SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Kế hoạch 336/KH-UBND đề ra 3 nhiệm vụ trọng tâm gồm: phát triển hạ tầng kỹ thuật ngầm và quản lý cột treo cáp viễn thông, phát triển hạ tầng trạm thu phát sóng thông tin di động và phát triển điểm cung cấp dịch vụ viễn thông công cộng.

UBND Thành phố Hồ Chí Minh vừa ban hành Kế hoạch số 336/KH-UBND về phát triển hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2035 nhằm xây dựng hạ tầng viễn thông hiện đại, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển hạ tầng số, kinh tế số, xã hội số và bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Theo Kế hoạch, Thành phố đặt mục tiêu bảo đảm 100% phủ sóng 5G tại các khu vực trung tâm phục vụ hành chính và các khu vực trọng điểm, bảo đảm chất lượng băng thông trên 100 Mbps, không có vùng lõm sóng 5G, bảo đảm 100% mạng cáp truyền dẫn phục vụ cơ quan, tổ chức và hộ gia đình có khả năng truy cập tốc độ trên 1 Gbps.

Thành phố cũng đẩy mạnh quản lý, khai thác hiệu quả hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động, tăng cường chia sẻ, sử dụng chung hạ tầng giữa các ngành, lĩnh vực và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, vận hành.

kehoach336.jpg

Ảnh minh họa.

Để thực hiện các mục tiêu trên, Kế hoạch đề ra 03 nhóm nhiệm vụ trọng tâm. Nhiệm vụ thứ nhất, phát triển hạ tầng kỹ thuật ngầm và quản lý cột treo cáp viễn thông, tập trung ngầm hóa cáp viễn thông gắn với ngầm hóa lưới điện, giảm dần hệ thống cột treo cáp tại khu vực trung tâm và trung tâm hành chính các xã, phường, đặc khu; đồng thời tiếp tục mở rộng, kết nối các tuyến đã triển khai; tổng khối lượng khoảng 700 tuyến (tương đương 2.000 km).

Nhiệm vụ thứ hai là phát triển hạ tầng trạm thu phát sóng thông tin di động (cột ăng ten). Thành phố sẽ tập trung nâng cao chất lượng mạng thông tin di động để đáp ứng nhu cầu phát triển các dịch vụ mới trên nền tảng 4G, 5G và các thế hệ tiếp theo, thúc đẩy việc chia sẻ, sử dụng chung hạ tầng giữa các doanh nghiệp viễn thông nhằm giảm số lượng trạm độc lập.

Nhiệm vụ thứ ba là phát triển điểm cung cấp dịch vụ viễn thông công cộng. Thành phố sẽ hoàn thiện mạng lưới các điểm cung cấp dịch vụ viễn thông công cộng, xây dựng các trạm thông tin đa năng theo nguyên tắc chia sẻ, sử dụng chung hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ giữa các ngành, lĩnh vực.

Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh là cơ quan chủ trì tổ chức triển khai Kế hoạch; phối hợp với các sở, ngành, địa phương, doanh nghiệp và các đơn vị liên quan triển khai các nhiệm vụ theo lộ trình. Đồng thời, Sở là đầu mối tổng hợp thông tin, dữ liệu về hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động; theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện, báo cáo UBND Thành phố và đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai. Việc triển khai Kế hoạch 336/KH-UBND góp phần xây dựng hạ tầng viễn thông hiện đại, đồng bộ, tạo nền tảng phát triển hạ tầng số, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số và xây dựng đô thị thông minh trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Hoàng Kim

Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh vừa tổ chức Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ nghiên cứu về đánh giá rủi ro sự cố môi trường liên quan đến hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các khu chế xuất, khu công nghiệp. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung cơ sở khoa học và đề xuất các giải pháp giúp chủ động phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường trong thực tiễn.

