SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Sáng 29/7, tại Trung tâm Khởi nghiệp Sáng tạo TP.HCM (SIHUB), Diễn đàn Đổi mới sáng tạo Việt Nam Toàn cầu 2026 chính thức khai mạc, quy tụ các nhà hoạch định chính sách, chuyên gia, nhà khoa học, lãnh đạo doanh nghiệp, nhà đầu tư và cộng đồng startup. Không chỉ bàn về xu hướng công nghệ, diễn đàn hướng đến kết nối tri thức, nguồn lực và chính sách để hình thành những chương trình hợp tác có khả năng triển khai trong thực tế.

VGIC 2026 quy tụ đông đảo nhà hoạch định chính sách, chuyên gia, nhà khoa học, lãnh đạo doanh nghiệp và cộng đồng đổi mới sáng tạo trong nước, quốc tế.

Diễn đàn Đổi mới sáng tạo Việt Nam Toàn cầu 2026 (Vietnam Global Innovation Connect - VGIC 2026) diễn ra trong hai ngày 29 và 30/7, do AVSE Global chủ trì tổ chức, phối hợp cùng SIHUB, Liên minh Kinh tế On-Chain Toàn cầu (GOE Alliance) và Startup Vietnam Foundation (SVF).

Với chủ đề “Công nghệ tương lai - Bước nhảy số Việt Nam”, VGIC 2026 quy tụ khoảng 100 nhà đổi mới sáng tạo, chuyên gia, nhà khoa học và lãnh đạo công nghệ người Việt, gốc Việt đang làm việc tại nhiều quốc gia. Diễn đàn tiếp nối chương trình được tổ chức tại Singapore năm 2025, đồng thời mở rộng sự kết nối với các cơ quan quản lý, doanh nghiệp, tổ chức tài chính và hệ sinh thái khởi nghiệp trong nước.

Tham dự lễ khai mạc có ông Nguyễn Mạnh Cường - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND TP.HCM; ông Phạm Huỳnh Quang Hiếu - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM; ông Lưu Trung Thái - Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Quân đội; Giáo sư Nguyễn Đức Khương - Chủ tịch AVSE Global, cùng đại diện các trường đại học, viện nghiên cứu, tập đoàn công nghệ, quỹ đầu tư và cộng đồng đổi mới sáng tạo.

Đặt công nghệ vào những bài toán cụ thể của Việt Nam

Phát biểu khai mạc, Giáo Sư Nguyễn Đức Khương cho rằng điểm đặc biệt của VGIC 2026 không chỉ nằm ở sự hội tụ của đội ngũ chuyên gia người Việt trên toàn cầu, mà còn ở khát vọng chung đưa khoa học, công nghệ trở thành lực đẩy cho sự phát triển của đất nước. Theo ông, Việt Nam đang đứng trước một thời điểm thuận lợi để vươn lên bằng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, khoảng cách từ việc tiếp cận công nghệ đến tạo ra tăng trưởng thực chất phụ thuộc vào năng lực sử dụng công nghệ, tổ chức nguồn lực và lựa chọn đúng những bài toán cần giải quyết.

Giáo sư Nguyễn Đức Khương - Chủ tịch AVSE Global phát biểu khai mạc tại chương trình.

“Công nghệ không thay đổi quốc gia, nhưng con người mới là người thay đổi quốc gia thông qua công nghệ”, GS Nguyễn Đức Khương nhấn mạnh. Từ góc nhìn này, VGIC được định vị không đơn thuần là nơi giới thiệu các xu hướng mới, mà là không gian để chuyên gia, doanh nghiệp và cơ quan quản lý cùng xây dựng mạng lưới hợp tác, đưa tri thức quốc tế vào những nhu cầu phát triển cụ thể của Việt Nam.

Phát biểu tại diễn đàn, Phó Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Mạnh Cường cho biết, Thành phố đang định hướng trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, tài chính và công nghệ của khu vực. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là những động lực tăng trưởng chủ yếu trong giai đoạn phát triển mới. Trong định hướng đó, các công nghệ nền tảng như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn và công nghệ số được kỳ vọng tạo ra mô hình tăng trưởng mới, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hiệu quả quản trị đô thị.

Ông Nguyễn Mạnh Cường - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND TP.HCM.

Lãnh đạo Thành phố đồng thời nhấn mạnh yêu cầu tăng cường kết nối giữa khu vực công, trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, tập đoàn và các quỹ đầu tư. Đây là điều kiện để chính sách, tri thức, công nghệ, nguồn lực tài chính và thị trường không vận hành riêng lẻ mà được kết nối trong một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thống nhất.

TP.HCM cũng mong muốn những kết nối được hình thành tại VGIC 2026 sẽ tiếp tục được cụ thể hóa bằng các chương trình hợp tác, dự án đầu tư và sáng kiến có sức lan tỏa. Thành phố cam kết đồng hành, tạo điều kiện thuận lợi để các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đầu tư và phát triển doanh nghiệp đổi mới sáng tạo được triển khai hiệu quả.

Từ diễn đàn đến nền tảng hợp tác chính sách

Trong khuôn khổ lễ khai mạc, Vietnam Innovation & Policy Labs - Tổ chức nghiên cứu và tư vấn chính sách độc lập chính thức được ra mắt, với sự tham gia của GOE Alliance, AVSE Global và Tony Blair Institute for Global Change. Sáng kiến hướng đến kết nối mạng lưới chuyên gia trong và ngoài nước, đưa các nghiên cứu và khuyến nghị chính sách vào những vấn đề phát triển thực tiễn của Việt Nam.

Lãnh đạo TP.HCM và các đại biểu chứng kiến lễ ký Tuyên bố đồng sáng lập Vietnam Innovation & Policy Labs giữa GOE Alliance, AVSE Global và Tony Blair Institute for Global Change.

