; năng suất cà phê và cao su đứng thứ hai thế giới. Nhiều tiến bộ kỹ thuật và quy trình công nghệ mới được ứng dụng trong trồng trọt, chăn nuôi, bảo quản sau thu hoạch và chế biến, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Trong công nghiệp và dịch vụ, các chuyên gia công nghệ trong nước đã đủ năng lực thiết kế, chế tạo các thiết bị cơ khí chính xác, siêu trường, siêu trọng, giàn khoan dầu khí tự nâng ở vùng nước sâu; thiết kế, thi công các loại cầu vượt sông khẩu độ lớn, hầm đường bộ, nhà cao tầng, nhà máy nhiệt điện, thủy điện quy mô lớn. Công nghệ thông tin và truyền thông thế hệ mới, công nghệ số được ứng dụng rộng trong các ngành dịch vụ ngân hàng, hàng không, bưu chính viễn thông. Nhiều công nghệ cao như điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, mạng di động 5G đã và đang được phát triển.
Trong lĩnh vực y dược, Việt Nam nằm trong top 3 nước ASEAN và 43 nước trên thế giới tự sản xuất được vaccine làm chủ các kỹ thuật và công nghệ y học hiện đại ở trình độ cao như ghép đa tạng, thụ tinh nhân tạo, ứng dụng tế bào gốc và kỹ thuật sinh học phân tử. Trong đại dịch COVID-19, đã kịp thời nghiên cứu, phát triển kit xét nghiệm nhanh, robot, máy thở, vaccine, phác đồ điều trị và kháng thể đơn dòng để sản xuất thuốc đặc hiệu điều trị COVID-19; góp phần kiểm soát và khống chế thành công dịch bệnh, là minh chứng cho hiệu quả của sự đầu tư kiên trì và chiến lược cho tiềm lực KH&CN nước nhà trong nhiều năm qua.
Tiếp tục đổi mới tư duy, hoàn thiện cơ chế, chính sách
Mặc dù đã đạt được nhiều tiến bộ vượt bậc, nhưng KH&CN nước ta phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và vị trí quốc sách hàng đầu. Đội ngũ cán bộ KH&CN tuy gia tăng về số lượng nhưng thiếu các chuyên gia giỏi đầu ngành trong nhiều lĩnh vực tiên phong. Các công trình nghiên cứu tầm cỡ quốc tế, có đóng góp đột phá đối với phát triển kinh tế - xã hội còn ít. Tốc độ đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp còn chậm, cho nên chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp. KH&CN chưa thật sự trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Thực trạng đó đặt ra thách thức rất lớn cho lực lượng KH&CN khi đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, hội nhập ngày càng sâu rộng và chịu sự tác động toàn cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định, một trong ba đột phá chiến lược, bên cạnh thể chế và hạ tầng, là đột phá về chất lượng nguồn nhân lực, KH&CN và đổi mới sáng tạo.
Trong thời gian tới, Bộ trưởng Huỳnh Thành Đạt cho rằng KH&CN và đổi mới sáng tạo cần tập trung vào 5 giải pháp sau:
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật phù hợp cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế để phát triển KH&CN, tôn trọng đặc thù của lao động sáng tạo, chấp nhận rủi ro và độ trễ trong khoa học, dỡ bỏ các rào cản duy ý chí và hành chính hóa hoạt động KH&CN.
Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN theo hướng chú trọng hiệu quả và tác động của nhiệm vụ KH&CN trong giải quyết các bài toán thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Chú trọng chất lượng và chỉ số tác động của các bài báo, công trình công bố quốc tế; khả năng ứng dụng và thương mại hóa kết quả KH&CN trong đời sống công nghiệp và xã hội; tăng cường công bố quốc tế trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Cho phép thử nghiệm chính sách mới, mô hình đổi mới sáng tạo và công nghệ mới.
Thứ hai, đổi mới hệ thống sáng tạo quốc gia lấy doanh nghiệp làm trung tâm, trường đại học, viện nghiên cứu là chủ thể nghiên cứu mạnh. Tiếp tục quan tâm phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo lành mạnh. Tăng cường thiết chế hợp tác công - tư, đồng tài trợ giữa Nhà nước và doanh nghiệp cho các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo. Phát triển đồng bộ, gắn kết chặt chẽ các ngành khoa học, đồng thời giữ nguyên tắc coi trọng khoa học xã hội và nhân văn, đầu tư nền tảng cho khoa học tự nhiên, ưu tiên khoa học kỹ thuật và công nghệ; nâng cao năng lực đón đầu các ứng dụng KH&CN tiên phong ở trình độ cao.
Xác định trúng và đúng tầm nhiệm vụ KH&CN, tập trung đầu tư và đầu tư tới ngưỡng để giải quyết các yêu cầu bức thiết trong phát triển đất nước, ngành, lĩnh vực và doanh nghiệp. Xem xét khả năng phân quyền và đầu tư phát triển tiềm lực KH&CN địa phương theo cụm, vùng lãnh thổ để phát huy được thế mạnh tổng hợp và lợi thế của vùng.
Thứ ba, bảo đảm các nguyên tắc công khai, minh bạch, độc lập phản biện (kể cả phản biện quốc tế) trong tuyển chọn và xét chọn nhiệm vụ KH&CN. Trao quyền tự chủ cho tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ KH&CN và tổ chức KH&CN công lập, đi đôi với cơ chế bắt buộc chịu sự đánh giá độc lập và giám sát xã hội, công khai kết quả hoạt động KH&CN. Rà soát hiện trạng để đầu tư có chọn lọc đối với một số tổ chức KH&CN trọng điểm, hiệu quả; xem xét chấm dứt đầu tư và giải thể các cơ sở hoạt động kém hiệu quả.
Thứ tư, tiếp tục đổi mới cơ chế đầu tư và tài chính cho KH&CN trên cơ sở cạnh tranh lành mạnh, có trọng tâm, trọng điểm, dựa trên chỉ số đo lường kết quả, hiệu quả đầu ra. Linh hoạt và đơn giản hóa thủ tục tuyển chọn nhiệm vụ KH&CN, thanh quyết toán tài chính theo thông lệ quốc tế, giảm tối đa các gánh nặng hành chính cho các nhà khoa học. Mạnh dạn giao quyền sở hữu kết quả KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước cho cơ quan chủ trì để thúc đẩy ứng dụng, thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước cho KH&CN và có cơ chế kinh tế, tài chính khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, tham gia mạnh hơn vào hoạt động nghiên cứu, phát triển và đổi mới công nghệ.