Theo nhóm nghiên cứu, TP. Hồ Chí Minh hiện có 17 khu chế xuất (KCX) và khu công nghiệp (KCN) đang hoạt động với 19 hệ thống xử lý nước thải tập trung (XLNTTT), tổng công suất thiết kế khoảng 100.000 m³/ngày đêm. Mặc dù các hệ thống đều vận hành ổn định và đáp ứng quy chuẩn xả thải hiện hành, nguy cơ xảy ra sự cố môi trường vẫn hiện hữu do thiết bị vận hành liên tục, có thể bị "lão hóa", phát sinh lỗi hệ thống quan trắc hoặc tình trạng "sốc tải"…

06KQNCLVntdtungphomoitruongh6.JPG

PGS.TS. Vũ Văn Nghị, đại diện nhóm nghiên cứu trình bày các kết quả thực hiện nhiệm vụ

Nhiệm vụ "Nghiên cứu, đánh giá mức độ, quy mô, phạm vi tác động của các sự cố môi trường liên quan đến hệ thống xử lý nước thải tập trung của các khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh đến nguồn tiếp nhận và đề xuất các giải pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố và phục hồi môi trường có hiệu quả" do Viện Khoa học và Đổi mới Công nghệ chủ trì thực hiện, PGS.TS. Vũ Văn Nghị làm chủ nhiệm.

Mục tiêu của nhiệm vụ là nhận diện và lượng hóa rủi ro sự cố môi trường, đánh giá mức độ tác động đến nguồn tiếp nhận và đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp với điều kiện thực tế của TP. Hồ Chí Minh. Nhóm đã tiến hành các nội dung nghiên cứu tổng quan về sự cố môi trường từ hệ thống XLNTTT của KCX, KCN; khảo sát và đánh giá hiện trạng, nhận diện những rủi ro khi xảy ra sự cố đối với hệ thống XLNTTT; mô phỏng các kịch bản sự cố; đồng thời đề xuất giải pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố và phục hồi môi trường, xây dựng mô hình thí điểm nhằm kiểm chứng khả năng áp dụng trong thực tế.

06KQNCLVntdtungphomoitruongh9.jpg

Hình ảnh triển khai nội dung nghiên cứu: khảo sát thực địa hệ thống XLNTTT 

Đại diện nhóm nghiên cứu cho biết, một trong những kết quả nổi bật của nhiệm vụ là xây dựng thành công bộ tiêu chí đánh giá chỉ số sự cố môi trường (EII) gồm ba nhóm tiêu chí: hiểm họa, phơi nhiễm và tính dễ bị tổn thương. Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đã phân hạng mức độ rủi ro đối với 19 hệ thống XLNTTT, gồm 5 hệ thống có mức rủi ro thấp, 7 hệ thống rủi ro trung bình và 7 hệ thống rủi ro cao. Kết quả này tạo cơ sở để cơ quan quản lý và đơn vị vận hành chủ động xây dựng kế hoạch giám sát, kiểm tra và lựa chọn giải pháp phòng ngừa phù hợp với từng hệ thống.

Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu áp dụng mô hình MIKE 11 để mô phỏng các kịch bản lan truyền chất ô nhiễm khi xảy ra sự cố môi trường. Kết quả cho thấy nồng độ các chất ô nhiễm tăng mạnh trong khoảng 12 giờ đầu và phạm vi ảnh hưởng trong một số kịch bản có thể lan xa tới 12,3 km, qua đó cung cấp cơ sở khoa học phục vụ xây dựng phương án ứng phó khẩn cấp. Kết quả nghiên cứu cũng góp phần định hướng chuyển từ phương thức xử lý sự cố mang tính bị động sang chủ động nhận diện nguy cơ và phòng ngừa từ sớm.

Trên cơ sở kết quả đánh giá rủi ro, nhiệm vụ đề xuất hệ thống giải pháp gồm 17 giải pháp phi công trình và 12 giải pháp công trình phù hợp với điều kiện vận hành thực tế tại các trạm XLNTTT. Các giải pháp này tập trung hoàn thiện quy trình quản lý, tăng cường giám sát và ứng dụng công nghệ thông minh trong theo dõi vận hành; bổ sung các hạng mục kỹ thuật như bể điều hòa, hồ sự cố và các công trình dự phòng nhằm giảm thiểu rủi ro khi xảy ra sự cố.

