SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nhằm tăng cường kết nối, trao đổi kinh nghiệm và tìm kiếm cơ hội hợp tác trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, thương mại điện tử và phát triển doanh nghiệp, sáng 16/7/2026, Đoàn công tác thành phố Phổ Ninh, Trung Quốc do ông Lin Jianwen - Thị trưởng Chính quyền Nhân dân thành phố Phổ Ninh làm Trưởng đoàn đã đến thăm và làm việc với Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM.

5.jpg

Quang cảnh buổi làm việc giữa TP.HCM và thành phố Phổ Ninh.

Tiếp và làm việc với đoàn có ông Trần Trọng Tuyên - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM, cùng đại diện các phòng chuyên môn, đơn vị trực thuộc Sở; về phía thành phố Phổ Ninh có đại diện chính quyền, các cơ quan chuyên môn và cộng đồng doanh nghiệp địa phương.

Nhiều tiềm năng hợp tác từ thế mạnh của hai địa phương

Tại buổi làm việc, ông Trần Trọng Tuyên - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM đã giới thiệu khái quát về tiềm năng và định hướng phát triển của Thành phố sau quá trình hợp nhất. Với quy mô dân số, thị trường và không gian phát triển được mở rộng, cùng hệ thống khu công nghiệp, khu chế xuất, trường đại học, viện nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp quy mô lớn, TP.HCM đang đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

4.jpg

Ông Trần Trọng Tuyên - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM phát biểu tại buổi làm việc.

Đồng thời, Thành phố tăng cường hợp tác quốc tế, hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, phát triển nhân lực, mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị quốc tế.

Ông Lin Jianwen - Thị trưởng Chính quyền Nhân dân thành phố Phổ Ninh cho biết địa phương có thế mạnh về dệt may, thương mại điện tử, logistics, dược liệu, chế biến thực phẩm và nông sản chất lượng cao; đồng thời sở hữu hệ thống sản xuất, cung ứng hàng hóa cùng mạng lưới doanh nghiệp kết nối với nhiều thị trường quốc tế. Những năm gần đây, Phổ Ninh đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong sản xuất, quản lý nhằm nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm.

3.jpg

Ông Lin Jianwen - Thị trưởng Chính quyền Nhân dân thành phố Phổ Ninh chia sẻ tại buổi làm việc.

Ông đánh giá Việt Nam là thị trường giàu tiềm năng, và bày tỏ mong muốn tăng cường kết nối với các cơ quan, hiệp hội và doanh nghiệp TP.HCM; đồng thời tiếp cận thông tin về chính sách và các chương trình hỗ trợ đầu tư trong những lĩnh vực hai bên cùng quan tâm.

Thúc đẩy kết nối doanh nghiệp và chuyển giao công nghệ

Tại buổi làm việc, hai bên đã trao đổi về các lĩnh vực có tiềm năng hợp tác trên cơ sở thế mạnh và nhu cầu phát triển của mỗi địa phương. Đại diện Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM đánh giá các lĩnh vực như dệt may, thương mại điện tử, logistics và chuỗi cung ứng của thành phố Phổ Ninh có nhiều điểm tương đồng với nhu cầu đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và mở rộng thị trường của các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố.

Trên tinh thần thống nhất cao, hai bên cam kết tăng cường chia sẻ thông tin, thiết lập các chương trình giao thương và kết nối cung - cầu công gắn với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp. Trọng tâm hợp tác sẽ hướng vào việc hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm đối tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đầu tư và thương mại hóa sản phẩm. Đặc biệt, hai địa phương sẽ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý chất lượng và truy xuất nguồn gốc đối với các nhóm hàng chiến lược như dệt may, dược liệu, thực phẩm và nông sản.

Bên cạnh hợp tác thương mại, hai bên sẽ tăng cường kết nối giữa mạng lưới các trung tâm đổi mới sáng tạo, vườn ươm, trường đại học và viện nghiên cứu. Thông qua đó, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp công nghệ, startup tham gia vào các chương trình ươm tạo, tăng tốc, triển lãm và diễn đàn xúc tiến đầu tư tại cả hai địa phương.