Tuyên bố đồng sáng lập xác định bốn nội dung chính, gồm tầm nhìn, sứ mệnh, phạm vi hoạt động và cam kết của các bên. Các lĩnh vực ưu tiên tập trung vào thể chế tài chính và thị trường vốn, kinh tế số, tài sản mới, đổi mới sáng tạo, hội nhập và chuẩn mực tài chính quốc tế.

Cùng với đó, Ban tổ chức công bố những hoạt động đầu tiên của tổ chức, giới thiệu các ấn phẩm nghiên cứu chính sách và nghi thức Global Fellows Charter, hướng đến hình thành mạng lưới chuyên gia có khả năng đóng góp độc lập cho các chương trình nghiên cứu, phản biện và tư vấn chính sách.

Sau lễ khai mạc, chương trình tiếp tục với các phiên toàn thể về Quốc gia thông minh và Đổi mới sáng tạo, tập trung thảo luận cách xây dựng chiến lược công nghệ, hạ tầng dữ liệu, nguồn nhân lực và hệ sinh thái hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Các phiên chuyên đề song song đi sâu vào ứng dụng trí tuệ nhân tạo, kinh tế On-Chain và đổi mới tài chính, công nghệ trong lĩnh vực y tế, cùng các giải pháp năng lượng dành cho những ngành công nghệ có nhu cầu sử dụng điện lớn.

Tiếp nối chương trình ngày 30/7, các hoạt động dành cho startup gồm cuộc thi trình bày dự án, khảo sát và kết nối thực tế, tạo cơ hội để các ý tưởng tiếp cận chuyên gia, doanh nghiệp, nhà đầu tư và từng bước đi vào triển khai.

VGIC 2026 mở ra một không gian kết nối lớn, nhưng kết quả cuối cùng sẽ phụ thuộc vào những gì được tiếp tục sau diễn đàn: bao nhiêu ý tưởng trở thành dự án, bao nhiêu kết nối chuyển thành hợp tác và bao nhiêu công nghệ thực sự được đưa vào giải quyết các bài toán của Việt Nam.

Nguyễn Tuyết

Kết quả nghiên cứu không chỉ xây dựng được quy trình nuôi Ruồi lính đen hiệu quả, mà còn mở ra hướng tiếp cận mô hình kinh tế tuần hoàn: biến các loại phụ phẩm nông nghiệp và chất thải chăn nuôi thành nguồn nguyên liệu giàu protein phục vụ sản xuất phân bón hữu cơ và các chế phẩm có giá trị.

Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh vừa tổ chức Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ "Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ trong chăn nuôi Ruồi lính đen (Hermetia illucens) để xử lý chất thải nông nghiệp và sản xuất thức ăn chăn nuôi/thủy sản ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu". Nhiệm vụ do GS.TS. Dương Nguyên Khang làm chủ nhiệm, Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao Khoa học Công nghệ (Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh) chủ trì thực hiện.

18KQNCLVntdtruoilinhdenh1.JPG

Bài toán từ thực tiễn phát triển nông nghiệp

Theo nhóm nghiên cứu, khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu đang đối mặt với áp lực ngày càng gia tăng từ lượng chất thải hữu cơ phát sinh trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp. Chỉ riêng lĩnh vực chăn nuôi, ước tính mỗi ngày phát sinh khoảng 2.700 tấn chất thải hữu cơ, tương đương gần 1 triệu tấn mỗi năm. Bên cạnh đó, hoạt động trồng trọt cũng tạo ra lượng lớn phụ phẩm nông nghiệp, trong đó, lượng rơm rạ và trấu phát sinh ước đạt 150.000 - 170.000 tấn/năm. Ngoài ra, các hoạt động thương mại, dịch vụ ăn uống cũng phát sinh nguồn rác thải thực phẩm đáng kể. Tuy nhiên, các nguồn phụ phẩm và chất thải này chưa được xử lý hiệu quả, dẫn đến nguy cơ lãng phí tài nguyên và gia tăng áp lực lên môi trường.

18KQNCLVntdtruoilinhdenh2.JPG

GS.TS. Dương Nguyên Khang, đại diện nhóm nghiên cứu trình bày kết quả thực hiện nhiệm vụ

Trong khi đó, ngành chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản cũng đang chịu áp lực từ sự khan hiếm và chi phí ngày càng tăng của các nguồn nguyên liệu giàu đạm như bột cá hay đậu nành. Bài toán đặt ra là làm thế nào vừa giảm lượng chất thải hữu cơ, vừa tạo ra nguồn nguyên liệu mới phục vụ sản xuất với chi phí hợp lý và thân thiện với môi trường.

Ruồi lính đen (Hermetia illucens) là một trong những loài côn trùng có khả năng chuyển hóa chất hữu cơ hiệu quả nhất hiện nay. Ấu trùng của loài này có thể sử dụng nhiều loại phụ phẩm nông nghiệp và chất thải chăn nuôi làm nguồn thức ăn, sau đó chuyển hóa thành sinh khối giàu protein và lipid trong thời gian ngắn. Phần phụ phẩm còn lại sau quá trình nuôi tiếp tục được tận dụng để sản xuất phân bón hữu cơ và các chế phẩm sinh học, tạo nên chu trình khép kín, giảm lượng chất thải phát sinh ra môi trường.