Thứ năm, tiếp tục đầu tư cải thiện hạ tầng KH&CN, tăng cường trang thiết bị nghiên cứu, nâng cao hiệu quả hoạt động của các phòng thí nghiệm trọng điểm, phòng thí nghiệm chuyên ngành; kiên trì đầu tư tăng cường tiềm lực thông tin KH&CN. Kết hợp đồng bộ giữa hạ tầng nghiên cứu, môi trường học thuật tiên tiến và tự chủ, chính sách đãi ngộ thỏa đáng và các cơ hội phát triển nghề nghiệp thuận lợi cho nhà khoa học. Mở rộng hợp tác quốc tế và kết nối, thu hút hiệu quả lực lượng khoa học là người Việt Nam ở nước ngoài. Trọng dụng, đãi ngộ người tài kết hợp đòi hỏi về tính liêm chính và đạo đức trong nghiên cứu.
Cải tổ bộ máy quản lý nhà nước và nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực quản lý KH&CN; đổi mới tư duy quản lý để ứng phó kịp với các thay đổi không ngừng và nhanh chóng của đời sống KH&CN; áp dụng công nghệ kỹ thuật cao trong quản lý hoạt động KH&CN để giảm thủ tục hành chính đối với các nhà khoa học, tổ chức KH&CN.

Kinh tế Việt Nam được dự báo sẽ tăng tốc trong năm mới 2021. - Ảnh: TNO
Thực hiện kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại phiên họp này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và các Phó Thủ tướng Chính phủ, ý kiến góp ý của thành viên Chính phủ và các cơ quan liên quan để hoàn thiện và Bộ đang tiếp tục lấy ý kiến các cơ quan liên quan về dự thảo này.Dự kiến, Nghị quyết này sẽ được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành ngay từ những ngày đầu năm mới. Ngày 18/12 vừa qua, dưới sự chủ trì của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Thường trực Chính phủ đã họp, thảo luận về dự thảo Nghị quyết 01 – Nghị quyết mang tính xương sống, kim chỉ nam cho chỉ đạo, điều hành cả năm 2021, năm khởi đầu của giai đoạn 5 năm tới.
Dự thảo nhận định, năm 2021, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, cạnh tranh chiến lược giữa một số quốc gia, khu vực tiếp tục diễn ra gay gắt. Đại dịch COVID-19 chưa thể sớm kết thúc, tác động tiêu cực có thể kéo dài, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, nhất là đối với đầu tư, thương mại, dịch vụ, du lịch, vận tải hàng không.
Ở trong nước, tác động của dịch bệnh, biến đổi khí hậu, thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn tiếp tục diễn biến phức tạp, yêu cầu nhiệm vụ cho đầu tư phát triển, phòng, chống dịch, bảo đảm an sinh xã hội rất lớn trong bối cảnh nguồn lực hạn chế. Các xu hướng mới về dịch chuyển đầu tư, thương mại, chuyển đổi số, cùng với sự thay đổi nhanh chóng của các mô hình kinh doanh, phương thức sản xuất, tiêu dùng, giao tiếp xã hội, khoa học công nghệ… vừa là thời cơ, vừa là thách thức.
Do đó, nhiệm vụ của năm 2021 rất nặng nề, vừa phải cố gắng vượt qua khó khăn, thách thức, quyết tâm hoàn thành vượt mức các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, vừa phải tích cực chuẩn bị các nhiệm vụ, chương trình, đề án, dự án,… để triển khai các kết luận, nghị quyết của Đảng, Quốc hội cho cả nhiệm kỳ, đòi hỏi phải tiếp tục nỗ lực tối đa, đổi mới sáng tạo, hành động quyết liệt, hiệu quả hơn trong năm 2021.
11 nhóm giải pháp, 206 nhiệm vụ cụ thể
Trên cơ sở đó, kế thừa những kết quả quan trọng và toàn diện đã đạt được, quyết tâm vượt qua mọi trở ngại, thách thức, tận dụng mọi thời cơ, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, mục tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2021 và chuẩn bị tốt nhất các điều kiện để triển khai nhiệm vụ của cả 5 năm, dự thảo Nghị quyết nêu 11 nhóm giải pháp và nhiệm vụ chủ yếu.
Cùng với đó là các phụ lục, nêu rõ các chỉ tiêu chủ yếu, 87 chỉ tiêu cụ thể cho các ngành, lĩnh vực và kịch bản tăng trưởng GDP năm 2021. Đặc biệt, phụ lục số 4 trong dự thảo nêu rõ 206 nhiệm vụ cụ thể, với cơ quan chủ trì theo dõi, đánh giá và mốc thời gian hoàn thành.
Trước ngày 20/1/2021, các bộ, cơ quan, địa phương xây dựng, ban hành Chương trình, Kế hoạch hành động, các văn bản cụ thể triển khai thực hiện Nghị quyết; trong đó xác định rõ, đầy đủ các mục tiêu, nhiệm vụ (bao gồm nhiệm vụ chủ trì và nhiệm vụ phối hợp với các cơ quan liên quan trong tổ chức thực hiện), tiến độ thực hiện và phân công đơn vị chủ trì.
Nghiên cứu, xây dựng, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và thực hiện những chính sách cụ thể để tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp, người dân bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch COVID-19 phù hợp với diễn biến thực tiễn xảy ra trong năm. Các bộ, ngành tổng hợp, phụ trách theo dõi các lĩnh vực kinh tế vĩ mô có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ, hiệu quả trong tham mưu, đề xuất các giải pháp, biện pháp cụ thể điều hành kinh tế vĩ mô, kịp thời báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện.
Theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng, bước vào năm 2021, năm đầu tiên thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2021-2030 và Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2021-2025, Việt Nam đang hướng đến các mục tiêu: Tập trung thực hiện hiệu quả mục tiêu vừa phòng, chống dịch bệnh, vừa phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội; thúc đẩy mạnh mẽ cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tính tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế; đẩy nhanh chuyển đổi số và phát triển nền kinh tế số, xây dựng xã hội số; chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, thuận lợi để khơi thông các nguồn lực cho phát triển; và đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Đưa ‘đổi mới sáng tạo’ vào phương châm hành động
Trao đổi với Báo điện tử Chính phủ, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Quốc Phương cho biết, theo dự báo tình hình năm 2021 như dự thảo Nghị quyết, khó khăn và thuận lợi sẽ tiếp tục đan xen. Trong đó, điểm nổi bật nhất là tình hình COVID-19 sẽ tiếp tục và diễn biến khó lường.
“Điều này yêu cầu nhiệm vụ điều hành kinh tế - xã hội 2021 nhìn chung phải tiếp tục thực hiện mục tiêu kép mà Thủ tướng Chính phủ đã đề ra, mặc dù với sự tham gia của nhân tố vaccine, đối sách với COVID-19 có thể sẽ có những thay đổi nhất định”, Thứ trưởng nói.
Thứ trưởng cho biết, số liệu về các kết quả của nền kinh tế đạt được năm 2020 sẽ tiếp tục được cập nhật trong những ngày tới để báo cáo Chính phủ và thảo luận tại Hội nghị. Tuy nhiên, các số liệu của 11 tháng và những ngày đầu tháng 12 đều cho thấy xu hướng phục hồi của nền kinh tế là khá tốt.