Kết thúc buổi làm việc, hai bên thống nhất tiếp tục duy trì đầu mối liên lạc, tăng cường trao đổi thông tin và nghiên cứu các nội dung hợp tác phù hợp trên cơ sở thế mạnh, nhu cầu phát triển của mỗi địa phương, góp phần thúc đẩy hợp tác về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển doanh nghiệp trong thời gian tới.

2.jpg

Đại diện Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM và thành phố Phổ Ninh trao quà lưu niệm tại buổi làm việc.

1.png

Đại biểu hai bên chụp ảnh lưu niệm sau buổi làm việc.

Nguyễn Tuyết

Kế hoạch 336/KH-UBND đề ra 3 nhiệm vụ trọng tâm gồm: phát triển hạ tầng kỹ thuật ngầm và quản lý cột treo cáp viễn thông, phát triển hạ tầng trạm thu phát sóng thông tin di động và phát triển điểm cung cấp dịch vụ viễn thông công cộng.

UBND Thành phố Hồ Chí Minh vừa ban hành Kế hoạch số 336/KH-UBND về phát triển hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2035 nhằm xây dựng hạ tầng viễn thông hiện đại, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển hạ tầng số, kinh tế số, xã hội số và bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Theo Kế hoạch, Thành phố đặt mục tiêu bảo đảm 100% phủ sóng 5G tại các khu vực trung tâm phục vụ hành chính và các khu vực trọng điểm, bảo đảm chất lượng băng thông trên 100 Mbps, không có vùng lõm sóng 5G, bảo đảm 100% mạng cáp truyền dẫn phục vụ cơ quan, tổ chức và hộ gia đình có khả năng truy cập tốc độ trên 1 Gbps.

Thành phố cũng đẩy mạnh quản lý, khai thác hiệu quả hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động, tăng cường chia sẻ, sử dụng chung hạ tầng giữa các ngành, lĩnh vực và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, vận hành.

kehoach336.jpg

Ảnh minh họa.

Để thực hiện các mục tiêu trên, Kế hoạch đề ra 03 nhóm nhiệm vụ trọng tâm. Nhiệm vụ thứ nhất, phát triển hạ tầng kỹ thuật ngầm và quản lý cột treo cáp viễn thông, tập trung ngầm hóa cáp viễn thông gắn với ngầm hóa lưới điện, giảm dần hệ thống cột treo cáp tại khu vực trung tâm và trung tâm hành chính các xã, phường, đặc khu; đồng thời tiếp tục mở rộng, kết nối các tuyến đã triển khai; tổng khối lượng khoảng 700 tuyến (tương đương 2.000 km).

Nhiệm vụ thứ hai là phát triển hạ tầng trạm thu phát sóng thông tin di động (cột ăng ten). Thành phố sẽ tập trung nâng cao chất lượng mạng thông tin di động để đáp ứng nhu cầu phát triển các dịch vụ mới trên nền tảng 4G, 5G và các thế hệ tiếp theo, thúc đẩy việc chia sẻ, sử dụng chung hạ tầng giữa các doanh nghiệp viễn thông nhằm giảm số lượng trạm độc lập.

Nhiệm vụ thứ ba là phát triển điểm cung cấp dịch vụ viễn thông công cộng. Thành phố sẽ hoàn thiện mạng lưới các điểm cung cấp dịch vụ viễn thông công cộng, xây dựng các trạm thông tin đa năng theo nguyên tắc chia sẻ, sử dụng chung hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ giữa các ngành, lĩnh vực.

Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh là cơ quan chủ trì tổ chức triển khai Kế hoạch; phối hợp với các sở, ngành, địa phương, doanh nghiệp và các đơn vị liên quan triển khai các nhiệm vụ theo lộ trình. Đồng thời, Sở là đầu mối tổng hợp thông tin, dữ liệu về hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động; theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện, báo cáo UBND Thành phố và đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai. Việc triển khai Kế hoạch 336/KH-UBND góp phần xây dựng hạ tầng viễn thông hiện đại, đồng bộ, tạo nền tảng phát triển hạ tầng số, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số và xây dựng đô thị thông minh trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Hoàng Kim

Phương pháp mới giúp giảm đau sau mổ, cải thiện thẩm mỹ và rút ngắn thời gian phục hồi ở bệnh nhân, quy trình kỹ thuật được chuẩn hóa phù hợp điều kiện trang thiết bị và nhân lực của hệ thống y tế trong nước.

Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh vừa tổ chức Hội đồng tư vấn đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không sử dụng ngân sách nhà nước “So sánh độ an toàn và hiệu quả của phẫu thuật nội soi một lỗ và nhiều lỗ trong điều trị thai ngoài tử cung tại Bệnh viện Hùng Vương”. Việc đánh giá được thực hiện trên cơ sở đề nghị của tổ chức chủ trì là Bệnh viện Hùng Vương.

DSC07254.jpg

Thai ngoài tử cung là cấp cứu sản phụ khoa thường gặp nhất trong ba tháng đầu thai kỳ, chiếm khoảng 1–2% các trường hợp có thai và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong mẹ trong giai đoạn này. Mục tiêu của nhiệm vụ nhằm đánh giá và so sánh tính an toàn cũng như hiệu quả giữa phẫu thuật nội soi một cổng (single-port laparoscopy – SPL) và phẫu thuật nội soi nhiều cổng (multi-port laparoscopy – MPL) trong điều trị thai ngoài tử cung tại Bệnh viện Hùng Vương.

Báo cáo tại buổi đánh giá, BSCKII. Huỳnh Xuân Nghiêm cho biết phẫu thuật nội soi cắt vòi tử cung là kỹ thuật chuẩn. Nhóm nghiên cứu thực hiện đổi mới nằm ở cách tiếp cận, là sử dụng một đường rạch duy nhất qua rốn thay vì 4 trocar (trocar là dụng cụ sử dụng trong phẫu thuật nội soi). Kỹ thuật SPL là bước tiến tiếp theo của phẫu thuật xâm lấn tối thiểu, hứa hẹn mang lại lợi ích về giảm đau sau mổ, cải thiện thẩm mỹ và rút ngắn thời gian phục hồi ở bệnh nhân.

Nhiệm vụ được thực hiện dưới hình thức nghiên cứu lâm sàng can thiệp – thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng (Randomized Controlled Trial – RCT) trên người bệnh, kết hợp với nghiên cứu hồi cứu y văn để xây dựng cơ sở khoa học và quy trình kỹ thuật chuẩn (SOP). Quy trình kỹ thuật được chuẩn hóa phù hợp điều kiện trang thiết bị và nhân lực của hệ thống y tế trong nước, chi phí triển khai thấp do tận dụng năng lực phẫu thuật nội soi sẵn có, chủ động về đào tạo, chuyển giao và cập nhật mà không phụ thuộc nguồn lực bên ngoài.

Đại diện nhóm nghiên cứu cho biết kết quả của nhiệm vụ là cơ sở để cập nhật và hoàn thiện phác đồ điều trị thai ngoài tử cung của Bệnh viện Hùng Vương và mạng lưới chỉ đạo tuyến chuyên ngành sản phụ khoa khu vực phía Nam, góp phần chuẩn hóa thực hành lâm sàng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Nhóm nghiên cứu cam kết tiếp tục đồng hành trong việc chuẩn hóa, đào tạo, chuyển giao kỹ thuật và hỗ trợ chuyên môn cho các đơn vị tiếp nhận, đồng thời sẵn sàng chia sẻ quy trình kỹ thuật, dữ liệu và kinh nghiệm triển khai nhằm bảo đảm áp dụng kỹ thuật SPL an toàn, hiệu quả trong hệ thống y tế.

Hoàng Kim

Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh vừa tổ chức Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ nghiên cứu về đánh giá rủi ro sự cố môi trường liên quan đến hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các khu chế xuất, khu công nghiệp. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung cơ sở khoa học và đề xuất các giải pháp giúp chủ động phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường trong thực tiễn.