06KQNCLVntdtungphomoitruongh3.JPG

Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ được Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh tổ chức ngày 09/7/2026 

Đáng chú ý, nhóm nghiên cứu đã xây dựng hai mô hình thí điểm tại Khu chế xuất Linh Trung I và Khu công nghiệp Lê Minh Xuân, đại diện cho hai hướng tiếp cận phi công trình và công trình. Với mô hình phi công trình, nhóm nghiên cứu đề xuất quy trình vận hành tận dụng tối đa dung tích các bể hiện hữu để lưu giữ nước thải trong thời gian xảy ra sự cố mà không phải đầu tư xây dựng mới. Trong khi đó, mô hình công trình đề xuất bổ sung hồ sự cố chuyên dụng kết hợp hệ thống giám sát và điều khiển tự động nhằm nâng cao khả năng kiểm soát, lưu giữ và tái xử lý nước thải. Hai mô hình đều hướng tới nguyên tắc không xả thải trong thời gian xảy ra sự cố, tăng khả năng phục hồi hệ thống, đồng thời tạo cơ sở để nghiên cứu nhân rộng tại các KCX, KCN có điều kiện tương đồng.

06KQNCLVntdtungphomoitruongh1.JPG

Thành viên hội đồng nhận xét, đánh giá kết quả nghiên cứu 

06KQNCLVntdtungphomoitruongh2.JPG

Hội đồng nghiệm thu đánh giá nhiệm vụ được triển khai công phu, bám sát yêu cầu thực tiễn của TP. Hồ Chí Minh, đặc biệt là việc xây dựng được cơ sở dữ liệu phục vụ đánh giá rủi ro và lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các sự cố môi trường liên quan đến nước thải công nghiệp. Khung kế hoạch phòng ngừa, ứng phó và phục hồi môi trường được đề xuất theo quy định hiện hành, đáp ứng yêu cầu triển khai tại các KCX, KCN. Kết quả nghiên cứu được nhận định có giá trị khoa học và thực tiễn, góp phần bổ sung công cụ hỗ trợ cơ quan quản lý và đơn vị vận hành chủ động nhận diện nguy cơ, xác định các biện pháp kiểm soát rủi ro và xây dựng phương án phòng ngừa, ứng phó phù hợp.

Lam Vân

Ngày 9/7/2026, Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh tiếp và làm việc với Đoàn công tác tỉnh Aichi (Nhật Bản) trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc nhân kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Aichi (2016-2026).

Tại buổi làm việc, ông Hideaki Ohmura - Thống đốc tỉnh Aichi cho biết tỉnh Aichi là một trong những trung tâm công nghiệp hàng đầu Nhật Bản và là nơi đặt trụ sở của nhiều tập đoàn lớn, tiêu biểu như Toyota. Mối quan hệ giữa hai địa phương thường được duy trì thường xuyên thông qua nhiều hoạt động, trong đó Lễ hội Việt Nam - Thành phố Hồ Chí Minh tại Aichi đã trở thành hoạt động thường niên tiêu biểu, góp phần tăng cường hiểu biết và giao lưu kết nối doanh nghiệp giữa hai bên.

Ông Hideaki Ohmura phát biểu tại buổi làm việc

Phát biểu tại buổi làm việc, ông Lê Văn Thăng - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh đã gửi lời chúc mừng cho mối quan hệ hợp tác hữu nghị 10 năm giữa hai bên và cho biết, tỉnh Aichi là nơi tập trung ngành kinh tế mũi nhọn mà Thành phố đã và đang tập trung phát triển như robotics, công nghệ cao, công nghệ vũ trụ,... Với lợi thế bổ sung sẵn có của hai bên, ông hi vọng sau phần giới thiệu về Khu đô thị Khoa học - Công nghệ Bắc Thành phố Hồ Chí Minh sẽ mở ra một chương mới trong quan hệ hợp tác quốc tế, đặc biệt là trong việc thu hút các doanh nghiệp từ tỉnh Aichi tham gia vào hệ sinh thái khoa học công nghệ của Thành phố, góp phần hiện thực hóa Khu đô thị Khoa học - Công nghệ Bắc Thành phố trở thành điểm đến tiềm năng của các doanh nghiệp quốc tế trong thời gian tới.

Ông Lê Văn Thăng phát biểu tại buổi làm việc

Cũng tại buổi làm việc, đại diện phía tập đoàn Becamex đã trình bày tổng quan về Khu đô thị Khoa học - Công nghệ Bắc Thành phố Hồ Chí Minh cũng như những định hướng phát triển khu vực này trong tương lai. Theo đó, mô hình này tạo ra không gian và cơ hội để các ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp cùng cộng hưởng nguồn lực, thúc đẩy chuyển dịch mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, lấy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực trung tâm cho phát triển trong giai đoạn mới.