Trong phương châm hành động của Chính phủ, bên cạnh kỷ cương, đoàn kết và quyết liệt hành động vẫn là những yếu tố nền tảng, còn có những điểm mới. Trong đó, đổi mới sáng tạo là chìa khóa để tận dụng được các cơ hội trong những năm tới. Còn khát vọng phát triển là nội dung đã được Hội nghị Trung ương cho ý kiến và Nghị quyết của Chính phủ muốn thể hiện mạnh mẽ khát vọng vươn lên ngay từ năm đầu của chu kỳ kế hoạch 5 năm và chiến lược 10 năm.
Về 11 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, đây đều là những vấn đề cốt lõi, quan trọng nhất trong chỉ đạo, điều hành năm 2021, bao quát toàn diện các lĩnh vực. Trong đó, hai nhiệm vụ đầu (tổ chức Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, bầu cử Quốc hội, HĐND các cấp và phòng chống dịch COVID-19) là những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của năm 2021.
Riêng về đầu tư công, năm 2021 sẽ là năm đầu tiên của chu kỳ đầu tư công trung hạn, dự kiến tháng 7/2021, Quốc hội sẽ thông qua kế hoạch đầu tư công trung hạn. Triển khai Nghị quyết 129 của Quốc hội về phân bổ ngân sách trung ương năm 2021, Chính phủ đã hết sức thận trọng, xin ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nhằm phân bổ vốn 2021 đúng quy định, tạo điều kiện cho các bộ, ngành, địa phương triển khai kế hoạch đầu tư công và giải ngân ngay từ đầu năm.
Một nhiệm vụ khác, theo Thứ trưởng Trần Quốc Phương, phải tăng cường công tác bố trí vốn và triển khai công tác chuẩn bị đầu tư cho các dự án quan trọng, các dự án hạ tầng quy mô lớn, có tác động lan tỏa, tạo đà cho tăng trưởng, phát triển trong dài hạn. Chính phủ đã lựa chọn một số dự án như vậy để khởi động ngay từ năm 2021 với mục tiêu, khi bước vào kế hoạch trung hạn, các dự này hoàn toàn có đủ điều kiện đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân trong các năm tiếp theo. Cùng với đó, ưu tiên nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ, kết thúc sớm các dự án thuộc tuyến cao tốc Bắc – Nam phía Đông.
Hà Chính - baochinhphu.vn
Để đất nước phát triển nhanh hơn, bền vững hơn, cần phải có những ngành kinh tế, cộng đồng doanh nghiệp có khả năng tạo ra động lực, sức lan tỏa mới, phá vỡ quy luật phát triển tuyến tính bình thường.

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu tại Diễn đàn quốc gia về Phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam 2020. Ảnh: VGP/Đình Nam
Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh điều này trong Diễn đàn quốc gia về Phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam 2020 với chủ đề “Doanh nghiệp công nghệ số - Động lực thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển kinh tế số Việt Nam”, ngày 23/12, diễn ra tại Hà Nội.
Tự tin, chủ động sáng tạo
Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho rằng Diễn đàn ngày hôm nay đã bước đầu định danh được một cộng đồng doanh nghiệp số với tốc độ phát triển rất nhanh.
Sau gần 1 năm thực hiện Chỉ thị 01/CT-TTg ngày 14/1/2020 của Thủ tướng Chính phủ về “Phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam" đã có trên 13.000 doanh nghiệp công nghệ số ra đời, tăng 28%. Hiện Việt Nam có cộng đồng trên 58.000 doanh nghiệp và mục tiêu 100.000 doanh nghiệp công nghệ số vào năm 2030 có thể đạt được vào năm 2025.
“Make in Viet Nam” trở thành một khẩu hiệu hành động, góp phần thúc giục tinh thần thiết kế, sáng tạo, làm ra sản phẩm tại Việt Nam; thay vì làm gia công, lắp ráp, hãy làm sản phẩm phần mềm, phần cứng, dịch vụ công nghệ thông tin.
Theo Phó Thủ tướng, với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thế giới ngày càng bé lại, có nhiều biến động và cũng nhạy cảm hơn, dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, dịch bệnh và cả an toàn, an ninh mạng. Điển hình, dịch bệnh COVID-19 thậm chí đã có thể làm đảo lộn thế giới, nhiều ngành sản xuất phải mất nhiều năm mới quay lại được trạng thái như trước đây.
“Và thành công trong phòng chống dịch bệnh COVID-19 của Việt Nam, dù không phải là nước đứng đầu thế giới về trình độ y tế, là bởi vì chúng ta biết mình đang ở đâu trên bản đồ y tế thế giới, biết được điểm mạnh, hạn chế của ngành y tế, hệ thống quản trị xã hội để có những giải pháp đúng, nhanh và kịp thời từ sự đóng góp, tổng hợp của đông đảo ý kiến chuyên gia và cả những người không làm về y tế”, Phó Thủ tướng chia sẻ và khẳng định Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ luôn ủng hộ các sáng kiến nhằm khơi dậy niềm tự hào, khát vọng, sự thôi thúc người Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ, để chủ động, sáng tạo ra những giải pháp công nghệ, thiết kế những sản phẩm mới có chứa hàm lượng trí tuệ của người Việt Nam”.
Khơi dậy tiềm lực của mọi người Việt Nam
Phó Thủ tướng nêu rõ: Việt Nam luôn đặt mình là một phần của thế giới. Chúng ta luôn nêu cao tinh thần cởi mở, hợp tác quốc tế, tạo điều kiện cho mọi đối tác, doanh nghiệp nước ngoài làm ăn, kinh doanh, và đóng góp vào sự phát triển công nghệ thông tin nói riêng, kinh tế-xã hội nói chung của Việt Nam. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Việt Nam cũng cần chủ động nắm bắt công nghệ, tự tin thiết kế, sáng tạo ra những giải pháp và cách làm riêng để cạnh tranh bình đẳng trước hết ở thị trường trong nước. Các doanh nghiệp Việt Nam, trước hết là cộng đồng doanh nghiệp số có thể làm được nếu biết khơi dậy tiềm lực của tất cả người Việt Nam trong nước, nước ngoài, và cả những người đang gắn bó với mảnh đất Việt Nam.
Cơ sở niềm tin đó trước hết đến từ truyền thống yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc của mỗi người dân Việt Nam, từ đó khơi dậy được sự sáng tạo và sức mạnh của toàn dân, cùng với sức mạnh thời đại, vượt qua rất nhiều thách thức mà nhiều khi, nhiều người tưởng chừng không thể vượt qua được.