Theo nhóm nghiên cứu, TP. Hồ Chí Minh hiện có 17 khu chế xuất (KCX) và khu công nghiệp (KCN) đang hoạt động với 19 hệ thống xử lý nước thải tập trung (XLNTTT), tổng công suất thiết kế khoảng 100.000 m³/ngày đêm. Mặc dù các hệ thống đều vận hành ổn định và đáp ứng quy chuẩn xả thải hiện hành, nguy cơ xảy ra sự cố môi trường vẫn hiện hữu do thiết bị vận hành liên tục, có thể bị "lão hóa", phát sinh lỗi hệ thống quan trắc hoặc tình trạng "sốc tải"…

06KQNCLVntdtungphomoitruongh6.JPG

PGS.TS. Vũ Văn Nghị, đại diện nhóm nghiên cứu trình bày các kết quả thực hiện nhiệm vụ

Nhiệm vụ "Nghiên cứu, đánh giá mức độ, quy mô, phạm vi tác động của các sự cố môi trường liên quan đến hệ thống xử lý nước thải tập trung của các khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh đến nguồn tiếp nhận và đề xuất các giải pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố và phục hồi môi trường có hiệu quả" do Viện Khoa học và Đổi mới Công nghệ chủ trì thực hiện, PGS.TS. Vũ Văn Nghị làm chủ nhiệm.

Mục tiêu của nhiệm vụ là nhận diện và lượng hóa rủi ro sự cố môi trường, đánh giá mức độ tác động đến nguồn tiếp nhận và đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp với điều kiện thực tế của TP. Hồ Chí Minh. Nhóm đã tiến hành các nội dung nghiên cứu tổng quan về sự cố môi trường từ hệ thống XLNTTT của KCX, KCN; khảo sát và đánh giá hiện trạng, nhận diện những rủi ro khi xảy ra sự cố đối với hệ thống XLNTTT; mô phỏng các kịch bản sự cố; đồng thời đề xuất giải pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố và phục hồi môi trường, xây dựng mô hình thí điểm nhằm kiểm chứng khả năng áp dụng trong thực tế.

06KQNCLVntdtungphomoitruongh9.jpg

Hình ảnh triển khai nội dung nghiên cứu: khảo sát thực địa hệ thống XLNTTT 

Đại diện nhóm nghiên cứu cho biết, một trong những kết quả nổi bật của nhiệm vụ là xây dựng thành công bộ tiêu chí đánh giá chỉ số sự cố môi trường (EII) gồm ba nhóm tiêu chí: hiểm họa, phơi nhiễm và tính dễ bị tổn thương. Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đã phân hạng mức độ rủi ro đối với 19 hệ thống XLNTTT, gồm 5 hệ thống có mức rủi ro thấp, 7 hệ thống rủi ro trung bình và 7 hệ thống rủi ro cao. Kết quả này tạo cơ sở để cơ quan quản lý và đơn vị vận hành chủ động xây dựng kế hoạch giám sát, kiểm tra và lựa chọn giải pháp phòng ngừa phù hợp với từng hệ thống.

Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu áp dụng mô hình MIKE 11 để mô phỏng các kịch bản lan truyền chất ô nhiễm khi xảy ra sự cố môi trường. Kết quả cho thấy nồng độ các chất ô nhiễm tăng mạnh trong khoảng 12 giờ đầu và phạm vi ảnh hưởng trong một số kịch bản có thể lan xa tới 12,3 km, qua đó cung cấp cơ sở khoa học phục vụ xây dựng phương án ứng phó khẩn cấp. Kết quả nghiên cứu cũng góp phần định hướng chuyển từ phương thức xử lý sự cố mang tính bị động sang chủ động nhận diện nguy cơ và phòng ngừa từ sớm.

Trên cơ sở kết quả đánh giá rủi ro, nhiệm vụ đề xuất hệ thống giải pháp gồm 17 giải pháp phi công trình và 12 giải pháp công trình phù hợp với điều kiện vận hành thực tế tại các trạm XLNTTT. Các giải pháp này tập trung hoàn thiện quy trình quản lý, tăng cường giám sát và ứng dụng công nghệ thông minh trong theo dõi vận hành; bổ sung các hạng mục kỹ thuật như bể điều hòa, hồ sự cố và các công trình dự phòng nhằm giảm thiểu rủi ro khi xảy ra sự cố.