Thành công của buổi làm việc không chỉ là dấu mốc thắt chặt mối quan hệ hữu nghị trong 10 năm qua mà còn là một trong những tiền đề quan trọng để Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định tầm vóc chiến lược của các dự án trọng điểm, đồng thời thể hiện quyết tâm của Thành phố trong việc thu hút các nguồn lực công nghệ cao và kinh nghiệm từ các tập đoàn lớn tại Nhật Bản, đặc biệt đến từ Aichi.

*Một số hình ảnh tại buổi làm việc

 

 

 

Sáng ngày 10/7, Ban Đô thị Hội đồng nhân dân (HĐND) TP.HCM đã làm việc với Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM cùng Ban Quản lý Khu Công nghệ cao nhằm khảo sát, trao đổi để hoàn thiện các nội dung phục vụ xây dựng các dự thảo nghị quyết trình Hội đồng nhân dân Thành phố để cụ thể hóa và chuẩn bị triển khai Luật Phát triển đô thị sau khi được Quốc hội thông qua.

Quang cảnh buổi làm việc.

Buổi làm việc có sự tham dự của ông Nguyễn Văn Dũng, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố; ông Hoàng Tùng, Trưởng Ban Đô thị HĐND Thành phố, ông Lê Văn Thăng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM, cùng đại diện các sở, ban, ngành liên quan.

Ông Hoàng Tùng, Trưởng Ban Đô thị HĐND phát biểu tại buổi làm việc.

Phát biểu tại buổi làm việc, ông Hoàng Tùng, Trưởng Ban Đô thị HĐND Thành phố nhấn mạnh, khối lượng công việc chuẩn bị triển khai Luật Phát triển đô thị rất lớn, trong khi thời gian thực hiện không nhiều. Do đó, ông đề nghị Sở Khoa học và Công nghệ cùng các đơn vị liên quan tập trung nghiên cứu, rà soát kỹ từng nội dung, bám sát tiến độ, bảo đảm các dự thảo nghị quyết được xây dựng trên cơ sở khoa học, thống nhất với hệ thống pháp luật và có tính khả thi cao trước khi trình Hội đồng nhân dân Thành phố xem xét.

Tại buổi khảo sát, Sở Khoa học và Công nghệ và Ban Quản lý Khu Công nghệ cao đã báo cáo tình hình xây dựng, đồng thời trao đổi, góp ý đối với các dự thảo nghị quyết thuộc lĩnh vực được phân công, tập trung rà soát, hoàn thiện các nội dung theo ý kiến của Ban Đô thị.

Trong số nhiều nội dung được trao đổi, lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là một trong những nội dung trọng tâm. Các đại biểu tập trung góp ý việc tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ nghiên cứu và phát triển, thu hút, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy hợp tác công - tư, đồng thời rà soát các chính sách ưu đãi về đầu tư, hạ tầng và sử dụng đất nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Bên cạnh đó, Ban Quản lý Khu Công nghệ cao cũng đề xuất tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về mô hình đô thị công nghệ cao, làm rõ các loại hình khu công nghệ cao và cơ chế đầu tư phù hợp đối với từng mô hình, góp phần tạo cơ sở xây dựng các chính sách phát triển khu công nghệ cao theo định hướng đô thị khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Thành phố.

Trên cơ sở các báo cáo và ý kiến trao đổi, các đại biểu tiếp tục rà soát phạm vi điều chỉnh, cơ sở pháp lý và tính thống nhất của các dự thảo nghị quyết; đồng thời nghiên cứu khả năng kế thừa các quy định đã được áp dụng tại Hà Nội và các cơ chế đặc thù của TP.HCM nhằm bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật và phù hợp với yêu cầu phát triển của đô thị đặc biệt.

Ông Nguyễn Văn Dũng, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố phát biểu tại buổi làm việc.

Phát biểu kết luận, ông Nguyễn Văn Dũng, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố ghi nhận sự chủ động của Sở Khoa học và Công nghệ cùng các đơn vị trong quá trình chuẩn bị các dự thảo nghị quyết. Đồng thời, Phó Chủ tịch HĐND cũng đề nghị các cơ quan tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Ban Đô thị, Sở Tư pháp và các sở, ngành liên quan để rà soát, hoàn thiện các dự thảo nghị quyết, bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ với quy hoạch phát triển đô thị. Ông kỳ vọng các nghị quyết sau khi được ban hành sẽ tạo nền tảng pháp lý quan trọng, góp phần triển khai hiệu quả Luật Phát triển đô thị trên địa bàn Thành phố.