Phó Thủ tướng dẫn chứng: Dù rất khó khăn, chưa hài lòng nhưng thực tế Việt Nam vẫn là một quốc gia có tốc độ tăng trưởng nhanh thuộc nhóm hàng đầu thế giới trong hơn 20 năm liên tục. Mặc dù thu nhập bình quân GDP theo đầu người của Việt Nam mới ở khoảng 100, nhưng chỉ số phát triển bền vững của chúng ta xếp thứ 49. Điều đó thể hiện sự ưu việt của chế độ và con đường phát triển của Việt Nam là đúng, tương đồng với 17 nhóm tiêu chí và 169 tiêu chí cụ thể của Chương trình nghị sự phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc thể hiện khát vọng chung của nhân loại như: Xây dựng môi trường hòa bình, hợp tác, phát triển kinh tế, chăm lo cho tất cả mọi người đặc biệt là những người yếu thế, bảo vệ thiên nhiên, môi trường…
Sự tự tin còn đến từ số lượng doanh nghiệp công nghệ số thành lập mới hay những “doanh nghiệp kỳ lân”, số lượng dịch vụ số của doanh nghiệp Việt Nam được thế giới và chính người Việt Nam sử dụng. Cùng với đó là chất lượng đào tạo nhân lực của Việt Nam với chỉ số giáo dục phổ thông tiếp cận với nhóm các nước OECD, giáo dục đại học dần được cải thiện thứ hạng, chỉ số sáng tạo đứng thứ 42 trên thế giới, trong khi nếu tính về chỉ số thu nhập GDP bình quân trên đầu người Việt Nam đứng ở thứ hạng khoảng 100 và nhiều chỉ số khác trên các bảng xếp hạng quốc tế thì thường ở vị trí 70 đến 80 như năng lực cạnh tranh quốc gia, môi trường kinh doanh, chính phủ điện tử…
“Đấy là nền tảng cơ sở để chúng ta có thể tự tin nếu có chính sách đúng, cùng nắm tay nhau thì có thể làm được những điều tưởng chừng không thể làm được. Và cộng đồng doanh nghiệp số Việt Nam có thể tự tin góp sức lớn hơn để đưa đất nước phát triển nhanh hơn, bền vững hơn”, Phó Thủ tướng nói.

Ảnh: VGP/Đình Nam
Bứt phá khỏi quy luật phát triển thông thường
Để đạt được mục tiêu phát triển nhanh hơn, Phó Thủ tướng cho rằng nhất thiết phải xác định, tạo điều kiện cho những ngành kinh tế có khả năng tạo ra động lực, sức lan tỏa mới, những cộng đồng doanh nghiệp có thể phá vỡ quy luật phát triển tuyến tính bình thường.
“Tốc độ tăng trưởng kinh tế chung của Việt Nam ở mức dưới 10%. Chúng ta phải đặt ra mục tiêu tăng trưởng doanh nghiệp công nghệ số từ 15-20% và thậm chí là nhanh hơn nữa”, Phó Thủ tướng nêu vấn đề và cho rằng cộng đồng khởi nghiệp sáng tạo (start-up), các doanh nghiệp số phải có sự khát khao và nhiệt huyết vượt qua tất cả khó khăn bên ngoài, sự cản trở bên trong để vươn lên ngang bằng các doanh nghiệp, tập đoàn lớn.
Về yêu cầu bền vững, Phó Thủ tướng đánh giá phần lớn sản phẩm được vinh danh tại Cuộc thi Giải thưởng “Sản phẩm công nghệ số Make in Viet Nam” năm 2020 đã hướng tới phục vụ những nhu cầu thiết yếu của con người, đặc biệt những vấn đề thường ít được nói đến ở một nước đang phát triển như sức khỏe, giáo dục, giao thông, vui chơi giải trí… “Đây chính là những nguồn khách hàng, nơi khởi nguồn dịch vụ mà nếu các doanh nghiệp công nghệ số làm tốt sẽ góp phần làm cho đất nước phát triển bền vững hơn”.

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam trao Giải Nhất hạng mục "Giải thưởng nền tảng số xuất sắc" cho "Base.vn - Nền tảng quản trị và điều hành doanh nghiệp số". Ảnh: VGP/Đình Nam
Lịch sử trao cho sứ mệnh tiên phong
Nhắc lại những ngày đầu mạnh dạn tiên phong, đổi mới của ngành bưu điện trước đây, Phó Thủ tướng nhấn mạnh một lần nữa sứ mệnh tiên phong lại được trao cho các doanh nghiệp công nghệ thông tin hôm nay.
Để đất nước phát triển nhanh hơn thì công nghệ thông tin, công nghệ số phải đi nhanh hơn nữa bằng những mô hình, giải pháp của Việt Nam. “Công nghệ có thể chưa hoàn toàn là của Việt Nam. Chúng ta cũng không có tham vọng thay tất cả các tập đoàn khổng lồ trên thế giới để làm tất cả các công nghệ nền tảng nhưng quan trọng nhất là làm chủ và có giải pháp để sử dụng hiệu quả nhất. Tinh thần này không chỉ được khơi dậy, thôi thúc trong cộng đồng doanh nghiệp số mà phải đến với mọi doanh nghiệp Việt Nam và ra toàn xã hội”, Phó Thủ tướng nói và khẳng định Chính phủ sẽ là chỗ dựa vững chắc cho các doanh nghiệp, từ giữ gìn đất nước hòa bình, ổn định, hợp tác, cải thiện môi trường kinh doanh đến việc đặt ra các “bài toán” để doanh nghiệp mở giải pháp, mở dữ liệu, sáng kiến để kết nối, hỗ trợ lẫn nhau.
“Chúng ta đi sau nên phải rất khẩn trương, nắm chặt tay trong một đội hình bước thật đều, thật nhanh”, Phó Thủ tướng mong muốn và chúc cộng đồng doanh nghiệp số Việt Nam tiếp tục phát triển, đóng góp vào sự nghiệp phát triển công nghệ thông tin, chuyển đổi số có được những bước tiến mới,góp phần làm cho đất nước phát triển nhanh hơn và bền vững hơn.
Bộ Khoa học và Công nghệ đang dự thảo Thông tư hướng dẫn một số nội dung về thu hút, sử dụng và trọng dụng nhân tài để lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định.
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
1. Thành tích khoa học và công nghệ để xét tiếp nhận vào viên chức và bổ nhiệm vào chức danh nghiên cứu khoa học và chức danh công nghệ; Hội đồng kiểm tra, sát hạch, cách tính điểm để xác định người được tiếp nhận vào viên chức và bổ nhiệm, xếp lương vào chức danh khoa học, chức danh công nghệ.
2. Thành tích khoa học và công nghệ để xét bổ nhiệm đặc cách vào chức danh nghiên cứu khoa học, chức danh công nghệ; Hội đồng xét bổ nhiệm đặc cách vào chức danh nghiên cứu khoa học, chức danh công nghệ cao hơn không qua thi thăng hạng, không phụ thuộc vào năm công tác.
3. Đề án định hướng phát triển chuyên ngành khoa học; thành phần, nhiệm vụ, nguyên tắc làm việc của các Hội đồng trong quy trình lựa chọn, công nhận nhà khoa học đầu ngành; việc tiếp tục hoặc dừng áp dụng chính sách trọng dụng đối với nhà khoa học đầu ngành.