Mặc dù công nghệ nuôi Ruồi lính đen đã được nghiên cứu tại nhiều quốc gia, việc ứng dụng tại Việt Nam vẫn còn gặp không ít khó khăn do điều kiện khí hậu, nguồn nguyên liệu và quy mô sản xuất nhỏ lẻ, chưa có quy trình kỹ thuật chuẩn… Vì vậy, đề tài được thực hiện với mục tiêu xây dựng mô hình nuôi ấu trùng Ruồi lính đen nhằm tận dụng phụ phẩm nông nghiệp và chất thải chăn nuôi để sản xuất nguồn protein thay thế cho vật nuôi và thủy sản; góp phần mang lại lợi ích kinh tế cho người chăn nuôi, giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ chất thải vật nuôi.

Mô hình nuôi Ruồi lính đen hiệu quả, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn

Trên cơ sở khảo sát hiện trạng phát sinh phụ phẩm nông nghiệp, chất thải chăn nuôi và nhu cầu ứng dụng công nghệ tại khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu, nhóm nghiên cứu đã tiến hành đánh giá khả năng sử dụng các nguồn nguyên liệu phổ biến như phân gà, phân vịt, phân heo và phụ phẩm thực vật trong nuôi ấu trùng Ruồi lính đen; tối ưu các thông số kỹ thuật về khẩu phần dinh dưỡng, độ ẩm nền nuôi, chế độ cho ăn và hiệu quả chuyển hóa sinh khối.

18KQNCLVntdtruoilinhdenh3.JPG

Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ do Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh tổ chức ngày 28/7/2026

Theo nhóm nghiên cứu, một trong những đóng góp mới của đề tài là cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc ứng dụng công nghệ chăn nuôi Ruồi lính đen trong xử lý chất thải nông nghiệp và sản xuất nguồn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, thủy sản; đồng thời xây dựng và đánh giá đồng bộ mô hình chăn nuôi Ruồi lính đen sử dụng nhiều nguồn nguyên liệu hữu cơ khác nhau, qua đó xác định được khả năng tận dụng các nguồn phụ phẩm và chất thải nông nghiệp sẵn có tại địa phương.

Kết quả nghiên cứu không chỉ xây dựng được quy trình kỹ thuật chăn nuôi ấu trùng Ruồi lính đen sử dụng phụ phẩm nông nghiệp và chất thải chăn nuôi, mà còn phát triển các quy trình chế biến sâu sau thu hoạch nhằm nâng cao giá trị của sản phẩm.

18KQNCLVntdtruoilinhdenh4.JPG

Các thành viên hội đồng nhận xét, đánh giá nghiệm thu nhiệm vụ

Theo đó, ấu trùng Ruồi lính đen có khả năng chuyển hóa hiệu quả các loại nguyên liệu, với năng suất đạt từ 60-100 kg/ngày/mô hình, tỷ lệ sống đạt 80-95%. Các mô hình sử dụng nguyên liệu phân gà và phân vịt cho hiệu quả cao nhất về năng suất sinh khối và tỷ lệ sống của ấu trùng. Sản phẩm ấu trùng thu được có hàm lượng protein cao (khoảng 35-40%), có thể sử dụng làm nguồn thức ăn thay thế trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Phụ phẩm sau nuôi có thể tận dụng làm phân bón hữu cơ và chế phẩm sinh học, góp phần hoàn thiện chu trình sản xuất nông nghiệp tuần hoàn.

18KQNCLVntdtruoilinhdenh5.JPG

Đại diện nhóm nghiên cứu cho biết, công nghệ nuôi Ruồi lính đen cũng giúp giảm đáng kể lượng chất thải hữu cơ tồn lưu, với hiệu quả giảm chất thải đạt khoảng 50-70%, đồng thời hạn chế phát sinh mùi hôi và góp phần giảm ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi. Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu đã triển khai 6 mô hình ứng dụng tại địa phương; tổ chức các lớp tập huấn và hoạt động chuyển giao kỹ thuật cho cán bộ chuyên môn, nông dân nhằm đánh giá tính khả thi của công nghệ trong điều kiện sản xuất thực tế. Kết quả cho thấy, công nghệ nuôi Ruồi lính đen có khả năng áp dụng và mở rộng quy mô tại các trang trại, cơ sở sản xuất nông nghiệp, hợp tác xã, doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi và các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực xử lý chất thải hữu cơ.

18KQNCLVntdtruoilinhdenh6.JPG

Hội đồng nghiệm thu đánh giá đề tài có ý nghĩa thực tiễn cao, hướng nghiên cứu phù hợp với yêu cầu phát triển nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải. Kết quả nghiên cứu đã xây dựng được các quy trình công nghệ và mô hình ứng dụng có khả năng triển khai trong thực tế. Việc tận dụng phụ phẩm nông nghiệp và chất thải hữu cơ làm nguyên liệu nuôi Ruồi lính đen giúp giảm đáng kể chi phí xử lý chất thải, đồng thời tạo ra các sản phẩm có giá trị kinh tế, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên sinh học và hình thành chuỗi giá trị mới trong sản xuất nông nghiệp bền vững.

Lam Vân

Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh vừa ban hành Kế hoạch số 40-KH/BCĐTP Hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị Thành phố.

Kế hoạch nhằm cụ thể hóa đầy đủ, kịp thời các kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Ban Chỉ đạo các cấp; tập trung tháo gỡ điểm nghẽn, xử lý dứt điểm các nhiệm vụ quá hạn và đến hạn trong năm 2026. Đồng thời tạo chuyển biến rõ nét về phương thức lãnh đạo, quản trị của các khối cơ quan Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể; đổi mới quản trị theo sản phẩm đầu ra, giảm thao tác thủ công, không phát sinh thủ tục hành chính hay nhập liệu trùng lặp; thiết lập kỷ luật nghiêm ngặt trong quản trị dữ liệu và hạ tầng số dùng chung.

