Ngày 07/7, Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh) tổ chức Lớp tập huấn phổ biến, hướng dẫn các văn bản pháp luật, tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và các hoạt động liên quan đến truy xuất nguồn gốc (bao gồm các sản phẩm OCOP).
Chương trình nhằm cập nhật các quy định mới, nâng cao năng lực triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc (TXNG) cho các cơ quan, đơn vị, sở ngành, hợp tác xã và doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố. Đây là lớp tập huấn thứ 4 trong chuỗi 6 lớp tập huấn được Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng triển khai theo Kế hoạch số 647/KH-SKHCN của Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh về triển khai, áp dụng và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc trên địa bàn Thành phố năm 2026. Chương trình thu hút gần 100 học viên là đại diện các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân phường, xã, đặc khu cùng các hợp tác xã và doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố tham dự.

Ông Lý Thái Hùng, Chi cục trưởng Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, phát biểu tại chương trình tập huấn
Theo ông Lý Thái Hùng, Chi cục trưởng Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, việc xây dựng uy tín và nâng cao giá trị hàng hóa Việt Nam cần dựa trên nền tảng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và hoạt động TXNG. Ông nhấn mạnh, hoạt động TXNG không chỉ giúp minh bạch hóa thông tin, bảo vệ người tiêu dùng, phục vụ công tác quản lý nhà nước mà còn là điều kiện tiên quyết, là "tấm vé thông hành" để hàng hóa vượt qua các rào cản kỹ thuật, tự tin vươn ra thị trường quốc tế.

Lớp tập huấn số 4 được tổ chức tại Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng TP. Hồ Chí Minh
Ông Lý Thái Hùng cho biết, thời gian qua Chính phủ và các bộ, ngành đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý về TXNG thông qua nhiều văn bản quan trọng. Tuy nhiên, từ nhận thức đến triển khai thực tế vẫn còn khoảng cách nhất định khi nhiều cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp còn gặp khó khăn trong việc chuẩn hóa mã truy vết, ghi nhãn hàng hóa, áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật và kết nối dữ liệu với hệ thống truy xuất nguồn gốc quốc gia. Vì vậy, lớp tập huấn được tổ chức nhằm giúp học viên cập nhật các quy định mới, đồng thời tạo diễn đàn trao đổi, tháo gỡ những vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai tại cơ sở.
Tại lớp tập huấn, báo cáo viên Trung tâm Mã số, mã vạch Quốc gia (NBC) đã trình bày các chuyên đề Tổng quan về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế; Cập nhật các cơ sở, quy định pháp luật mới liên quan đến hoạt động TXNG; Hướng dẫn nhận diện hệ thống truy xuất nguồn gốc đúng quy định và các mô hình chưa phù hợp trên thị trường.

Ông Trần Ngọc Trung (Trung tâm NBC), báo cáo viên chính của chương trình
Theo đó, ông Trần Ngọc Trung, Phụ trách Văn phòng đại diện khu vực phía Nam, Trung tâm NBC, đã phân tích vai trò của TXNG trong việc nâng cao tính minh bạch của chuỗi cung ứng, tăng cường niềm tin của người tiêu dùng và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước cũng như quốc tế. Bên cạnh việc cập nhật những điểm mới của Luật số 78/2025/QH15, Nghị định số 37/2026/NĐ-CP và Thông tư số 02/2024/TT-BKHCN, ông cũng hướng dẫn học viên xây dựng hệ thống TXNG theo nguyên tắc "một bước trước - một bước sau", bảo đảm khả năng theo dõi, nhận diện và kết nối thông tin xuyên suốt trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Đồng thời, việc ứng dụng các tiêu chuẩn GS1, mã định danh và mã QR được giới thiệu như "ngôn ngữ chung" giúp dữ liệu có thể liên thông với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia và các hệ thống quản lý hiện đại.