Dự thảo nêu rõ, thành tích khoa học và công nghệ để xem xét áp dụng chính sách trọng dụng bao gồm:
1. Bài báo khoa học đã được công bố trên tạp chí khoa học uy tín trong nước và quốc tế; báo cáo khoa học tại hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế được in trong kỷ yếu hội thảo đã được xuất bản; sách chuyên khảo đã được xuất bản theo quy định của pháp luật. Yêu cầu về bài báo khoa học và sách chuyên khảo thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 1 Thông tư số 01/2020/TT-BKHCN ngày 20/01/2020 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 24/2014/TTLT-BKHCN-BNV ngày 01/10/2014 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành khoa học và công nghệ.
2. Giải thưởng khoa học và công nghệ trong nước, quốc tế được xác định theo quy định tại Nghị định số 78/2014/NĐ-CP ngày 30/7/2014 của Chính phủ về Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước và các giải thưởng khác về khoa học và công nghệ, Nghị định số 60/2019/NĐ-CP ngày 05/7/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 78/2014/NĐ-CP ngày 30/7/2014 của Chính phủ về Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước và các giải thưởng khác về khoa học và công nghệ và các văn bản hướng dẫn thi hành.
3. Sáng chế, giải pháp hữu ích, giống cây trồng đã được cấp văn bằng bảo hộ hoặc đã được ứng dụng có hiệu quả trong thực tiễn.
4. Thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia, cấp bộ, cấp tỉnh và được nghiệm thu ở mức đạt trở lên.
5. Dự án, công trình, đồ án thuộc chuyên ngành kỹ thuật là các dự án, công trình, đồ án phát triển, ứng dụng, triển khai công nghệ hoặc các nhiệm vụ khác thuộc phạm vi ngành kỹ thuật, kinh tế-kỹ thuật cá nhân đảm nhiệm, được phân theo loại và cấp (nhóm) tại quy định của pháp luật chuyên ngành.
6. Điểm quy đổi kết quả hoạt động chuyên môn được xác định theo Khoản 2 Điều 1 Thông tư số 01/2020/TT-BKHCN ngày 20/01/2020 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 24/2014/TTLT-BKHCN-BNV ngày 01/10/2014 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành khoa học và công nghệ.
Ngoài ra, dự thảo cũng đề xuất những quy định cụ thể về việc tiếp nhận vào viên chức và bổ nhiệm chức danh nghiên cứu khoa học, chức danh công nghệ; đặc cách bổ nhiệm vào hạng chức danh nghề nghiệp cao hơn không thông qua thi thăng hạng, không phụ thuộc năm công tác; trọng dụng nhà khoa học đầu ngành…

Ông Nguyễn Trọng Thừa, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, phát biểu chỉ đạo tại hội nghị. Ảnh: LÊ THOA
Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, ông Nguyễn Trọng Thừa, Thứ trưởng Bộ Nội vụ đánh giá cao những kết quả mà TP.HCM đạt được về cải cách hành chính trong những năm qua.
Thứ trưởng Bộ Nội vụ khẳng định: TP.HCM là một trong những địa phương chủ động sáng tạo trong cải cách hành chính, có chương trình hành động cụ thể của Thành ủy, có Nghị quyết chuyên đề của HĐND TP và thành lập Ban chỉ đạo về cải cách hành chính.
Theo ông Nguyễn Trọng Thừa, TP.HCM là điểm sáng về cải cách hành chính, nổi bật lên nhiều mô hình mà cả nước có thể rút kinh nghiệm, nhân rộng. Chẳng hạn mô hình ‘Bình Thạnh trực tuyến’, ‘Bình Tân công dân số’, ‘Phòng họp không giấy’...
“TP.HCM đã luôn coi người dân là trung tâm của cải cách hành chính, coi sự hài lòng của người dân là thước đo. Với mục đích cuối cùng là xây dựng chính quyền kiến tạo, phục vụ dân” – ông Thừa nói.

Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Trọng Thừa trao tặng bằng khen cho ông Huỳnh Văn Hạnh, Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM. Ảnh: LÊ THOA
Thứ trưởng Bộ Nội vụ cũng cho rằng TP.HCM là địa phương đầu tiên thí điểm thành lập Ban quản lý an toàn thực phẩm, nghiên cứu về Đô thị thông minh. Đồng thời, kịp thời đề xuất không tổ chức HĐND quận, phường và xây dựng TP Thủ Đức, thể hiện mong mỏi về một TP mới là mang tầm sáng tạo.
Ông Nguyễn Trọng Thừa cũng đề nghị TP.HCM nhìn nhận sâu hơn, khắc phục những tồn tại trong cải cách hành chính. Sắp xếp kiện toàn bộ máy, tăng cường kiểm tra siết chặt kỷ cương hành chính… làm sao để TP.HCM tiếp tục giữ vững vai trò đầu tàu kinh tế - xã hội của cả nước, là TP thông minh điển hình trên cả nước.
Tiếp thu chỉ đạo của Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Phó Chủ tịch UBND TP Ngô Minh Châu cũng nhìn nhận, thời gian tới TP.HCM vẫn còn gặp nhiều thách thức, trong đó dịch COVID-19 vẫn chưa có dấu hiệu kết thúc. Xu thế cải cách hành chính phải đáp ứng nhu cầu chủ động, tích cực từ phía người dân, doanh nghiệp.
Phó Chủ tịch UBND TP Ngô Minh Châu phát biểu tại hội nghị. Ảnh: LÊ THOA
Theo ông Ngô Minh Châu, TP.HCM cần tập trung xây dựng hình ảnh chính quyền phục vụ nhân dân thân thiện, hiện đại, đoàn kết, nghĩa tình. Thủ trưởng các sở/ngành, Chủ tịch UBND quận/huyện phải chịu trách nhiệm chính đối với công tác cải cách hành chính, lấy tỉ lệ hài lòng làm căn cứ, điều kiện đánh giá cán bộ, bình xét thi đua… nhất là người đứng đầu.
Công tác cải cách hành chính phải gắn với các giải pháp cụ thể, có tính nhân rộng, áp dụng lâu dài, ứng dụng công nghệ thông tin, tiếp thu ý kiến đóng góp của người dân.
Phó Chủ tịch UBND TP chỉ đạo cấp ủy, thủ trưởng các đơn vị phải kịp thời nắm rõ nguyên nhân không hài lòng của cá nhân, tổ chức trong lúc giải quyết thủ tục hành chính để kịp thời chấn chỉnh khắc phục. Các đơn vị cần chủ động tổ chức kiểm tra công vụ đối với các trường hợp hồ sơ trả bổ sung, trễ hạn. Từ đó, hạn chế thấp nhất tình trạng trễ hạn hồ sơ, nhất là trong lĩnh vực đất đai, xây dựng, quy hoạch, đầu tư.
“Mỗi cán bộ, công chức, viên chức là một đại sứ cải cách hành chính, thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ được giao. Nhiệt tình, thân thiện, vui vẻ khi tiếp xúc, giải quyết công việc cho người dân, doanh nghiệp” – Phó Chủ tịch UBND TP chỉ đạo.