Theo đó, kế hoạch được thực hiện từ ngày 10/07/2026 đến hết ngày 30/11/2026; tập trung vào 10 nhóm vấn đề trọng tâm, bao quát từ thể chế, hạ tầng số, dữ liệu số, nền tảng số đến thủ tục hành chính, kinh tế số, xã hội số, nguồn nhân lực, tài chính và an ninh mạng. Đối tượng triển khai là các cơ quan khối Đảng, Chính quyền từ cấp Thành phố đến cấp xã.

17HDKHLV100ngayhanhdongh1nen.png

Kế hoạch yêu cầu việc tổ chức thực hiện theo nguyên tắc "6 rõ - 1 xuyên suốt": rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả và xuyên suốt trong lãnh đạo, chỉ đạo đến cơ sở. Đặc biệt, nhiệm vụ chỉ được xác nhận hoàn thành khi có sản phẩm đáp ứng đầy đủ tiêu chí, có minh chứng kiểm chứng cụ thể, có người sử dụng và phát huy hiệu quả trên thực tế. Đồng thời bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng ngay từ khâu thiết kế; tất cả hệ thống trọng yếu phải được phê duyệt cấp độ an toàn và kiểm thử độc lập trước khi vận hành.

Kế hoạch số 40 cũng đặt ra nhiều chỉ tiêu cụ thể đến hết ngày 30/11/2026 như: 100% cơ quan ban hành kế hoạch triển khai; hoàn thành xử lý các nhiệm vụ chuyển đổi số quá hạn; 100% cán bộ, công chức, viên chức sử dụng chữ ký số thường xuyên; vận hành thử nghiệm iCPV-TP. Hồ Chí Minh (Hệ thống thông tin lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy, cơ quan Đảng TP. Hồ Chí Minh); cập nhật dữ liệu vào iCPV-TP. Hồ Chí Minh đảm bảo "đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung"; kết nối chia sẻ dữ liệu chuyên ngành của các sở, ngành về hệ thống giám sát của Thành ủy thông qua Trung tâm điều hành thông minh (IOC).

17HDKHLV100ngayhanhdongh2.jpg

Ảnh minh họa

Bên cạnh đó, hoàn thành rà soát, tái cấu trúc quy trình thủ tục hành chính của Đảng và Chính quyền trên môi trường điện tử; hoàn thiện 13 cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành trọng điểm ưu tiên kết nối; hoàn thành số hóa 100% tài liệu lưu trữ trong 3 năm gần nhất trước ngày 30/9/2026; 100% cơ quan thực hiện nghiêm túc đánh giá KPI trên hệ thống của Thành ủy…

Để triển khai, kế hoạch đề ra 10 nhóm nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm. Cụ thể như nhóm thể chế: ban hành các quy chế vận hành nền tảng dùng chung và bảo đảm an toàn thông tin, an ninh thông tin mạng trong hoạt động của cơ quan Đảng và Nhà nước tại TP. Hồ Chí Minh (trước 30/8/2026). Nhóm hạ tầng số: triển khai rà soát, đánh giá hạ tầng mạng dùng chung (trước 31/7/2026) và thiết lập hệ thống hội nghị truyền hình trực tuyến đến cấp cơ sở ( trước 30/11/2026).

Đối với nhóm dữ liệu số: xây dựng Kho dữ liệu dùng chung của 4 khối; thực hiện số hóa tài liệu lưu trữ và chuẩn hóa dữ liệu chuyên ngành của khối Đảng và Chính quyền. Các ưu tiên bao gồm: dữ liệu đất đai, hộ tịch (dự kiến 12 triệu dữ liệu), người có công, hồ sơ sức khỏe điện tử, và dữ liệu quy hoạch. Nhóm nền tảng số: vận hành iCPV-TP. Hồ Chí Minh và triển khai Mô hình chuyển đổi số cấp xã (trước 30/11/2026).

Nhóm thủ tục hành chính: triển khai 04 TTHC của Đảng trên môi trường điện tử; tăng cường khai thác dữ liệu phục vụ công tác chỉ đạo điều hành, giải quyết hồ sơ TTHC và cung cấp dịch vụ công trực tuyến; tái cấu trúc các TTHC khối chính quyền có tần suất phát sinh hồ sơ cao, liên quan đến người dân, doanh nghiệp…

Nhóm kinh tế số: đo lường đóng góp kinh tế số/GRDP và hỗ trợ doanh nghiệp SME chuyển đổi số. Nhóm xã hội số: triển khai Bình dân học vụ số và củng cố Tổ công nghệ số cộng đồng…

Với lộ trình rõ ràng, nhiệm vụ cụ thể và trách nhiệm gắn với từng cơ quan, đơn vị, kế hoạch hành động 100 ngày (chi tiết xem tại đây) được kỳ vọng sẽ tạo chuyển biến thực chất trong chuyển đổi số của hệ thống chính trị TP. Hồ Chí Minh. Qua đó góp phần hiện đại hóa phương thức lãnh đạo, quản trị và điều hành trên nền tảng dữ liệu. Đây cũng là tiền đề quan trọng để Thành phố tiếp tục phát huy vai trò đầu tàu trong triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.

Lam Vân

Sở Khoa học và Công nghệ vừa tổ chức Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ "Tình trạng sâu răng và hiệu quả sử dụng vecni fluor (NaF 5%) dự phòng sâu răng sớm ở trẻ em (3-5 tuổi) tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu". Nhiệm vụ do Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương TP. Hồ Chí Minh chủ trì thực hiện, TS.BSCKII. Lê Trung Chánh làm chủ nhiệm.

Kết quả nghiên cứu không chỉ cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng sâu răng ở trẻ mầm non tại khu vực Bà Rịa - Vũng tàu mà còn đánh giá hiệu quả của giải pháp dự phòng bằng NaF 5%, đồng thời đề xuất mô hình chăm sóc răng miệng học đường có khả năng triển khai rộng rãi trong thực tiễn.