Để giúp học viên hình dung rõ hơn về hiệu quả của TXNG trong thực tiễn, ông Trung đã giới thiệu nhiều mô hình triển khai tiêu biểu. Trong đó, hệ thống Saigon Co.op tích hợp TXNG vào quản lý chất lượng, giúp người tiêu dùng dễ dàng tra cứu thông tin sản phẩm và các chứng nhận liên quan; mô hình tại Chợ đầu mối Bình Điền hỗ trợ truy vết nhanh nguồn gốc hàng hóa khi xảy ra sự cố an toàn thực phẩm; nhiều sản phẩm OCOP và nông sản địa phương sau khi áp dụng TXNG đã nâng cao giá trị thương hiệu, mở rộng khả năng tiếp cận thị trường xuất khẩu.

Các học viên tại lớp tập huấn
Ngoài nội dung lý thuyết, học viên còn được hướng dẫn nhận diện hệ thống TXNG đúng quy định; thực hành xây dựng quy trình TXNG thực tế từ hồ sơ sản phẩm, tạo mã truy xuất, tạo tem QR, đến thực hiện truy xuất xuôi, truy xuất ngược và trực tiếp trao đổi với các chuyên gia về những khó khăn trong quá trình áp dụng tại cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp.
Thông qua chuỗi lớp tập huấn năm 2026, Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục đồng hành cùng các cơ quan, đơn vị, hợp tác xã và doanh nghiệp trong việc nâng cao năng lực triển khai hệ thống TXNG theo quy định pháp luật và tiêu chuẩn quốc gia. Qua đó góp phần minh bạch hóa thông tin sản phẩm, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, tạo nền tảng thúc đẩy chuyển đổi số, nâng cao chất lượng quản trị và tăng sức cạnh tranh cho hàng hóa Thành phố trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Lam Vân
Toàn bộ dữ liệu được quản lý và hiển thị trực quan trên hệ thống Dashboard tập trung tại địa chỉ: https://chuyendoiso.gitc.com.vn/.
Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu chuyên ngành khoa học và công nghệ, từng bước hình thành nền tảng dữ liệu đồng bộ phục vụ công tác quản lý, điều hành và chuyển đổi số của ngành.
Theo Kế hoạch số 2110/KH-SKHCN của Sở Khoa học và Công nghệ, Trung tâm Công nghệ thông tin và Địa không gian TP.HCM (GITC) được giao chủ trì triển khai các nội dung xây dựng, chuẩn hóa và kết nối cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Đến nay, GITC đã rà soát, đánh giá toàn diện hiện trạng hệ thống thông tin; đồng thời tiến hành khảo sát, thu thập dữ liệu từ tất cả các phòng/đơn vị trực thuộc Sở nhằm đánh giá hiện trạng dữ liệu làm cơ sở xây dựng dữ liệu chuyên ngành theo hướng đồng bộ, thống nhất.
Sau khi thu thập dữ liệu, GITC đã triển khai công tác thiết kế cơ sở dữ liệu cho 23/26 cơ sở dữ liệu chuyên ngành (bao gồm 61 bảng dữ liệu), nhập liệu, chuẩn hóa và làm sạch cơ sở dữ liệu. Kết quả, GITC đã xây dựng hoàn thành 23/26 cơ sở dữ liệu chuyên ngành khoa học và công nghệ, với 1.168.854 bản ghi thực tế đã được chuẩn hóa và lưu trữ. Toàn bộ dữ liệu được quản lý và hiển thị trực quan trên hệ thống Dashboard tập trung tại địa chỉ: https://chuyendoiso.gitc.com.vn/.

Không chỉ vậy, GITC đã xây dựng và cung cấp các dịch vụ chia sẻ dữ liệu (API) cho Trung tâm Chuyển đổi số Thành phố Hồ Chí Minh để tích hợp 11 cơ sở dữ liệu chuyên ngành vào Kho dữ liệu dùng chung của Thành phố.
Trong thời gian tiếp theo, GITC sẽ tiếp tục nghiên cứu, xây dựng dịch vụ chia sẻ dữ liệu (API) cho 12 cơ sở dữ liệu còn lại (trong tổng số các cơ sở dữ liệu đã làm sạch và hoàn thiện) để chia sẻ đồng bộ vào cơ sở dữ liệu dùng chung của Thành phố Hồ Chí Minh và kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu của Bộ Khoa học và Công nghệ khi có yêu cầu.