Cũng theo ông Ngô Minh Châu, TP.HCM sẽ thực hiện thanh tra, xử lý các phản ánh, khiếu nại, tố cáo liên quan đến công tác cải cách hành chính. Kiểm tra đột xuất đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Xử lý nghiêm những cá nhân, cơ quan có hành vi, thái độ gây khó khăn, nhũng nhiễu doanh nghiệp, người dân.
TP còn khuyến khích và tạo thói quen cho người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4. Có giải pháp chuyển dần việc nộp hồ sơ trực tiếp, tiếp xúc với công chức sang nộp hồ sơ thông qua môi trường mạng.
Với quyết tâm triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 30c/NQ-CP của Chính phủ, TP. Hồ Chí Minh đã đẩy mạnh các phong trào thi đua về cải cách hành chính, nhiều mô hình mới, cách làm hay, sáng tạo đã và đang phục vụ có hiệu quả trong hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn thành phố; nhiều mô hình được Trung ương nghiên cứu, triển khai nhân rộng cả nước, trong đó nổi bật một số mô hình như:
Ban hành quy chế thực hiện cơ chế một cửa liên thông nhóm thủ tục hành chínhthuộc lĩnh vực hộ tịch, bảo hiểm y tế và đăng ký, quản lý cư trú trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh được các cơ quan Trung ương triển khai nhân rộng cả nước ban hành Thông tư liên tịch số 05/2015/TTLT-BTP-BCA-BYT ngày 10/6/2015 của liên Bộ: Tư pháp, Công an, Y tế hướng dẫn thực hiện liên thông các thủ tục hành chính về đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp Thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi.
Nghị quyết số 28/2018/NQ-HĐND ngày 07/12/2018 của Hội đồng nhân dân thành phố về giảm lệ phí thực hiện các thủ tục hành chính áp dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân thành phố; Ban hành Quy chế thực hiện liên thông nhóm thủ tục đăng ký hộ kinh doanh và đăng ký thuế trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
Phần mềm “Khảo sát không hài lòng của người bệnh tại các bệnh viện công lập trên địa bàn thành phố”; Giải pháp “Xây dựng Website mời gọi đầu tư các dự án trong các lĩnh vực của TP.Hồ Chí Minh” http://www.ppp.tphcm.gov.vn; Ứng dụng trực tuyến tại các quận – 19 huyện; Ứng dụng trực tuyến về giao thông, quy hoạch đô thị, xây dựng, Tổng đài 1022 tiếp nhận và giải đáp thông tin của người dân, tổ chức...các mô hình tuyên truyền, vận động, hỗ trợ nhân dân giải quyết thủ tục hành chính.
Các mô hình sáng kiến, giải pháp hiệu quả về giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chínhđã mang lại nhiều tác động tích cực như: Giảm thời hạn giải quyết, giảm chi phí đilại cho cá nhân, tổ chức trong thực hiện thủ tục hành chính; góp phần hoàn thành tốt công tác đơn giản hóa thủ tục hành chínhtrong thực hiện nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính; tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước các lĩnh vực thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dânquận - huyện, phường - xã, thị trấn; thay đổi phương thức làm việc trong giai đoạn phòng, chống dịch COVID-19, vừa đảm bảo công tác phòng, chống dịch, vừa mang lại hiệu quả trong giải quyết các hồ sơ, thủtục hành chínhcho người dân, doanh nghiệp, đã góp phần để thành phố thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh theo Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ.
Nguồn: Sở Nội vụ TP. Hồ Chí Minh

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam: Trong đại dịch COVID-19, CNTT dường như có thêm động lực để phát triển nhanh hơn, gắn sát hơn với cuộc sống thực tiễn. Ảnh: VGP/Đình Nam
Theo Phó Thủ tướng, chuyển đổi số đã dần trở thành xu thế không thể đảo ngược, mở ra cho mỗi quốc gia, mỗi nền kinh tế, mỗi tổ chức, mỗi cá nhân cơ hội phát triển chưa từng có, gắn với đó là những thách thức và yêu cầu phải tự điều chỉnh.Hội nghị Bộ trưởng các nước ITU 2020 tập trung thảo luận quanh chủ đề hoạch định chiến lược số trong và sau COVID-19 và định hướng cho quan hệ hợp tác giữa ITU với các quốc gia thành viên trong triển khai các chương trình chuyển đổi số. Đây cũng là cơ hội để các bộ trưởng và lãnh đạo doanh nghiệp đối thoại về chính sách, chiến lược nhằm phát huy hơn nữa vai trò thiết yếu công nghệ thông tin-viễn thông trong phòng chống đại dịch COVID-19 và phục hồi kinh tế.
Chuyển đổi số không chỉ là chuyển đổi công nghệ mà quan trọng hơn là chuyển đổi về tư duy thiết kế và nội dung chính sách ở cả tầm vĩ mô và vi mô. Nhiều điều ngày hôm qua, hôm nay là đúng nhưng sẽ phải thay đổi và phải thay đổi rất nhanh.
Là một quốc gia đang phát triển, hơn 30 năm qua Việt Nam đã duy trì được môi trường ổn định, hợp tác, phát triển và tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm ít nước cao nhất thế giới. Trong nỗ lực và kết quả đó có sự góp phần quan trọng - nhiều thời điểm có tính mở đường - của ngành viễn thông và công nghệ thông tin.
Xác định sự cần thiết thúc đẩy chuyển đổi số mạnh mẽ hơn nữa để phục vụ con người, để không ai bị bỏ lại phía sau, Chính phủ Việt Nam đã ban hành một Chương trình chuyển đổi số quốc gia với những mục tiêu, giải pháp cụ thể.

Ảnh: VGP/Đình Nam
Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho rằng việc lựa chọn chủ đề của Hội nghị không chỉ mang tính thời sự nóng bỏng mà còn có ý nghĩa, rất chiến lược lâu dài. Ngay giờ phút này, người dân Việt Nam, hàng tỷ người trên toàn thế giới đang phải căng mình chống dịch COVID-19. Mấy hôm nay, con số nhiễm bệnh mới trên thế giới đã lên tới trên dưới 400.000 ca mỗi ngày.
Là người đứng đầu Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng, chống dịch COVID-19 của Việt Nam, Phó Thủ tướng chia sẻ sâu sắc trước những khó khăn và vất vả của những người tham gia chống dịch và nhấn mạnh trong “cuộc chiến” này công nghệ thông tin-truyền thông có vai trò và đóng góp rất quan trọng.
“Muốn chiến thắng dịch bệnh thì nhất thiết phải huy động được mọi người dân cùng tham gia chống dịch. Công nghệ thông tin-truyền thông giúp thông tin kịp thời, minh bạch về dịch bệnh và hướng dẫn mỗi người dân phải làm gì để bảo vệ mình và cộng đồng.