16KQNCntdtduphongsaurangh1ok.JPG

Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ tại Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh ngày 24/7/2026

Thực trạng sâu răng sớm ở trẻ em

Theo nhóm nghiên cứu, sâu răng sớm ở trẻ em là một bệnh lý phổ biến trong cộng đồng. Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sâu răng sữa ở trẻ mầm non ở mức rất cao, dao động từ 70-90%, trong đó phần lớn trẻ chưa được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Bệnh sâu răng không chỉ ảnh hưởng đến chức năng ăn nhai, thẩm mỹ mà còn tác động tiêu cực đến phát triển thể chất, tâm lý và kết quả học tập của trẻ.

Trong số các biện pháp dự phòng, vecni fluor là giải pháp đã được áp dụng thành công tại nhiều quốc gia trong các chương trình nha học đường. Việc bôi vecni fluor định kỳ giúp tăng cường khả năng kháng sâu của men răng, ức chế quá trình khử khoáng và hỗ trợ tái khoáng, từ đó giảm đáng kể nguy cơ sâu răng mới.

Nhiệm vụ được thực hiện mục tiêu mô tả tình trạng sâu răng và vệ sinh răng miệng của trẻ mẫu giáo 3, 4, 5 tuổi khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (thuộc TP. Hồ Chí Minh); đánh giá hiệu quả can thiệp sử dụng vecni fluor trong dự phòng sâu răng sớm cho nhóm trẻ mẫu giáo; xây dựng chương trình phòng ngừa sâu răng cho nhóm trẻ mẫu giáo bằng vecni fluor tại Bà Rịa - Vũng Tàu.

16KQNCntdtduphongsaurangh2.JPG

Đại diện nhóm nghiên cứu báo cáo các kết quả thực hiện nhiệm vụ

Nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 2.387 trẻ tại 16 trường mầm non, bao gồm cả khu vực thành thị và nông thôn. Đây là một trong những nghiên cứu có quy mô mẫu lớn trong lĩnh vực nha khoa cộng đồng đối với nhóm trẻ mầm non tại Việt Nam.

16KQNCntdtduphongsaurangh3.JPG

Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ sâu răng ở nhóm trẻ nghiên cứu là 80,73%, tăng dần theo độ tuổi; trong đó trẻ 5 tuổi có tỷ lệ sâu răng cao hơn nhóm 3 tuổi. Đáng chú ý, tỷ lệ sâu răng ở khu vực nông thôn cao hơn rõ rệt so với khu vực thành thị. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, mặc dù phần lớn trẻ đã hình thành thói quen chải răng hằng ngày, song khoảng 70% không chải răng sau khi ăn, kỹ thuật chải răng còn chưa đúng và hơn một nửa số trẻ chưa từng được khám răng định kỳ. Những số liệu này cho thấy công tác giáo dục sức khỏe răng miệng cũng như các chương trình nha học đường cần được tăng cường, đặc biệt tại các địa bàn còn hạn chế về nguồn lực chăm sóc sức khỏe.

Hiệu quả của NaF 5% và mô hình nha học đường phù hợp thực tiễn

Một trong những điểm nhấn quan trọng của đề tài là việc ứng dụng hệ thống ICDAS II (tiêu chuẩn quốc tế giúp phát hiện các tổn thương sâu răng ngay từ giai đoạn rất sớm, trước khi hình thành lỗ sâu rõ rệt); đồng thời sử dụng vecni fluor (NaF 5%) để can thiệp nhằm đánh giá hiệu quả của NaF 5% trong dự phòng sâu răng sớm.

Nhóm nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm lâm sàng trên 674 trẻ, chia thành nhóm can thiệp (được bôi vecni fluor định kỳ kết hợp hướng dẫn chăm sóc răng miệng) và nhóm đối chứng chỉ được tăng cường hướng dẫn chải răng. Thiết kế nghiên cứu này cho phép đánh giá khách quan hiệu quả của giải pháp can thiệp trong điều kiện thực tế tại cộng đồng.

16KQNCntdtduphongsaurangh6nen.JPG

Sau 9 tháng theo dõi, kết quả cho thấy nhóm được bôi vecni fluor có tốc độ xuất hiện sâu răng mới thấp hơn so với nhóm đối chứng. Trung bình, số răng sâu mới giảm từ 0,7 đến 0,8 răng/trẻ, trong khi 73,2% trẻ ở nhóm can thiệp không xuất hiện thêm tổn thương sâu răng mới, cao hơn đáng kể so với nhóm không được can thiệp. Nghiên cứu không ghi nhận biến chứng hoặc tác dụng không mong muốn trong quá trình triển khai.

Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu còn xây dựng mô hình chăm sóc sức khỏe răng miệng cho trẻ mẫu giáo theo hướng tích hợp giữa giáo dục, y tế và công nghệ.

Theo đó, mô hình được xây dựng trên hai trụ cột chính gồm giáo dục nha học đường và can thiệp dự phòng chủ động. Trong nhà trường, trẻ được hướng dẫn thực hành chải răng đúng cách, xây dựng "Góc răng xinh" để hình thành thói quen vệ sinh răng miệng hằng ngày. Về can thiệp dự phòng, nhóm đề xuất thực hiện bôi vecni fluor định kỳ (4 lần/năm), kết hợp trám bít hố rãnh đối với các răng có nguy cơ cao theo chỉ định chuyên môn.