Sáng ngày 29/6/2026, Ủy ban nhân dân TP.HCM tổ chức Lễ công bố và trao quyết định về công tác cán bộ. Tại buổi lễ, lãnh đạo UBND Thành phố đã trao quyết định tiếp nhận vào làm công chức và bổ nhiệm PGS.TS Lê Văn Thăng, Hiệu trưởng Trường Đại học Quốc tế (Đại học Quốc gia TP.HCM), giữ chức vụ Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM. PGS.TS. Lê Văn Thăng chính thức nhận nhiệm vụ kể từ ngày 01/7/2026.
PGS.TS Lê Văn Thăng (thứ ba từ phải sang) nhận quyết định bổ nhiệm Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM. Ảnh: Hà Thư
PGS.TS. Lê Văn Thăng, sinh năm 1979, là nhà khoa học có chuyên môn sâu về công nghệ vật liệu, với nhiều năm kinh nghiệm trong nghiên cứu, đào tạo và quản lý trong môi trường đại học. Ông tốt nghiệp kỹ sư ngành Hóa dầu tại Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia TP.HCM (2002) và hoàn thành chương trình Tiến sĩ Khoa học và Công nghệ Vật liệu tại Trung tâm CEA và Viện INP Grenoble (Cộng hòa Pháp). Năm 2015, ông được bổ nhiệm chức danh Phó Giáo sư.
PGS.TS Lê Văn Thăng - tân Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM. Ảnh: Hoài Nam
Trên cương vị Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM, PGS.TS. Lê Văn Thăng được kỳ vọng sẽ phát huy năng lực chuyên môn và kinh nghiệm quản lý để tiếp tục tăng cường sự gắn kết giữa cơ quan quản lý nhà nước, các trường đại học, viện nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp.
Nguyễn Tuyết
Sở Khoa học và Công nghệ vừa khởi động Cuộc thi Sáng tạo và điều khiển UAV Drone dành cho thanh thiếu niên Thành phố Hồ Chí Minh năm 2026, mở ra sân chơi công nghệ hiện đại, góp phần phát hiện, bồi dưỡng nguồn nhân lực trẻ trong lĩnh vực thiết bị bay không người lái (UAV/Drone).
Trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực then chốt để phát triển đất nước theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, TP. Hồ Chí Minh đang triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế tầm thấp đến năm 2030. Một trong những yêu cầu quan trọng là xây dựng đội ngũ nhân lực có khả năng nghiên cứu, làm chủ và ứng dụng các công nghệ mới, trong đó, UAV/Drone được xem là lĩnh vực giàu tiềm năng với khả năng ứng dụng rộng rãi trong logistics, nông nghiệp thông minh, quan trắc môi trường, quản lý đô thị, cứu hộ cứu nạn và nhiều ngành kinh tế - kỹ thuật khác.
TP. Hồ Chí Minh đã khai trương tuyến giao hàng Cần Giờ - Vũng Tàu bằng UAV
Việc tổ chức Cuộc thi Sáng tạo và điều khiển UAV Drone dành cho thanh thiếu niên năm 2026 là hoạt động cụ thể hóa các chủ trương của Trung ương và Thành phố về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Thông qua cuộc thi, Sở Khoa học và Công nghệ hướng đến xây dựng môi trường học tập, nghiên cứu và thực hành công nghệ hiện đại cho học sinh, sinh viên; rèn luyện năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và vận hành thiết bị bay không người lái, đồng thời thúc đẩy phong trào nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực UAV. Qua đó, góp phần chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành công nghệ chiến lược và định hướng phát triển kinh tế tầm thấp. Đây cũng là dịp để tăng cường kết nối giữa các cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và đội ngũ chuyên gia trong lĩnh vực UAV, góp phần từng bước hình thành hệ sinh thái nghiên cứu, sáng tạo và ứng dụng công nghệ UAV tại TP. Hồ Chí Minh.