Công nghệ thông tin-truyền thông giúp thực hiện truy vết, quản lý người nhiễm và người có nguy cơ lây nhiễm; giúp điều trị hiệu quả hơn. Đặc biệt là giúp kết nối quốc tế, tăng cường hợp tác trong nghiên cứu về virus, sinh phẩm xét nghiệm, vaccine…”, Phó Thủ tướng nói.
Công nghệ thông tin-truyền thông cũng giúp Nhà nước, doanh nghiệp và mọi người tổ chức lại và duy trì các hoạt động của mình trong một trạng thái bình thường mới.
Trong đại dịch COVID-19, công nghệ thông tin dường như có thêm động lực để phát triển nhanh hơn, gắn sát hơn với cuộc sống thực tiễn.

Sau phiên khai mạc Hội nghị và Triển lãm thế giới số 2020 (ITU Digital World) sẽ có 3 phiên thảo luận chuyên đề về kết nối, chuyển đối số và phát triển bền vững. Ảnh: VGP/Đình Nam
Để cùng chung tay thúc đẩy phát triển công nghệ số, thúc đẩy chuyển đổi số vì một thế giới hòa bình, hợp tác và thịnh vượng, trực tiếp hiện nay là chiến thắng đại dịch COVID-19 và ổn định, phát triển trong và sau đại dịch, Phó Thủ tướng nêu một số vấn đề cần trao đổi, thảo luận tại Hội nghị.
Trước hết là sự cần thiết hoạch định một chiến lược số trong và sau đại dịch COVID-19, trong đó có những định hướng cho quan hệ hợp tác giữa ITU với các quốc gia thành viên trong chuyển đổi số.
Các nước thành viên ITU cần thúc đẩy việc xây dựng các chuẩn mở cho công nghệ mạng 5G, tạo cạnh tranh giữa các nhà sản xuất, giảm chi phí xây dựng mạng lưới; thảo luận tìm sự thống nhất xây dựng công ước quốc tế, hoặc thỏa thuận quốc tế về không gian mạng để thúc đẩy hợp tác trên cơ sở bảo đảm an toàn an ninh mạng, bảo đảm chủ quyền các quốc gia, quyền và lợi ích công dân trên không gian mạng.
Khẳng định cam kết của Việt Nam sẽ cùng các nước thành viên đóng góp và xây dựng ITU hoạt động ngày càng hiệu quả, hoàn thành sứ mệnh cao cả của Liên minh, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam tin tưởng Hội nghị sẽ thành công và sẽ đưa ra nhiều sáng kiến cùng các khuyến nghị để thúc đẩy tiến trình chuyển đổi số trên toàn cầu, hướng tới tương lai tương sáng, tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người dân trên thế giới.
Phát biểu chỉ đạo tại đại hội, Phó Bí thư thường trực Thành ủy TP.HCM Trần Lưu Quang đánh giá những kết quả hoạt động của Đảng bộ khối là khá toàn diện, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ TP.HCM.
Cải cách hành chính, nâng cao trách nhiệm
Tuy nhiên, ông Trần Lưu Quang cũng cho rằng công tác quản lý đảng viên của đảng bộ, chi bộ có nơi chưa chặt chẽ. Một số cấp ủy chưa chủ động thực hiện công tác kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm. Công tác tự kiểm tra nội bộ, giám sát về phòng, chống tham nhũng, lãng phí ở một số cấp ủy cơ sở chưa được quan tâm đúng mức…
Trong nhiệm kỳ 2020-2025, ông Trần Lưu Quang đề nghị Đảng bộ khối cần lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị gắn sát với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, nhất là các chương trình phát triển của TP.HCM.
“Mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng cần có giải pháp nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, thực hiện chế độ công chức, công vụ, thực hiện cải cách hành chính, nâng cao đạo đức công vụ, hiệu quả công việc. Cùng đó là xây dựng văn minh công sở, thực hiện công khai, minh bạch, tận tụy trong giải quyết công việc với tổ chức, doanh nghiệp và người dân, góp phần củng cố niềm tin trong nhân dân” - ông Quang nói.
Bên cạnh đó, ông Trần Lưu Quang cũng đề nghị cần tiếp tục có các giải pháp mang tính đột phá hơn nữa để nhận diện và phòng, chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Đồng thời, tăng cường tính chủ động của các cấp ủy cơ sở trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng; khẩn trương giải quyết những thông tin phản ánh liên quan đến các tập thể, cá nhân suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Ngoài ra, ông Trần Lưu Quang cũng đề nghị Đảng bộ khối thực hiện tốt công tác đánh giá cán bộ, công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ làm nhiệm vụ tham mưu chiến lược, cán bộ làm việc trong các cơ quan, bộ phận trực tiếp tham mưu, giúp việc.
Ông Trần Lưu Quang, Phó Bí thư thường trực Thành ủy TP.HCM, phát biểu chỉ đạo tại đại hội. Ảnh: PHƯƠNG THÙY
Luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, vươn lên
Trước đó, Bí thư Đảng ủy Khối dân - chính - đảng TP.HCM Võ Ngọc Quốc Thuận cho biết trong nhiệm kỳ qua, Đảng bộ khối luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, động viên mạnh mẽ sức sáng tạo, nỗ lực vươn lên của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ TP.HCM. Hầu hết các chỉ tiêu đều cơ bản đạt và vượt.
|
2.231 là số lượng đảng viên đã được phát triển trong nhiệm kỳ qua của toàn Đảng bộ (đạt 111,55%), vượt chỉ tiêu so với nghị quyết Đại hội Đảng bộ khối lần thứ II đề ra là 2.000 đảng viên. |
Bà Lê Thị Hồng Nga, Phó Bí thư thường trực Đảng ủy Khối dân - chính - đảng TP.HCM, cho biết nhiệm kỳ qua, một trong những điểm đột phá của Đảng ủy khối là đã chủ động đề xuất, phối hợp với Ban Tổ chức Thành ủy và các cơ quan, đơn vị có liên quan tham mưu Ban Thường vụ Thành ủy ban hành Quyết định 827 ngày 8-3-2017 về quy chế phối hợp công tác giữa Đảng ủy Khối dân - chính - đảng TP với các Ban Thành ủy, Ủy ban Kiểm tra Thành ủy, ban cán sự đảng UBND TP và lãnh đạo các cơ quan, đơn vị có tổ chức cơ sở Đảng trực thuộc Đảng bộ khối.
Theo bà Nga, quy chế này đã góp phần tháo gỡ điểm nghẽn trong công tác cán bộ, trao đổi, thực hiện quy trình phân công công tác cán bộ, bổ nhiệm cấp trưởng, phó trưởng phòng và tương đương, bổ nhiệm cán bộ là cấp ủy viên các cơ sở Đảng có sự chuyển động tích cực.
Trong nhiệm kỳ qua, Đảng bộ khối cũng đã xây dựng, lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện sáu chương trình trọng tâm của Đảng bộ khối như chương trình chủ động phòng, chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, phản bác các quan điểm sai trái; nâng cao chất lượng học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh...