16KQNCntdtduphongsaurangh4.JPG

Thành viên Hội đồng nhận xét, đánh giá kết quả nhiệm vụ 

Đề tài cũng đề xuất ứng dụng công nghệ số trong quản lý sức khỏe răng miệng trẻ em thông qua phần mềm quản lý nha học đường và ứng dụng trên điện thoại dành cho phụ huynh nhằm theo dõi tình trạng răng miệng, nhắc lịch chăm sóc và cung cấp kiến thức về dinh dưỡng, vệ sinh răng miệng. Bên cạnh đó, bộ video hoạt hình và các tài liệu truyền thông trực quan được xây dựng để nâng cao hiệu quả giáo dục sức khỏe ngay từ lứa tuổi mầm non.

16KQNCntdtduphongsaurangh5.JPG

Không chỉ mang lại hiệu quả dự phòng sâu răng sớm, mô hình còn mở ra hướng tiếp cận mới trong đầu tư cho y tế dự phòng. Theo nhóm nghiên cứu, chi phí triển khai mô hình dự phòng khoảng 280.000 đồng/trẻ/năm, thấp hơn đáng kể so với chi phí điều trị các trường hợp sâu răng tiến triển. Trong đó, riêng kỹ thuật bôi vecni fluor chỉ khoảng 80.000 đồng/trẻ/năm, cho thấy đây là giải pháp có chi phí hợp lý và dễ triển khai trong cộng đồng. Nếu được triển khai nhân rộng, mô hình có thể giúp tiết kiệm khoảng 22,5 tỷ đồng chi phí dành cho điều trị sâu răng mỗi năm. Quan trọng hơn, việc chuyển từ tư duy "điều trị khi có bệnh" sang "chủ động dự phòng" góp phần nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe răng miệng trẻ em, giảm gánh nặng điều trị cho gia đình và xã hội, hướng tới xây dựng các chương trình nha học đường bền vững.

16KQNCntdtduphongsaurangh7.JPG

Hội đồng nghiệm thu chụp hình lưu niệm cùng nhóm nghiên cứu

Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao những đóng góp mới của đề tài trong việc cung cấp bộ số liệu cập nhật, quy mô nghiên cứu lớn về tình trạng sâu răng trẻ em tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Nhiệm vụ được thực hiện công phu, kết quả nghiên cứu có giá trị khoa học cũng như ý nghĩa thực tiễn. Trong đó, quy trình bôi vecni fluor dự phòng sâu răng cho trẻ 3-5 tuổi được đề xuất đơn giản, có thể áp dụng trong chương trình nha học đường. Mô hình chăm sóc răng miệng mới cho trẻ mẫu giáo với điểm mạnh là khả năng phối hợp giữa nhà trường, cơ sở y tế và gia đình, có thể chuyển giao cho ngành y tế và ngành giáo dục các tỉnh, thành phố để triển khai đồng bộ.

Lam Vân

Cuộc thi tạo sân chơi nghệ thuật tôn vinh vẻ đẹp thể thao qua ống kính sáng tạo, truyền tải hình ảnh thể thao gắn với công nghệ, qua đó nâng cao nhận thức về vai trò của tài sản trí tuệ.  

Ngày 25/7/2026, Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp cùng Hội Sở hữu Trí tuệ Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Công nghệ Bản quyền và Tài sản số và SIA Innovation Marketing Agency tổ chức buổi trao giải cuộc thi nhiếp ảnh “BEYOND MOTION - Vượt khỏi giới hạn chuyển động”.

Ban tổ chức đã trao 3 giải Cộng đồng, 8 giải Chuyên môn cho các tác giả đạt giải. Mỗi tác phẩm không chỉ ghi dấu những khoảnh khắc thể thao đầy cảm xúc mà còn là thành quả của sự sáng tạo, đam mê và sự yêu mến từ cộng đồng dành cho các tác giả.

DSC08209.jpg

Theo Ban tổ chức, đây là lần đầu tiên - tác phẩm đạt giải trong một cuộc thi nhiếp ảnh ở Việt Nam được xác thực chính chủ và bảo vệ quyền sở hữu bằng NFT trên Blockchain - bảo trợ công nghệ bởi Viện Công nghệ Bản quyền và Tài sản số.

Cuộc thi nhiếp ảnh “BEYOND MOTION - Vượt khỏi giới hạn chuyển động” là một trong những hoạt động chào mừng Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 26/4 năm 2026, được phát động từ ngày 23/4/2026. Cuộc thi nhằm tạo sân chơi nghệ thuật tôn vinh vẻ đẹp thể thao qua ống kính sáng tạo, truyền tải hình ảnh thể thao gắn với công nghệ, qua đó nâng cao nhận thức về vai trò của tài sản trí tuệ. Sau thời gian phát động, cuộc thi đã thu hút 691 bài dự thi từ nhiều nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp, không chuyên và phong trào (không giới hạn chuyên nghiệp hay nghiệp dư).

Hoàng Kim

Diễn đàn Đổi mới sáng tạo Việt Nam toàn cầu 2026 dự kiến quy tụ đông đảo chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp, startup và nhà đầu tư trong nước, quốc tế, cùng trao đổi về các xu hướng công nghệ mới và kết nối nguồn lực phục vụ phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo Việt Nam.

Trong hai ngày 29 và 30/7/2026, Diễn đàn Đổi mới sáng tạo Việt Nam toàn cầu 2026, tên tiếng Anh là Vietnam Global Innovation Connect - VGIC 2026, sẽ diễn ra tại Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo TP.HCM (SIHUB), với chủ đề “Công nghệ tương lai - Bước nhảy số Việt Nam”.

Sự kiện do AVSE Global chủ trì tổ chức, phối hợp với Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo TP.HCM, Liên minh Kinh tế On-Chain Toàn cầu và Startup Vietnam Foundation. Ngân hàng TMCP Quân đội tham gia với vai trò đối tác chiến lược; Tập đoàn VNPT đồng hành với vai trò nhà tài trợ.