Điểm đáng chú ý của cuộc thi là các đội thi có thành tích xuất sắc sẽ được tuyển chọn tham gia chương trình đào tạo, huấn luyện chuyên sâu, hướng tới từng bước hình thành Đội tuyển Drone Soccer TP. Hồ Chí Minh tham dự các giải đấu quốc tế.
Cuộc thi dành cho học sinh trung học cơ sở, trung học phổ thông, học viên các trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên, sinh viên các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố trên cả nước.
Ba bảng thi phù hợp với từng nhóm đối tượng
Bảng A dành cho học sinh trung học cơ sở và bảng B dành cho học sinh trung học phổ thông với nội dung thi đấu Drone Soccer – môn thể thao công nghệ do Liên đoàn Hiệp hội Drone Soccer Quốc tế (FIDA) phát triển. Các thiết bị thi đấu là drone dạng cầu được bao bọc bởi khung bảo vệ, bảo đảm an toàn trong quá trình thi đấu.
Ở bảng C, các đội thi sẽ tham gia thiết kế, chế tạo và vận hành UAV thực hiện các nhiệm vụ trên sa hình thực tế. Các bài thi được đánh giá dựa trên các tiêu chí về tính sáng tạo, khả năng ứng dụng, hiệu quả kỹ thuật và bảo đảm an toàn.
Để hỗ trợ các đội thi, Ban Tổ chức sẽ triển khai các chương trình tập huấn chuyên môn trước khi bước vào vòng sơ tuyển. Đội ngũ chuyên gia, giảng viên, doanh nghiệp và các đơn vị kỹ thuật sẽ trực tiếp hướng dẫn, chia sẻ kinh nghiệm, giúp các thí sinh tiếp cận quy chế thi đấu, công nghệ UAV và các yêu cầu kỹ thuật.
Cơ cấu giải thưởng
Ban Tổ cuộc thi chức sẽ trao các giải Nhất, Nhì, Ba, Khuyến khích và các giải thưởng phụ cho từng bảng thi, kèm tiền thưởng và giấy khen của Ban Tổ chức.
Ở bảng A và bảng B, mỗi bảng có 1 giải Nhất, 1 giải Nhì, 2 giải Ba, 3 giải Khuyến khích cùng 3 giải thưởng phụ. Bảng C gồm 1 giải Nhất, 1 giải Nhì, 2 giải Ba, 3 giải Khuyến khích và 3 giải thưởng phụ. Cơ cấu giải thưởng có thể được điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế tổ chức.
Thông qua cuộc thi, Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh kỳ vọng góp phần thúc đẩy giáo dục STEM và STEM Drone trong nhà trường; tạo điều kiện để học sinh, sinh viên phát triển tư duy sáng tạo, năng lực nghiên cứu, kỹ năng làm việc nhóm và khả năng ứng dụng công nghệ vào thực tiễn.
Những mốc thời gian cần lưu ý
+ Thời gian tiếp nhận hồ sơ đến hết ngày 30/8/2026
+ Tháng 7/2026: Công bố thể lệ và yêu cầu chuyên môn vòng sơ tuyển
+ Tháng 8/2026: Tổ chức các chương trình tập huấn kỹ thuật cho các đội thi
+ Tháng 9/2026: Dự kiến tổ chức vòng sơ tuyển
+ Tháng 10/2026: Dự kiến tổ chức vòng chung kết
+ Đăng ký tham gia cuộc thi TẠI ĐÂY.
Lam Vân
Việc sử dụng thiết bị bay không người lái để khảo sát, lập bản đồ và cập nhật hiện trạng đang mở ra phương thức thu thập dữ liệu mới cho chính quyền cơ sở. Từ địa bàn xã Trừ Văn Thố, TP.HCM từng bước triển khai ứng dụng UAV trên quy mô 168 phường, xã đặc khu, hướng đến xây dựng nguồn dữ liệu không gian trực quan, đồng bộ và có khả năng cập nhật thường xuyên.