Nguyễn Tuyết

Bộ công cụ đánh giá tăng trưởng xanh hỗ trợ theo dõi ở cấp vi mô theo ngành/lĩnh vực và ở cấp vĩ mô theo không gian quản trị đô thị, có thể tích hợp vào quy trình quản trị công và hỗ trợ ra quyết định chính sách ở cấp địa phương.

Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh vừa tổ chức Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ “Nghiên cứu xây dựng bộ công cụ đánh giá tăng trưởng xanh cho các ngành/lĩnh vực Thành phố Hồ Chí Minh”. Đây là nhiệm vụ do Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế tuần hoàn (ĐHQG Thành phố Hồ Chí Minh) chủ trì thực hiện, PGS.TS. Nguyễn Hồng Quân làm chủ nhiệm.

Mục tiêu của nhiệm vụ là xây dựng bộ công cụ đánh giá tăng trưởng xanh cho các ngành, lĩnh vực của Thành phố Hồ Chí Minh nhằm phục vụ đo lường, theo dõi, báo cáo, hỗ trợ điều hành và đề xuất lộ trình chuyển đổi xanh phù hợp với bối cảnh phát triển của Thành phố.

NTNVTTX.jpg

Báo cáo tại buổi nghiệm thu, đại diện nhóm thực hiện cho biết bộ công cụ đánh giá tăng trưởng xanh đã được phát triển hoàn thiện. Kết quả thử nghiệm ban đầu với khối lượng dữ liệu lớn, bao gồm dữ liệu nhiều năm và nhiều nhóm chỉ tiêu thuộc các lĩnh vực khác nhau, cho thấy bộ công cụ vận hành ổn định, đáp ứng yêu cầu lưu trữ, xử lý và tổng hợp dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước.

Về mặt dữ liệu, bộ công cụ đánh giá tăng trưởng xanh đã giải quyết hiệu quả những thách thức đặc thù vốn có như tính đa ngành, đa chỉ tiêu và không đồng nhất về định dạng, đơn vị đo lường và phương pháp thu thập. Thông qua các quy trình thu thập, kiểm tra, làm sạch và chuẩn hóa dữ liệu, nhóm thực hiện đã xây dựng được cơ sở dữ liệu có cấu trúc chặt chẽ, đồng nhất và có độ tin cậy cao. Cơ sở dữ liệu này cho phép theo dõi diễn biến các chỉ tiêu theo thời gian, so sánh giữa các lĩnh vực và hỗ trợ phân tích chuyên sâu phục vụ hoạch định chính sách.

Bên cạnh đó, bộ công cụ còn hỗ trợ xuất ra các báo cáo tổng hợp, biểu đồ xu hướng và cơ chế cảnh báo giúp lãnh đạo các cấp nhanh chóng nắm bắt tình hình thực hiện chỉ tiêu, nhận diện những lĩnh vực còn hạn chế và kịp thời điều chỉnh chính sách, góp phần nâng cao tính minh bạch, tính khoa học và hiệu quả trong quản lý tăng trưởng xanh của Thành phố Hồ Chí Minh.

Hoàng Kim

Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh vừa tổ chức Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ "Nghiên cứu xây dựng quy chuẩn nước uống trực tiếp tại vòi trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh" do Trung tâm Công nghệ Môi trường (ENTEC) chủ trì thực hiện, TS. Phùng Anh Đức làm chủ nhiệm.

Kết quả nghiên cứu đã cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ đề xuất quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng nước uống trực tiếp tại vòi (NUTTTV), góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng nước, đáp ứng yêu cầu phát triển hệ thống cấp nước đô thị và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

04KQNCLVntdtnuocuongtaivoih4nen.png

Theo nhóm nghiên cứu, mô hình cấp nước đô thị đạt chuẩn cho phép người dân uống trực tiếp tại vòi mới chỉ xuất hiện vài năm trở lại đây ở Việt Nam. Trong đó, TP. Hồ Chí Minh đã từng bước triển khai các điểm cấp nước uống trực tiếp tại một số không gian công cộng theo Quyết định số 205/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố. Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam mới có quy chuẩn QCVN 01-1:2024/BYT cho nước sạch sinh hoạt và QCVN 6-1:2010/BYT cho nước uống đóng chai/nước khoáng, chưa có quy chuẩn riêng đối với NUTTTV. Điều này dẫn đến khoảng trống trong công tác quản lý, giám sát chất lượng nước tại điểm sử dụng cũng như thiếu cơ sở thống nhất để đánh giá mức độ an toàn và triển khai rộng rãi mô hình cấp nước này.