Kết nối mạng lưới chuyên gia Việt Nam toàn cầu

VGIC 2026 dự kiến quy tụ khoảng 100 chuyên gia, nhà khoa học, nhà đổi mới sáng tạo và lãnh đạo công nghệ người Việt, gốc Việt đang làm việc tại nhiều quốc gia trên thế giới.

Các diễn giả đến từ các trường đại học, viện nghiên cứu, tập đoàn công nghệ và tổ chức quốc tế sẽ mang đến những góc nhìn về phát triển công nghệ, chuyển đổi số và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Sự tham gia của cộng đồng chuyên gia được kỳ vọng góp phần mở rộng cơ hội hợp tác, chuyển giao tri thức và kết nối nguồn lực cho các doanh nghiệp, startup trong nước.

Bên cạnh đội ngũ chuyên gia, diễn đàn còn có sự hiện diện của đại diện các cơ quan quản lý, ngân hàng, tập đoàn công nghệ, quỹ đầu tư và hệ sinh thái khởi nghiệp. Thông qua việc kết nối nhiều nhóm chủ thể, chương trình hướng đến tăng cường trao đổi giữa chính sách, nghiên cứu, đầu tư và thị trường, tạo điều kiện để các ý tưởng, giải pháp công nghệ tiếp cận đối tác phù hợp.

Đây cũng là cơ hội để các doanh nghiệp, startup tìm hiểu xu hướng mới, mở rộng mạng lưới và trao đổi khả năng hợp tác với các chuyên gia, nhà đầu tư và tổ chức trong nước, quốc tế.

Tập trung vào các xu hướng công nghệ mới

VGIC 2026 tập trung thảo luận bốn lĩnh vực công nghệ được xem là những động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế số Việt Nam thông qua các phiên toàn thể, tọa đàm chuyên sâu, triển lãm công nghệ, hoạt động kết nối đầu tư và các phiên kết nối doanh nghiệp, tạo điều kiện để các ý tưởng và sáng kiến được chuyển hóa thành những cơ hội hợp tác và ứng dụng thực tiễn, gồm: (1) Smart Data (Dữ liệu thông minh): Kiến tạo hạ tầng dữ liệu và củng cố niềm tin số; (2) Smart People (Nhân tài thông minh): Kinh tế số lấy con người làm trung tâm Phát triển Năng lực và Công bằng Số; (3) Smart Business Processes (Quy trình Doanh nghiệp Thông minh): Số hóa dịch vụ hành chính công và hỗ trợ doanh nghiệp; (4) Smart Technology (Công nghệ thông minh) - Kiến tạo thể chế và hạ tầng kỹ thuật mũi nhọn

Bên cạnh các phiên thảo luận, diễn đàn còn có hoạt động triển lãm công nghệ, kết nối đầu tư và kết nối doanh nghiệp, tạo cơ hội để các tổ chức, doanh nghiệp và startup giao lưu, giới thiệu giải pháp và tìm kiếm đối tác.

Tiếp nối chương trình được tổ chức tại Singapore năm 2025, VGIC 2026 kỳ vọng tăng cường kết nối cộng đồng chuyên gia Việt Nam toàn cầu với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong nước, góp phần thúc đẩy hợp tác và chuyển giao công nghệ.

Thông tin sự kiện: Diễn đàn Đổi mới sáng tạo Việt Nam toàn cầu 2026 (Vietnam Global Innovation Connect - VGIC 2026).

Chủ đề: Công nghệ tương lai - Bước nhảy số Việt Nam

Địa điểm: Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo Thành phố Hồ Chí Minh (SIHUB);

Số 123 Trương Định, phường Xuân Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh

Đơn vị chủ trì tổ chức: AVSE Global 

Thời gian: Từ 29 đến 30 tháng 07 năm 2026

Trang tin sự kiện: www.vgic2026.net 

Liên hệ: Mr. Lê Quốc Phong, Chuyên viên Truyền thông, AVSE Global

Tel: +84 353 999 863 (zalo/ viber); Email: quocphong.le@avseglobal.org

Nguyễn Tuyết

Ngày 23/7, Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo TP. Hồ Chí Minh (SIHUB) phối hợp cùng Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao (AHBI) tổ chức sự kiện Hợp tác công nghệ với chủ đề "Quy trình nuôi trồng nấm Milky (Calocybe indica)".

Sự kiện là cầu nối quan trọng giúp doanh nghiệp tiếp cận quy trình sản xuất nấm ăn có giá trị cao, mở ra cơ hội làm chủ công nghệ và nâng cao lợi thế cạnh tranh trên thị trường.

HTCNnammilkyh12ok.JPG

Quy trình công nghệ tiềm năng cho doanh nghiệp nông nghiệp

Ông Võ Ngọc Hải, Phó Giám đốc SIHUB, cho biết sự kiện Hợp tác công nghệ thuộc chuỗi hoạt động "Cà phê Công nghệ" được tổ chức nhằm kết nối các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp sở hữu công nghệ với các tổ chức, doanh nghiệp có nhu cầu tiếp nhận và ứng dụng. Mỗi chủ đề của sự kiện đều được lựa chọn trên cơ sở khảo sát nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, từ đó tạo điều kiện để các bên cung - cầu công nghệ cùng trao đổi, đánh giá khả năng ứng dụng cũng như tìm kiếm cơ hội hợp tác, chuyển giao công nghệ.

Theo ông Hải, nấm Milky (Calocybe indica) là giống nấm ăn có giá trị kinh tế cao, được đánh giá có tiềm năng phát triển trong điều kiện sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam. Việc làm chủ quy trình nuôi trồng sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Trước khi chương trình diễn ra đã có 6 doanh nghiệp đăng ký kết nối, thể hiện sự quan tâm ngày càng lớn của doanh nghiệp đối với các giải pháp nông nghiệp công nghệ cao.