06KQNCLVntdtungphomoitruongh3.JPG

Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ được Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh tổ chức ngày 09/7/2026 

Đáng chú ý, nhóm nghiên cứu đã xây dựng hai mô hình thí điểm tại Khu chế xuất Linh Trung I và Khu công nghiệp Lê Minh Xuân, đại diện cho hai hướng tiếp cận phi công trình và công trình. Với mô hình phi công trình, nhóm nghiên cứu đề xuất quy trình vận hành tận dụng tối đa dung tích các bể hiện hữu để lưu giữ nước thải trong thời gian xảy ra sự cố mà không phải đầu tư xây dựng mới. Trong khi đó, mô hình công trình đề xuất bổ sung hồ sự cố chuyên dụng kết hợp hệ thống giám sát và điều khiển tự động nhằm nâng cao khả năng kiểm soát, lưu giữ và tái xử lý nước thải. Hai mô hình đều hướng tới nguyên tắc không xả thải trong thời gian xảy ra sự cố, tăng khả năng phục hồi hệ thống, đồng thời tạo cơ sở để nghiên cứu nhân rộng tại các KCX, KCN có điều kiện tương đồng.

06KQNCLVntdtungphomoitruongh1.JPG

Thành viên hội đồng nhận xét, đánh giá kết quả nghiên cứu 

06KQNCLVntdtungphomoitruongh2.JPG

Hội đồng nghiệm thu đánh giá nhiệm vụ được triển khai công phu, bám sát yêu cầu thực tiễn của TP. Hồ Chí Minh, đặc biệt là việc xây dựng được cơ sở dữ liệu phục vụ đánh giá rủi ro và lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các sự cố môi trường liên quan đến nước thải công nghiệp. Khung kế hoạch phòng ngừa, ứng phó và phục hồi môi trường được đề xuất theo quy định hiện hành, đáp ứng yêu cầu triển khai tại các KCX, KCN. Kết quả nghiên cứu được nhận định có giá trị khoa học và thực tiễn, góp phần bổ sung công cụ hỗ trợ cơ quan quản lý và đơn vị vận hành chủ động nhận diện nguy cơ, xác định các biện pháp kiểm soát rủi ro và xây dựng phương án phòng ngừa, ứng phó phù hợp.

Lam Vân

Bộ công cụ đánh giá tăng trưởng xanh hỗ trợ theo dõi ở cấp vi mô theo ngành/lĩnh vực và ở cấp vĩ mô theo không gian quản trị đô thị, có thể tích hợp vào quy trình quản trị công và hỗ trợ ra quyết định chính sách ở cấp địa phương.

Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh vừa tổ chức Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ “Nghiên cứu xây dựng bộ công cụ đánh giá tăng trưởng xanh cho các ngành/lĩnh vực Thành phố Hồ Chí Minh”. Đây là nhiệm vụ do Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế tuần hoàn (ĐHQG Thành phố Hồ Chí Minh) chủ trì thực hiện, PGS.TS. Nguyễn Hồng Quân làm chủ nhiệm.

Mục tiêu của nhiệm vụ là xây dựng bộ công cụ đánh giá tăng trưởng xanh cho các ngành, lĩnh vực của Thành phố Hồ Chí Minh nhằm phục vụ đo lường, theo dõi, báo cáo, hỗ trợ điều hành và đề xuất lộ trình chuyển đổi xanh phù hợp với bối cảnh phát triển của Thành phố.

NTNVTTX.jpg

Báo cáo tại buổi nghiệm thu, đại diện nhóm thực hiện cho biết bộ công cụ đánh giá tăng trưởng xanh đã được phát triển hoàn thiện. Kết quả thử nghiệm ban đầu với khối lượng dữ liệu lớn, bao gồm dữ liệu nhiều năm và nhiều nhóm chỉ tiêu thuộc các lĩnh vực khác nhau, cho thấy bộ công cụ vận hành ổn định, đáp ứng yêu cầu lưu trữ, xử lý và tổng hợp dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước.