Trong khuôn khổ dự án do Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM triển khai, CT UAV và GASCO phối hợp thực hiện bay khảo sát, thu thập hình ảnh từ trên cao và xây dựng các lớp thông tin không gian tại xã Trừ Văn Thố. Đây là địa bàn có nhiều dạng hiện trạng đan xen như khu dân cư, đất nông nghiệp, hạ tầng giao thông, kênh rạch và các khu vực phân bố không tập trung, phù hợp để đánh giá khả năng ứng dụng UAV trong điều kiện thực tế.
UAV bay số hóa tại địa bàn xã Trừ Văn Thố. Ảnh: CT UAV
Thêm công cụ quản lý cho cấp cơ sở
So với phương pháp khảo sát thủ công, UAV có khả năng bao quát nhanh khu vực rộng, tiếp cận những vị trí phân tán hoặc khó quan sát trực tiếp. Hình ảnh thu nhận từ trên cao giúp ghi nhận tương đối đầy đủ hiện trạng sử dụng đất, công trình, hạ tầng giao thông, mặt nước và sự thay đổi của không gian theo từng thời điểm.
Sau khi được xử lý và chuẩn hóa, dữ liệu có thể sử dụng để xây dựng bản đồ số, theo dõi biến động địa bàn và hỗ trợ cơ quan quản lý kiểm tra, đối chiếu thông tin. Đây cũng là cơ sở phục vụ các lĩnh vực như quy hoạch, xây dựng, giao thông, tài nguyên, môi trường và phát triển kinh tế - xã hội.
Đối với chính quyền cấp xã, dữ liệu trực quan có thể giúp giảm sự phụ thuộc vào các báo cáo rời rạc, đồng thời nâng cao khả năng phát hiện những thay đổi trên thực địa. Chẳng hạn, bản đồ số có thể hỗ trợ theo dõi biến động sử dụng đất, cập nhật mạng lưới giao thông, kênh rạch, nhận diện khu vực hạ tầng cần kiểm tra hoặc phục vụ công tác quy hoạch.
Khi được tích hợp vào các nền tảng số, từng nhóm dữ liệu có thể được tổ chức thành các lớp thông tin riêng, giúp cơ quan quản lý khai thác theo từng nhu cầu. Việc cập nhật định kỳ còn tạo điều kiện so sánh hiện trạng giữa các thời điểm, từ đó cung cấp thêm căn cứ cho quá trình ra quyết định.
Làm chủ công nghệ phục vụ số hóa
Trong dự án, CT UAV phụ trách thiết bị và công nghệ bay, trong khi GASCO đảm nhận hoạt động tổ chức, vận hành dịch vụ liên quan đến kinh tế không gian tầm thấp. UAV được phát triển trên nền tảng hệ thống điều khiển bay CT - Nexus Flight Control System, có khả năng duy trì độ ổn định và vận hành trong nhiều điều kiện địa hình.
Kỹ sư CT UAV kiểm tra thiết bị trước khi vận hành. Ảnh: CT UAV
Thiết bị UAV được triển khai có khối lượng 3,5 kg, tải trọng tối đa 5 kg và thời gian bay tối đa 60 phút trong điều kiện không tải. Thiết bị đạt tốc độ bay 10–15 m/s, khoảng cách điều khiển tối đa 15km trong điều kiện không vật cản và khả năng kháng gió cấp 6. UAV được trang bị camera 4K HD hỗ trợ zoom hybrid 6x, phục vụ thu thập dữ liệu hình ảnh từ trên cao. Điểm khác biệt của camera trên UAV là khi kết hợp với dữ liệu mapping thu thập từ UAV, hệ thống có thể cung cấp hình ảnh thực địa với độ phân giải cao, chi tiết gấp 5 lần so với ảnh vệ tinh, tạo nguồn đầu vào chất lượng cho công tác số hóa dữ liệu hiện trạng, xây dựng bản đồ số và hình thành các lớp dữ liệu không gian.