04KQNCLVntdtnuocuongtaivoih1.JPG

Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ do Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh tổ chức

Nhiệm vụ nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xây dựng cơ sở khoa học làm căn cứ đánh giá chất lượng nước uống trực tiếp phục vụ công tác nâng cao chất lượng nước, hướng đến NUTTTV; đề xuất bộ quy chuẩn NUTTTV trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.

Nhóm nghiên cứu đã tiến hành các nội dung đánh giá, phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam về tiêu chuẩn, quy chuẩn NUTTTV; xác định các thông số giám sát chất lượng NUTTTV trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh trên cơ sở kết quả phân tích chất lượng nước phục vụ cho các nhà máy cấp nước, nước máy từ năm 2017 - 2024; đánh giá bổ sung chất lượng nước sinh hoạt và chất lượng nước uống trực tiếp tại vòi; xây dựng quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng NUTTTV phù hợp với điều kiện thực tế TP. Hồ Chí Minh; đề xuất các công cụ pháp lý, kinh tế, giải pháp kỹ thuật và truyền thông, tăng cường năng lực nhằm đảm bảo chất lượng nước uống tại vòi trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.

Theo đó, nhiệm vụ đã phân tích dữ liệu gồm 5.146 mẫu nước sạch được thu thập trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2017 - 2024; đồng thời tiến hành lấy mẫu và phân tích bổ sung 80 mẫu nước tại các vòi nước và trụ nước công cộng trong cả mùa khô và mùa mưa. Trên cơ sở các dữ liệu này, nhóm nghiên cứu áp dụng các phương pháp QMRA (đánh giá rủi ro vi sinh định lượng) và AHP (phân tích thứ bậc) để xác định các thông số cần giám sát, bảo đảm các đề xuất được xây dựng trên cơ sở dữ liệu thực chứng và phù hợp với điều kiện hạ tầng cấp nước của Thành phố.

Kết quả đã đề xuất danh mục gồm 31 thông số giám sát chất lượng NUTTTV, thuộc 5 nhóm thông số chính: nhóm vi sinh vật (4 chỉ tiêu); nhóm vô cơ ưu tiên cao (4 chỉ tiêu); nhóm kim loại ưu tiên cao (5 chỉ tiêu); nhóm hóa chất hữu cơ và sản phẩm phụ khử trùng (14 chỉ tiêu); nhóm cảm quan và hóa học (4 chỉ tiêu). Kết quả nhiệm vụ cũng xây dựng dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng nước uống trực tiếp tại vòi, trong đó đề xuất các giới hạn đối với từng thông số chất lượng nước và các yêu cầu quản lý tương ứng. Đồng thời đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng NUTTTV trong thời gian tới. Các giải pháp tập trung vào nâng cấp công nghệ xử lý nước hiện hữu; bổ sung công nghệ xử lý nâng cao như ozon, than hoạt tính, màng UF/NF/RO, và UV; tăng cường giám sát chất lượng trên mạng lưới cấp nước, đảm bảo chất lượng tại điểm sử dụng; hoàn thiện các công cụ pháp lý và cơ chế quản lý, đẩy mạnh công khai thông tin chất lượng nước để nâng cao niềm tin của người dân đối với việc sử dụng nước uống trực tiếp tại vòi…

04KQNCLVntdtnuocuongtaivoih5.jpg

Hình ảnh triển khai nội dung nghiên cứu nhằm xây dựng dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng NUTTTV

Theo nhóm nghiên cứu, các giới hạn tối đa cho phép (MDL) quy định tại QCVN 01-1:2024/BYT được xác định là phù hợp để áp dụng cho mục tiêu NUTTTV trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Các ngưỡng này vừa đảm bảo sự hài hòa giữa yêu cầu bảo vệ sức khỏe cộng đồng và tính khả thi về công nghệ, kinh tế của hệ thống cấp nước hiện hữu, vừa tương thích với tiêu chuẩn quốc tế (WHO, US EPA, EU). Việc tuân thủ các ngưỡng này giúp kiểm soát hiệu quả rủi ro mà không gây áp lực không cần thiết lên quy trình vận hành và chi phí xử lý nước. Đối với nhóm vi sinh vật như E. coli, Coliform và Trực khuẩn mủ xanh có giới hạn < 1 CFU/100ml (tương đương không phát hiện) là hoàn toàn đồng nhất với nguyên tắc "Zero Tolerance" (Không chấp nhận rủi ro) của WHO và các tiêu chuẩn quốc tế.