HTCNnammilkyh11ok.JPG

Bà Ngô Thị Sinh, đại diện Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao, giới thiệu quy trình nuôi trồng nấm Milky

Tại sự kiện, bà Ngô Thị Sinh, Phòng Hỗ trợ Công nghệ Vi sinh, Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao, đã giới thiệu quy trình nuôi trồng nấm Milky được nghiên cứu và chuẩn hóa theo chuỗi khép kín từ sản xuất giống, tạo phôi, nuôi trồng, chăm sóc đến thu hoạch và bảo quản.

Theo bà Sinh, nấm Milky có khả năng sinh trưởng mạnh mẽ ở nhiệt độ 25-35°C, rất phù hợp với nhà trồng tại miền Nam. Quy trình do AHBI cung cấp không chỉ tập trung vào kỹ thuật nuôi trồng mà còn chú trọng kiểm soát chất lượng sản phẩm. Với công thức cơ chất tận dụng mùn cưa cao su và phân trùn quế, nấm Milky cho quả thể lớn, thịt dày, giòn, hương vị đặc trưng giống mùi sữa. Đặc biệt, thời gian bảo quản lạnh có thể duy trì từ 30-40 ngày giúp giảm áp lực tiêu thụ cho nhà sản xuất.

HTCNnammilkyh15ok.JPG

Các đại biểu tham dự sự kiện

Bên cạnh quy trình kỹ thuật, báo cáo cũng cung cấp thông tin về tiềm năng kinh tế của mô hình. Kết quả thực nghiệm cho thấy, hiệu suất sinh học đạt khoảng 66%; với quy mô nhà trồng 100 m² (5.000 bịch phôi), doanh thu ước đạt hơn 132 triệu đồng mỗi vụ, lợi nhuận thuần khoảng 54,5 triệu đồng và thời gian hoàn vốn dự kiến từ 2,5 đến 3 năm. Đây là cơ sở quan trọng để các doanh nghiệp, hợp tác xã cân nhắc đầu tư, mở rộng sản xuất theo hướng nông nghiệp công nghệ cao.

Mở rộng cơ hội ứng dụng, nâng cao giá trị ngành nấm

Không chỉ giới thiệu quy trình công nghệ, chương trình còn dành nhiều thời gian cho phiên thảo luận, trao đổi trực tiếp giữa đơn vị cung ứng và các doanh nghiệp, hợp tác xã nhằm làm rõ khả năng ứng dụng trong điều kiện sản xuất thực tế. Các nội dung được quan tâm tập trung vào điều kiện đầu tư ban đầu, lựa chọn giá thể, kỹ thuật chăm sóc, kiểm soát chất lượng, cũng như khả năng tiêu thụ sản phẩm sau thu hoạch.

HTCNnammilkyh14ok.JPG

Cụ thể như đại diện Hợp tác xã Nông nghiệp Phước Lại quan tâm khả năng tận dụng phụ phẩm địa phương làm giá thể; doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất nấm trao đổi về kỹ thuật xử lý đất phủ, kiểm soát pH và các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất; trong khi các doanh nghiệp mới chú trọng mức đầu tư ban đầu, khả năng hoàn vốn và những hỗ trợ cần thiết khi tiếp nhận công nghệ.

HTCNnammilkyh13ok.JPG

Phần trao đổi, thảo luận, kết nối trực tiếp tại sự kiện

Giải đáp các nội dung này, đại diện AHBI cho biết đơn vị không chỉ chuyển giao quy trình kỹ thuật mà còn đồng hành với doanh nghiệp trong suốt quá trình triển khai. Đối với các doanh nghiệp chưa đủ điều kiện đầu tư ngay, AHBI có chương trình ươm tạo kéo dài từ hai đến ba năm, tạo điều kiện sử dụng hạ tầng và nhà xưởng để thực hành trước khi đầu tư quy mô lớn. Đội ngũ kỹ sư của Trung tâm cũng sẽ trực tiếp khảo sát, tư vấn phương án thiết kế nhà trồng và điều chỉnh quy trình phù hợp với điều kiện của từng đơn vị. Đồng thời, doanh nghiệp được hỗ trợ đăng ký các chứng nhận sản xuất, kết nối xúc tiến thương mại và mở rộng kênh tiêu thụ sản phẩm sau khi tiếp nhận công nghệ.

HTCNnammilkyh16ok.JPG

Ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác công nghệ nuôi trồng nấm Milky   

Tại chương trình, Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao đã ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác với sáu đơn vị có nhu cầu tiếp nhận công nghệ, gồm Hợp tác xã Nông nghiệp Phước Lại, Công ty Cổ phần Đầu tư Công nghệ Nấm, Công ty TNHH Nấm Hải Nam, Công ty TNHH Khoa học và Công nghệ GreenCycle Việt Nam, Công ty TNHH Thương mại Tường Thông và Hộ kinh doanh xã Bàu Bàng. Đây là cơ sở để các bên tiếp tục trao đổi chuyên sâu, hoàn thiện phương án hợp tác và từng bước triển khai chuyển giao công nghệ trong thời gian tới.

Theo Ban tổ chức, sự kiện Hợp tác công nghệ nhằm tiếp tục phát huy vai trò cầu nối giữa đơn vị cung ứng và doanh nghiệp có nhu cầu tiếp nhận công nghệ, góp phần thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và mở rộng cơ hội ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất. Sự thành công của chương trình cũng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, gia tăng giá trị cho ngành nấm, đồng thời góp phần phát triển nông nghiệp đô thị, nông nghiệp công nghệ cao theo hướng xanh và bền vững.

Lam Vân

Clip hoạt động


Bản quyền © 2018 Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Thiết kế và phát triển bởi HCMGIS
Tổng số truy cập: 11537424