Theo đơn vị triển khai, thiết bị có tỷ lệ nội địa hóa 87,5%, thể hiện năng lực thiết kế, chế tạo và tích hợp công nghệ của đội ngũ kỹ sư trong nước. Dữ liệu hình ảnh thu được có độ phân giải cao, đáp ứng yêu cầu xây dựng bản đồ số và hình thành các lớp dữ liệu không gian phục vụ quản lý.
Nguồn dữ liệu từ hoạt động bay khảo sát cũng có thể được sử dụng làm đầu vào cho công nghệ Bản sao số Quốc gia 15 lớp - NDT15 thuộc hệ sinh thái CT Group. Việc đưa hiện trạng thực tế vào môi trường số giúp hỗ trợ mô phỏng, phân tích và đối chiếu thông tin không gian.
Từ điểm triển khai tại xã Trừ Văn Thố, dự án đặt nền tảng mở rộng ứng dụng UAV trên phạm vi 168 phường, xã đặc khu của TP.HCM. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, cập nhật và kết nối với hệ thống quản lý hiện có, UAV không chỉ là thiết bị ghi hình mà có thể trở thành công cụ hỗ trợ quản trị địa phương, góp phần phát triển chính quyền số và nâng cao hiệu quả quản lý đô thị, nông thôn.
Nguyễn Tuyết
Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM vừa tổ chức Hội đồng nghiệm thu nhiệm vụ khoa học công nghệ “Nghiên cứu xây dựng một số quy trình sản xuất nông nghiệp tuần hoàn, cacbon thấp, giảm phát thải khí nhà kính tại Thành phố Hồ Chí Minh” do TS. Lê Thụy Bình Phương làm chủ nhiệm, Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao Khoa học Công nghệ chủ trì thực hiện.
Nhiệm vụ hướng đến xây dựng các mô hình nông nghiệp tuần hoàn và giải pháp kỹ thuật phù hợp, làm cơ sở nhân rộng, khai thác hiệu quả nguồn phụ phẩm nông nghiệp sẵn có, giảm phát thải khí nhà kính và gia tăng lợi ích cho người sản xuất. Hai hướng nghiên cứu chính gồm nuôi ấu trùng ruồi lính đen từ phụ phế phẩm và chăn nuôi bò bằng rơm ủ vi sinh.
Toàn cảnh Hội đồng nghiệm thu ngày 30/6/2026.
Tận dụng đến 70% phụ phẩm nuôi ấu trùng
Nhóm nghiên cứu cho biết, qua khảo sát tại Củ Chi, Hóc Môn và Bình Chánh, đã ghi nhận nguồn phụ phế phẩm phát sinh trên địa bàn Thành phố khá lớn. Lượng chất thải tại các chợ đầu mối dao động từ 36 - 73 tấn/ngày, chất thải rắn từ các cơ sở giết mổ khoảng 242 tấn/ngày, trong khi chất thải chăn nuôi từ 114 - 801 tấn/ngày.
Từ kết quả khảo sát và phân tích thành phần dinh dưỡng, nhóm nghiên cứu xây dựng các khẩu phần nuôi ấu trùng ruồi lính đen bằng trái cây, rau củ loại thải, phân chuồng và chất thải từ cơ sở giết mổ.
TS. Lê Thụy Bình Phương - Chủ nhiệm đề tài báo cáo tại Hội đồng nghiệm thu.
Kết quả cho thấy mô hình có thể sử dụng từ 60 - 70% phụ phế phẩm trong khẩu phần, cao hơn mục tiêu ban đầu là xử lý 32% phụ phẩm. Tỷ suất lợi nhuận gộp trung bình đạt 57,92%; hiệu quả kinh tế được cải thiện 60,8% so với mô hình bên ngoài, vượt yêu cầu tăng tối thiểu 12%.
Mô hình còn giúp giảm 89,91% lượng phát thải CO2 tương đương so với phương pháp ủ compost. Kết quả cho thấy ấu trùng ruồi lính đen có thể trở thành mắt xích quan trọng trong việc chuyển hóa chất thải hữu cơ thành nguồn nguyên liệu phục vụ chăn nuôi và trồng trọt.