Về lộ trình phát triển hệ thống NUTTTV ở TP. Hồ Chí Minh, nhiệm vụ đề xuất theo 3 giai đoạn: ngắn hạn (tập trung tối ưu công nghệ hiện có, kiểm soát clo dư, cải thiện vận hành mạng lưới…); trung hạn (bổ sung các công nghệ xử lý nâng cao, mở rộng hệ thống giám sát các chất ô nhiễm mới nổi và DBPs); dài hạn hướng tới xây dựng hệ thống đa lớp tích hợp công nghệ tiên tiến, kiểm soát toàn diện các chất ô nhiễm, ứng dụng giám sát thông minh và công khai dữ liệu nhằm đảm bảo an toàn, minh bạch…

04KQNCLVntdtnuocuongtaivoih3.JPG

Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ tại Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh ngày 07/7/2026 

Hội đồng nghiệm thu đánh giá nhiệm vụ đã hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu đề ra, cung cấp được cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ việc xây dựng quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng NUTTTV. Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng nước khi đề xuất các thông số giám sát, ngưỡng giới hạn và các đề xuất quản lý được xây dựng trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, đồng thời bám sát điều kiện nguồn nước, hạ tầng cấp nước và đặc điểm quản lý của TP. Hồ Chí Minh. Các sản phẩm nghiên cứu có khả năng ứng dụng cụ thể nhằm triển khai theo Quyết định số 205/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh, trong đó có kế hoạch lắp đặt từ 1.500 - 2.000 vị trí nước uống trực tiếp tại vòi theo đề xuất của UBND các phường/xã.

Lam Vân

Kết quả nhiệm vụ khoa học và công nghệ vừa được bàn giao góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu số phục vụ quản lý đất đai, công trình và di sản văn hóa tại Công viên Lịch sử - Văn hóa Dân tộc, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong công tác quản lý của Thành phố.

Ngày 08/7/2026, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM phối hợp với Trung tâm Công nghệ thông tin và Địa không gian TP.HCM cùng Ban Quản lý Công viên Lịch sử - Văn hóa Dân tộc TP.HCM tổ chức lễ bàn giao kết quả và tài sản hình thành từ nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ GIS trong công tác quản lý đất đai, quản lý các công trình thuộc Công viên Lịch sử - Văn hóa Dân tộc”.

Đại diện Trung tâm Công nghệ thông tin và Địa không gian TP.HCM bàn giao kết quả nhiệm vụ cho Ban Quản lý Công viên Lịch sử - Văn hóa Dân tộc TP.HCM.

Tham dự buổi lễ có ông Trần Minh Tuấn, Phó Trưởng phòng Phát triển khoa học công nghệ, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM; ông Phạm Đức Thịnh, Phó Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin và Địa không gian TP.HCM; ông Từ Hồng Long, Phó Trưởng Ban Quản lý Công viên Lịch sử - Văn hóa Dân tộc TP.HCM cùng đại diện các đơn vị liên quan.

Nhiệm vụ do Trung tâm Công nghệ thông tin và Địa không gian TP.HCM chủ trì thực hiện, CN. Huỳnh Văn Thọ làm chủ nhiệm. Việc bàn giao được thực hiện sau khi nhiệm vụ được Sở Khoa học và Công nghệ công nhận kết quả, tạo cơ sở đưa sản phẩm nghiên cứu vào phục vụ công tác quản lý tại Ban Quản lý Công viên Lịch sử - Văn hóa Dân tộc.