Về mặt dữ liệu, bộ công cụ đánh giá tăng trưởng xanh đã giải quyết hiệu quả những thách thức đặc thù vốn có như tính đa ngành, đa chỉ tiêu và không đồng nhất về định dạng, đơn vị đo lường và phương pháp thu thập. Thông qua các quy trình thu thập, kiểm tra, làm sạch và chuẩn hóa dữ liệu, nhóm thực hiện đã xây dựng được cơ sở dữ liệu có cấu trúc chặt chẽ, đồng nhất và có độ tin cậy cao. Cơ sở dữ liệu này cho phép theo dõi diễn biến các chỉ tiêu theo thời gian, so sánh giữa các lĩnh vực và hỗ trợ phân tích chuyên sâu phục vụ hoạch định chính sách.

Bên cạnh đó, bộ công cụ còn hỗ trợ xuất ra các báo cáo tổng hợp, biểu đồ xu hướng và cơ chế cảnh báo giúp lãnh đạo các cấp nhanh chóng nắm bắt tình hình thực hiện chỉ tiêu, nhận diện những lĩnh vực còn hạn chế và kịp thời điều chỉnh chính sách, góp phần nâng cao tính minh bạch, tính khoa học và hiệu quả trong quản lý tăng trưởng xanh của Thành phố Hồ Chí Minh.

Hoàng Kim

Ngày 9/7/2026, Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh tiếp và làm việc với Đoàn công tác tỉnh Aichi (Nhật Bản) trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc nhân kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Aichi (2016-2026).

Tại buổi làm việc, ông Hideaki Ohmura - Thống đốc tỉnh Aichi cho biết tỉnh Aichi là một trong những trung tâm công nghiệp hàng đầu Nhật Bản và là nơi đặt trụ sở của nhiều tập đoàn lớn, tiêu biểu như Toyota. Mối quan hệ giữa hai địa phương thường được duy trì thường xuyên thông qua nhiều hoạt động, trong đó Lễ hội Việt Nam - Thành phố Hồ Chí Minh tại Aichi đã trở thành hoạt động thường niên tiêu biểu, góp phần tăng cường hiểu biết và giao lưu kết nối doanh nghiệp giữa hai bên.

Ông Hideaki Ohmura phát biểu tại buổi làm việc

Phát biểu tại buổi làm việc, ông Lê Văn Thăng - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh đã gửi lời chúc mừng cho mối quan hệ hợp tác hữu nghị 10 năm giữa hai bên và cho biết, tỉnh Aichi là nơi tập trung ngành kinh tế mũi nhọn mà Thành phố đã và đang tập trung phát triển như robotics, công nghệ cao, công nghệ vũ trụ,... Với lợi thế bổ sung sẵn có của hai bên, ông hi vọng sau phần giới thiệu về Khu đô thị Khoa học - Công nghệ Bắc Thành phố Hồ Chí Minh sẽ mở ra một chương mới trong quan hệ hợp tác quốc tế, đặc biệt là trong việc thu hút các doanh nghiệp từ tỉnh Aichi tham gia vào hệ sinh thái khoa học công nghệ của Thành phố, góp phần hiện thực hóa Khu đô thị Khoa học - Công nghệ Bắc Thành phố trở thành điểm đến tiềm năng của các doanh nghiệp quốc tế trong thời gian tới.

Ông Lê Văn Thăng phát biểu tại buổi làm việc

Cũng tại buổi làm việc, đại diện phía tập đoàn Becamex đã trình bày tổng quan về Khu đô thị Khoa học - Công nghệ Bắc Thành phố Hồ Chí Minh cũng như những định hướng phát triển khu vực này trong tương lai. Theo đó, mô hình này tạo ra không gian và cơ hội để các ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp cùng cộng hưởng nguồn lực, thúc đẩy chuyển dịch mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, lấy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực trung tâm cho phát triển trong giai đoạn mới.

Thành công của buổi làm việc không chỉ là dấu mốc thắt chặt mối quan hệ hữu nghị trong 10 năm qua mà còn là một trong những tiền đề quan trọng để Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định tầm vóc chiến lược của các dự án trọng điểm, đồng thời thể hiện quyết tâm của Thành phố trong việc thu hút các nguồn lực công nghệ cao và kinh nghiệm từ các tập đoàn lớn tại Nhật Bản, đặc biệt đến từ Aichi.