Quy trình nông nghiệp tuần hoàn Ruồi lính đen
Cách xử lý phụ phẩm cây trồng và chuồng trại trong chăn nuôi bò thịt
Nâng hiệu quả chăn nuôi bò bằng rơm ủ vi sinh
Đối với mô hình chăn nuôi bò, nhóm nghiên cứu tiến hành so sánh rơm thô, rơm ủ kiềm và rơm ủ vi sinh. Kết quả xác định rơm ủ vi sinh ở mức 30% là phương án phù hợp về năng suất, hiệu quả kinh tế và khả năng giảm phát thải.
Khẩu phần được lựa chọn tận dụng 95,8% nguyên liệu phụ phẩm, gồm 38% rơm ủ vi sinh, 38% bã nành và 19,8% bụi malt. Trong đó, mức sử dụng rơm ủ vi sinh đạt 38%, cao hơn mục tiêu đề tài đặt ra là tận dụng 35% phụ phẩm rơm lúa.
So với mô hình bên ngoài, hiệu quả kinh tế của mô hình tăng 14,31%, đồng thời giảm khoảng 54% lượng phát thải CO2 tương đương. Quy trình đã được chuyển giao cho ba hộ chăn nuôi tại Củ Chi, góp phần tận dụng nguồn rơm sau thu hoạch, giảm chi phí thức ăn và hạn chế tình trạng đốt bỏ phụ phẩm.
Ngoài hai mô hình trên, nhiệm vụ đã tổ chức tập huấn cho 65/78 cán bộ chuyên trách của Chi cục Chăn nuôi và Thú y TP.HCM, đạt tỷ lệ 83%, cùng 10 nông dân tiêu biểu. Nhóm nghiên cứu cũng hoàn thành báo cáo hiện trạng phụ phế phẩm nông nghiệp, hai dự thảo bộ tiêu chí và phương pháp đánh giá giảm phát thải cacbon, cùng báo cáo chuyên đề về cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ cacbon trong nông nghiệp.
Những kết quả đạt được cho thấy phụ phẩm nông nghiệp có thể được đưa trở lại chu trình sản xuất, góp phần nâng cao năng suất, cải thiện hiệu quả kinh tế và giảm phát thải so với phương thức thông thường. Đây là cơ sở thực tiễn để tiếp tục hoàn thiện quy trình, mở rộng chuyển giao và nhân rộng các mô hình nông nghiệp tuần hoàn phù hợp với điều kiện từng địa bàn.
Hội đồng thống nhất nghiệm thu nhiệm vụ, đồng thời đề nghị nhóm nghiên cứu tiếp thu các ý kiến góp ý, bổ sung và hoàn thiện những nội dung liên quan.
Nguyễn Tuyết
Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM vừa tổ chức nghiệm thu nhiệm vụ khoa học công nghệ “Nghiên cứu mô hình nhà ở giá rẻ hướng đến đối tượng người nhập cư tại khu vực ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh”. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học để Thành phố phát triển nhà ở giá rẻ theo hướng linh hoạt, bền vững và phù hợp với nhu cầu thực tế của người lao động nhập cư.
Nhiệm vụ do Trường Đại học Tôn Đức Thắng chủ trì, PGS.TS.KTS Ngô Lê Minh làm chủ nhiệm. Nghiên cứu được thực hiện trước nhu cầu nhà ở ngày càng lớn của người nhập cư có thu nhập thấp, trong khi nguồn cung phù hợp còn hạn chế và điều kiện cư trú tại nhiều khu vực chưa được bảo đảm.
Thông qua khảo sát thực trạng, phân tích nhu cầu và khả năng chi trả, nhóm nghiên cứu hướng đến xây dựng các mô hình nhà ở có tính khả thi, đáp ứng nhu cầu an cư, nâng cao chất lượng sống và thích ứng với tác động của biến đổi khí hậu tại khu vực ngoại thành TP.HCM.