Bàn giao đồng bộ cơ sở dữ liệu, phần mềm và mô hình số

Công viên Lịch sử - Văn hóa Dân tộc là công trình văn hóa, lịch sử trọng điểm của TP.HCM với quy mô hơn 400 ha, tập trung nhiều công trình, hạng mục, không gian văn hóa và hệ thống hạ tầng. Việc quản lý khối lượng lớn thông tin về đất đai, công trình và di sản trên phạm vi rộng đặt ra yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung, thuận tiện cho việc cập nhật, tra cứu và khai thác. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trong công tác quản lý Công viên, nhiệm vụ được thực hiện nhằm xây dựng hệ thống dữ liệu số, hỗ trợ quản lý đồng bộ đất đai, công trình và di sản văn hóa tại Công viên.

Tại buổi lễ, Trung tâm Công nghệ thông tin và Địa không gian TP.HCM đã bàn giao toàn bộ kết quả và tài sản hình thành từ nhiệm vụ, gồm: Cơ sở dữ liệu GIS các công trình, di sản văn hóa và thông tin đất đai; Hệ thống GIS hỗ trợ quản lý các công trình, di sản văn hóa và thông tin đất đai; Mô hình 3D/360 độ cho 01 công trình thuộc Công viên Lịch sử - Văn hóa Dân tộc; Quyền tác giả đối với tác phẩm “Phần mềm hệ thống GIS hỗ trợ quản lý các công trình, di sản văn hóa và thông tin đất đai tại Công viên Văn hóa - Lịch sử Dân tộc” (theo Giấy chứng nhận số 7246/2025/QTG ngày 03 tháng 9 năm 2025 của Cục Bản quyền Tác giả) cùng Báo cáo tóm tắt và báo cáo tổng kết nhiệm vụ.

Trong đó, cơ sở dữ liệu GIS được xây dựng theo tiêu chuẩn kỹ thuật, tích hợp thông tin về đất đai, công trình, hạ tầng, giao thông, cây xanh, quy hoạch và di sản văn hóa. Hệ thống phần mềm được phát triển với các chức năng quản trị, cập nhật, tra cứu, thống kê và quản lý dữ liệu, đồng thời tích hợp mô hình 3D/360 độ nhằm trực quan hóa thông tin, hỗ trợ hiệu quả công tác quản lý và khai thác dữ liệu.

Quang cảnh tại buổi lễ bàn giao nhiệm vụ.

Trong đó, cơ sở dữ liệu GIS được xây dựng theo tiêu chuẩn kỹ thuật, tích hợp dữ liệu về đất đai, công trình, hạ tầng, giao thông, cây xanh, quy hoạch và các di sản văn hóa của Công viên. Hệ thống phần mềm được phát triển với các chức năng quản trị, cập nhật, tra cứu, thống kê và quản lý dữ liệu, đồng thời tích hợp mô hình 3D/360 độ nhằm trực quan hóa thông tin, hỗ trợ hiệu quả công tác quản lý và khai thác dữ liệu.

Tăng cường hiệu quả quản lý và khai thác sau bàn giao

Lễ bàn giao đánh dấu bước chuyển giao kết quả nghiên cứu từ đơn vị chủ trì sang đơn vị thụ hưởng, góp phần đưa các sản phẩm khoa học và công nghệ vào phục vụ trực tiếp công tác quản lý tại Công viên Lịch sử - Văn hóa Dân tộc.

Theo biên bản bàn giao, bên giao xác nhận đã chuyển giao đầy đủ kết quả, tài sản và hồ sơ liên quan; bên nhận xác nhận đã tiếp nhận đầy đủ các sản phẩm của nhiệm vụ để quản lý, khai thác và sử dụng theo quy định. Đối với quyền tác giả phần mềm, Ban Quản lý Công viên Lịch sử - Văn hóa Dân tộc tiếp tục thực hiện các thủ tục chuyển nhượng quyền sở hữu theo quy định.

Việc đưa hệ thống GIS vào khai thác được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả quản lý dữ liệu đất đai, công trình và di sản văn hóa trên nền tảng số; hỗ trợ cập nhật, tra cứu, trực quan hóa thông tin, phục vụ công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị Công viên Lịch sử - Văn hóa Dân tộc. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để tiếp tục ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ vào giải quyết các yêu cầu thực tiễn, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa của TP.HCM.

Đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại lễ bàn giao kết quả và tài sản hình thành từ nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Nguyễn Tuyết

Clip hoạt động


Bản quyền © 2018 Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Thiết kế và phát triển bởi HCMGIS
Tổng số truy cập: 11537424