*Một số hình ảnh tại buổi làm việc

 

 

 

Sáng ngày 10/7, Ban Đô thị Hội đồng nhân dân (HĐND) TP.HCM đã làm việc với Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM cùng Ban Quản lý Khu Công nghệ cao nhằm khảo sát, trao đổi để hoàn thiện các nội dung phục vụ xây dựng các dự thảo nghị quyết trình Hội đồng nhân dân Thành phố để cụ thể hóa và chuẩn bị triển khai Luật Phát triển đô thị sau khi được Quốc hội thông qua.

Quang cảnh buổi làm việc.

Buổi làm việc có sự tham dự của ông Nguyễn Văn Dũng, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố; ông Hoàng Tùng, Trưởng Ban Đô thị HĐND Thành phố, ông Lê Văn Thăng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM, cùng đại diện các sở, ban, ngành liên quan.

Ông Hoàng Tùng, Trưởng Ban Đô thị HĐND phát biểu tại buổi làm việc.

Phát biểu tại buổi làm việc, ông Hoàng Tùng, Trưởng Ban Đô thị HĐND Thành phố nhấn mạnh, khối lượng công việc chuẩn bị triển khai Luật Phát triển đô thị rất lớn, trong khi thời gian thực hiện không nhiều. Do đó, ông đề nghị Sở Khoa học và Công nghệ cùng các đơn vị liên quan tập trung nghiên cứu, rà soát kỹ từng nội dung, bám sát tiến độ, bảo đảm các dự thảo nghị quyết được xây dựng trên cơ sở khoa học, thống nhất với hệ thống pháp luật và có tính khả thi cao trước khi trình Hội đồng nhân dân Thành phố xem xét.

Tại buổi khảo sát, Sở Khoa học và Công nghệ và Ban Quản lý Khu Công nghệ cao đã báo cáo tình hình xây dựng, đồng thời trao đổi, góp ý đối với các dự thảo nghị quyết thuộc lĩnh vực được phân công, tập trung rà soát, hoàn thiện các nội dung theo ý kiến của Ban Đô thị.

Trong số nhiều nội dung được trao đổi, lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là một trong những nội dung trọng tâm. Các đại biểu tập trung góp ý việc tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ nghiên cứu và phát triển, thu hút, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy hợp tác công - tư, đồng thời rà soát các chính sách ưu đãi về đầu tư, hạ tầng và sử dụng đất nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Bên cạnh đó, Ban Quản lý Khu Công nghệ cao cũng đề xuất tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về mô hình đô thị công nghệ cao, làm rõ các loại hình khu công nghệ cao và cơ chế đầu tư phù hợp đối với từng mô hình, góp phần tạo cơ sở xây dựng các chính sách phát triển khu công nghệ cao theo định hướng đô thị khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Thành phố.

Trên cơ sở các báo cáo và ý kiến trao đổi, các đại biểu tiếp tục rà soát phạm vi điều chỉnh, cơ sở pháp lý và tính thống nhất của các dự thảo nghị quyết; đồng thời nghiên cứu khả năng kế thừa các quy định đã được áp dụng tại Hà Nội và các cơ chế đặc thù của TP.HCM nhằm bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật và phù hợp với yêu cầu phát triển của đô thị đặc biệt.

Ông Nguyễn Văn Dũng, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố phát biểu tại buổi làm việc.

Phát biểu kết luận, ông Nguyễn Văn Dũng, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố ghi nhận sự chủ động của Sở Khoa học và Công nghệ cùng các đơn vị trong quá trình chuẩn bị các dự thảo nghị quyết. Đồng thời, Phó Chủ tịch HĐND cũng đề nghị các cơ quan tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Ban Đô thị, Sở Tư pháp và các sở, ngành liên quan để rà soát, hoàn thiện các dự thảo nghị quyết, bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ với quy hoạch phát triển đô thị. Ông kỳ vọng các nghị quyết sau khi được ban hành sẽ tạo nền tảng pháp lý quan trọng, góp phần triển khai hiệu quả Luật Phát triển đô thị trên địa bàn Thành phố.

Nguyễn Tuyết

Clip hoạt động


Bản quyền © 2018 Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Thiết kế và phát triển bởi HCMGIS
Tổng số truy cập: 11537424