Nhu cầu không chỉ dừng ở một chỗ ở tạm
Theo nhóm nghiên cứu, kết quả khảo sát cho thấy phần lớn người nhập cư có thu nhập và khả năng tích lũy hạn chế, chủ yếu sống trong các khu nhà trọ còn chật hẹp, thiếu tiện ích và điều kiện sinh hoạt cần thiết. Bên cạnh chi phí phù hợp, người lao động ngày càng quan tâm đến môi trường sống an toàn, ổn định, thuận tiện đi lại và phù hợp với hoàn cảnh cư trú.
PGS.TS.KTS Ngô Lê Minh - Chủ nhiệm đề tài trình bày báo cáo tại Hội đồng.
Từ thực trạng đó, nhiệm vụ đề xuất các giải pháp đồng bộ về quy hoạch, kiến trúc, tài chính và quản lý vận hành. Nhà ở giá rẻ được định hướng phát triển gần nơi làm việc, giao thông công cộng và dịch vụ thiết yếu; đồng thời tổ chức không gian hợp lý, có khu sinh hoạt cộng đồng.
Về kiến trúc, nghiên cứu hướng đến tiêu chí “Bền - Rẻ - Dễ bảo trì”, bảo đảm sử dụng không gian hiệu quả, tiết kiệm chi phí xây dựng và vận hành nhưng vẫn đáp ứng yêu cầu về thông gió, chiếu sáng tự nhiên, an toàn phòng cháy và không gian sinh hoạt chung. Các loại hình nhà ở được tổ chức linh hoạt, phù hợp với nhu cầu, khả năng chi trả và thời gian cư trú của từng nhóm người nhập cư.
Hình thành hệ sinh thái nhà ở giá rẻ
Từ kết quả khảo sát và phân tích nhu cầu, nhiệm vụ đề xuất sáu mô hình nhà ở giá rẻ phù hợp với khả năng chi trả và đặc điểm cư trú của từng nhóm lao động. Trong đó, ba mô hình nhà cấp 4 gồm loại dưới 20 m² dành cho lao động độc thân, công nhân thời vụ, sinh viên hoặc người nhập cư ngắn hạn; loại trên 20 m² phù hợp với vợ chồng trẻ, hộ gia đình nhỏ; loại trên 30 m² hướng đến gia đình trẻ có con hoặc người có nhu cầu cư trú lâu dài.
Ba mô hình còn lại gồm nhà ở nhiều tầng xây dựng tại chỗ, phù hợp với công nhân làm việc dài hạn và viên chức trẻ; nhà ở nhiều tầng lắp ghép, có ưu điểm thi công nhanh, chi phí hợp lý và thuận lợi nhân rộng; nhà ở module container thấp tầng dành cho lao động trẻ, làm việc ngắn hạn hoặc có nhu cầu cư trú linh hoạt. Các mô hình được định hướng bố trí gần nơi làm việc, kết nối với hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ thiết yếu và không gian sinh hoạt cộng đồng.
Để nâng cao khả năng triển khai, nhóm nghiên cứu đề xuất cơ chế “3-Nhà” gồm Nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức tín dụng. Theo đó, Nhà nước thực hiện vai trò kiến tạo chính sách, hỗ trợ đất đai và hạ tầng; doanh nghiệp đầu tư, xây dựng, khai thác và vận hành; tổ chức tín dụng cung cấp nguồn vốn phù hợp. Chi phí thuê hoặc trả góp được tính toán theo khả năng chi trả của người lao động.
Các mô hình được xây dựng theo nguyên tắc lấy người ở làm trung tâm, bảo đảm tiết kiệm, linh hoạt, bền vững và có khả năng nhân rộng. Nghiên cứu cũng đề xuất các giải pháp đồng bộ về quy hoạch, tài chính, công nghệ, vật liệu và quản lý vận hành, góp phần nâng cao chất lượng sống và phát triển nhà ở giá rẻ tại TP.HCM.
Hội đồng thống nhất nghiệm thu, đồng thời đề nghị nhóm nghiên cứu tiếp thu góp ý và hoàn thiện các nội dung liên quan.
Nguyễn Tuyết