Yêu cầu đẩy nhanh hơn nữa tiến trình chuyển đổi số, Chính phủ điện tử, giao dịch điện tử, theo lý giải của Chính phủ tại Nghị quyết 118 về phiên họp thường kỳ tháng 7/2020 mới ban hành, là nhằm theo kịp xu thế, đáp ứng yêu cầu phát triển, góp phần giảm thiểu rủi ro từ dịch bệnh.
Cũng tại Nghị quyết này, Chính phủ chỉ đạo Bộ TT&TT chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đẩy mạnh tuyên truyền về các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19, vận động toàn dân cài đặt ứng dụng Bluezone - phần mềm hỗ trợ truy vết người nhiễm Covid-19.
Bộ TT&TT còn có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan báo chí tăng cường thông tin, tuyên truyền về biện pháp phòng chống dịch Covid-19, các giải pháp, chính sách hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội.
Đồng thời, tiếp tục tăng cường kiểm soát, chấn chỉnh thông tin trên mạng xã hội; xử lý nghiêm khắc những trường hợp thông tin sai sự thật, tin độc, hại; báo cáo Thủ tướng Chính phủ giải pháp tổng thể tháo gỡ khó khăn cho ngành báo chí trong bối cảnh dịch Covid-19.
Riêng với việc xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ chỉ đạo các bộ, cơ quan tiếp tục thực hiện nghiêm việc gửi nhận văn bản điện tử và đổi mới phương thức làm việc thông qua xử lý hồ sơ công việc trên môi trường điện tử, đặc biệt đề cao vai trò của lãnh đạo các cấp gương mẫu, đi đầu trong sử dụng chữ ký số cá nhân để phê duyệt hồ sơ, văn bản điện tử, bảo đảm hoàn thành chỉ tiêu đề ra.
Khẩn trương ban hành hướng dẫn về mẫu kết quả thủ tục hành chính thuộc ngành, lĩnh vực theo dõi trong tháng 9/2020 để làm cơ sở cho các cơ quan có thẩm quyền cung cấp kết quả giải quyết thủ tục hành chính điện tử theo quy định tại Nghị định 45/2020/NĐ-CP.
Các bộ, cơ quan cũng được yêu cầu tập trung tái cấu trúc quy trình, hoàn thành việc xây dựng, tích hợp, cung cấp trên Cổng dịch vụ công quốc gia các dịch vụ công ưu tiên năm 2020 và 30% dịch vụ công trực tuyến đang triển khai theo đúng chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tại các Nghị quyết số 01/NQ-CP, 02/NQ-CP và Quyết định số 411/QĐ-TTg; khẩn trương hoàn thành tích hợp đồng bộ kết quả xử lý hồ sơ và tích hợp thanh toán trực tuyến các nghĩa vụ tài chính trong thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trên Cổng dịch vụ công quốc gia.
Nghị quyết 118 của Chính phủ nêu rõ, các bộ, cơ quan được giao báo cáo chỉ tiêu kinh tế - xã hội tại Quyết định số 293/QĐ-TTg ngày 24/2/2020 của Thủ tướng Chính phủ và các địa phương khẩn trương nâng cấp, hoàn thiện các chỉ tiêu, hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, kết nối và cung cấp dữ liệu về các chỉ tiêu KT-XH, thông tin báo cáo hàng ngày trên Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ và Trung tâm thông tin, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo hướng dẫn của Văn phòng Chính phủ.
Chính phủ giao Bộ TT&TT chủ trì, phối hợp với Bộ KH&ĐT, Bộ Tài chính và các cơ quan có liên quan nghiên cứu, xây dựng Chương trình đầu tư công về xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 - 2025 thay cho nhiệm vụ xây dựng Đề án xây dựng Chính phủ điện tử giai đoạn 2021 - 2025, bảo đảm tuân thủ theo các quy định của Luật Đầu tư công và các văn bản hướng dẫn, báo cáo Chính phủ xem xét, quyết định.
Bộ Tư pháp được yêu cầu phải khẩn trương ban hành hướng dẫn thực hiện chứng thực bản sao điện tử từ bản chính.
Bộ Nội vụ hướng dẫn, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương thực hiện nhiệm vụ được giao tại Quyết định 893 ngày 25/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước.
Bộ TN&MT và Bộ Công an khẩn trương hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai và cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư theo phân công.
Dự kiến, ngày 26/8 tới, Ủy ban quốc gia về Chính phủ điện tử họp phiên thứ hai trong năm 2020. Bên cạnh việc rà soát, đánh giá tình hình triển khai Chính phủ điện tử để từ đó đôn đốc các bộ, ngành, địa phương hoàn thành những chỉ tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết 17, các đại biểu sẽ trao đổi các kinh nghiệm, cách làm để thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa việc triển khai Chính phủ điện tử, chuyển đổi số tại Việt Nam.
UBND TP đã phê duyệt Đề án “Cổng dịch vụ công và Hệ thống thông tin một cửa điện tử gắn với đành giá hài lòng việc giải quyết thủ tục hành chính”.
Đề án này nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả cung cấp dịch vụ công của các cơ quan nhà nước, đảm bảo phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn, hướng tới số hóa hồ sơ, giấy tờ, chuyển hoạt động sử dụng hồ sơ, văn bản giấy, giao dịch trực tiếp sang hoạt động sử dụng hồ sơ, văn bản điện tử, giao dịch điện tử và cung cấp dịch vụ công không phụ thuộc vào thời gian, địa giới hành chính; thúc đẩy cải cách hành chính (CCHC), nhất là cải cách thủ tục hành chính (TTHC) thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin; cải thiện vị trí của TP về chỉ số CCHC; mức độ sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông; về mức độ ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển chính phủ điện tử, hướng tới sự hài lòng cho người dân và doanh nghiệp khi thực hiện các TTHC, dịch vụ công trực tuyến.
TP dự kiến cung cấp, tích hợp 50 ngàn tài khoản trong năm 2020; 200 ngàn tài khoản trong năm 2021 và đạt tối thiểu 1 triệu tài khoản trong năm 2023. Trong năm nay, phấn đấu 30% thủ tục hành chính cho phép cung cấp kết quả dạng điện tử; cá nhân, tổ chức có thể sử dụng trong các lần thực hiện dịch vụ công trực tuyến tiếp theo.
* UBND TP cũng giao các cơ quan chức năng trong tháng 9/2020, hoàn thành việc xây dựng và triển khai cung cấp các dịch vụ công trực tuyến, gồm: đăng ký cấp phiếu lý lịch tư pháp; đăng ký khai sinh (bao gồm đăng ký khai sinh lần đầu, đăng ký khai sinh lại, liên thông đăng ký khai sinh, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ dưới 6 tuổi, liên thông đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ dưới 6 tuổi); cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân trên Cổng dịch vụ công của TP.
* Ngoài ra, UBND TP cũng công bố danh mục 3 thủ tục hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và danh mục 26 thủ tục hành chính trong lĩnh vực lữ hành và lĩnh vực dịch vụ du lịch khác thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Du lịch.