SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
UBND TP.HCM vừa ban hành Đề án thí điểm chính sách tạo động lực thương mại hóa, đưa nhanh kết quả nghiên cứu và tài sản trí tuệ hình thành từ ngân sách nhà nước vào sản xuất, kinh doanh giai đoạn 2026-2028. Đề án được xem là bước đi nhằm tháo gỡ tình trạng nhiều kết quả nghiên cứu đã nghiệm thu nhưng chưa thể chuyển hóa thành sản phẩm, hàng hóa cụ thể trên thị trường.

Hoạt động nghiên cứu, hoàn thiện và đưa kết quả KH&CN từ ngân sách nhà nước vào sản xuất, kinh doanh. Ảnh: internet.

Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là động lực tăng trưởng mới của Thành phố, việc tháo gỡ “nút thắt” thương mại hóa không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước, mà còn tạo thêm động lực cho doanh nghiệp và nhà khoa học tham gia sâu hơn vào hoạt động nghiên cứu phát triển.

Nhiều kết quả nghiên cứu đạt yêu cầu nhưng chưa tạo ra giá trị kinh tế

Theo số liệu của Trung tâm Thông tin, Thống kê và Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ TP.HCM (Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM), giai đoạn 2014-2018, TP.HCM có 1.587 nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) sử dụng ngân sách nhà nước được nghiệm thu, song chỉ 201 nhiệm vụ (13%) được thương mại hóa. Trong đó, 591 nhiệm vụ (37%) đã sẵn sàng chuyển giao nhưng chưa được đưa vào sản xuất, kinh doanh; tỷ lệ thương mại hóa thực tế hiện chỉ khoảng 5%, thấp hơn mục tiêu 8-10%.

Hội thảo khoa học về triển khai các giải pháp thương mại hóa kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ từ ngân sách nhà nước, tổ chức tháng 10/2024. Ảnh: Lam Vân

Theo Đề án, điểm nghẽn chủ yếu nằm ở khâu sau nghiệm thu là vướng thủ tục quản lý tài sản công, thiếu cơ chế tài chính linh hoạt để hoàn thiện sản phẩm, tâm lý e ngại rủi ro trách nhiệm, cùng với sự thiếu hụt các tổ chức trung gian đủ năng lực (định giá tài sản trí tuệ, tư vấn pháp lý, kết nối doanh nghiệp), khiến nhiều kết quả nghiên cứu dù đã sẵn sàng vẫn “kẹt” ở ngưỡng chuyển giao.

Đề án tập trung giải quyết 03 vấn đề chính: (1) Cơ chế giao quyền cho tổ chức, cá nhân không là tổ chức chủ trì đối với tài sản hình thành từ việc triển khai nhiệm vụ sử dụng ngân sách Nhà nước; (2) Chính sách ưu đãi, hỗ trợ về các hoạt động trung gian để phát triển sản phẩm ra thị trường; (3) Cơ chế kiểm soát, đánh giá hiệu quả hoạt động thương mại hóa. Các cơ chế này nhằm tạo điều kiện để kết quả nghiên cứu nhanh chóng được thương mại hóa, thúc đẩy giá trị kinh tế - xã hội Thành phố.

TP.HCM đặt mục tiêu đưa tối thiểu 10 sản phẩm KH&CN ra thị trường

Đề án thí điểm trong giai đoạn 2026-2028 theo mô hình “sandbox chính sách”, tập trung tháo gỡ trực diện các điểm nghẽn trong thương mại hóa nghiên cứu, hướng tới đưa tối thiểu 10 sản phẩm KH&CN ra thị trường theo tiêu chuẩn Made in Vietnam, nâng tỷ lệ tài sản trí tuệ hình thành từ ngân sách nhà nước được khai thác thương mại lên 8-10%, tạo nền tảng cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo bền vững của TP.HCM.

Điểm mới của Đề án là cơ chế giao quyền khai thác, ứng dụng và thương mại hóa linh hoạt hơn, cho phép chuyển giao kết quả nghiên cứu cho tổ chức, cá nhân có năng lực và nhu cầu ứng dụng trong trường hợp đơn vị chủ trì không triển khai, qua đó rút ngắn thời gian đưa sản phẩm vào sản xuất, kinh doanh.

Hoạt động giới thiệu, kết nối các sản phẩm KH&CN sẵn sàng đưa vào sản xuất, kinh doanh. Ảnh: Hoàng Kim

Đề án cho phép hỗ trợ một phần kinh phí từ ngân sách nhà nước để hoàn thiện sản phẩm, sản xuất thử nghiệm và đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ; phần kinh phí đối ứng không tính lại giá trị ngân sách đã đầu tư cho nhiệm vụ trước, giúp giảm áp lực tài chính cho doanh nghiệp tham gia đồng hành.

Đáng chú ý, cơ chế chấp nhận rủi ro có kiểm soát được xác định là điểm nhấn, tạo không gian thử nghiệm cho thương mại hóa nghiên cứu, chuyển cách tiếp cận từ “né rủi ro” sang quản lý rủi ro bằng cơ chế minh bạch, thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Sở KH&CN TP.HCM được UBND TP.HCM giao chủ trì, phối hợp các sở, ngành rà soát kết quả nghiên cứu đã nghiệm thu, đánh giá mức độ sẵn sàng công nghệ và kết nối các chủ thể trong hệ sinh thái. Giai đoạn thí điểm 2026-2028 là cơ sở để Thành phố hoàn thiện cơ chế, xem xét nhân rộng, qua đó khẳng định cam kết chuyển từ đầu tư cho nghiên cứu sang đầu tư cho giá trị tạo ra từ nghiên cứu.

Nguyễn Tuyết

Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM vừa tổ chức Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ (KH&CN) "Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) của các doanh nghiệp sản xuất bao bì nhựa tại Thành phố Hồ Chí Minh".

Nhiệm vụ do ThS. Trịnh Thị Minh Châu làm chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM là cơ quan chủ trì, được thực hiện với mục tiêu đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp giúp nâng cao hiệu quả thực hiện EPR cho các doanh nghiệp sản xuất bao bì nhựa tại TP.HCM, góp phần giảm phát thải nhựa trên địa bàn Thành phố trong tương lai.

07KQNCLVntdtEPRh6ok.jpg

Đại diện nhóm nghiên cứu trình bày báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ   

Theo nhóm nghiên cứu, cơ sở pháp lý cho EPR được đề cập tại Luật Bảo vệ Môi trường (BVMT) năm 2020, với cách tiếp cận hoàn toàn mới - dưới góc độ là một công cụ kinh tế. Cụ thể, Luật BVMT năm 2020 quy định hai nội dung về EPR: trách nhiệm tái chế của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu (Điều 54); trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu (Điều 55). Các nội dung về đối tượng, lộ trình, cách thức triển khai EPR tại Việt Nam được hướng dẫn cụ thể trong Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/1/2022 của Chính phủ; theo đó, đối với bao bì nhựa, lộ trình thực hiện EPR bắt đầu từ ngày 01/1/2024.

Tại TP.HCM, trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, thách thức từ rác thải nhựa vẫn rất lớn với khối lượng thải ra khoảng 1.800 tấn mỗi ngày, nhưng tỷ lệ tái chế chỉ đạt khoảng 27%. Thực tế triển khai EPR tại địa phương còn đối mặt với nhiều rào cản từ nhận thức doanh nghiệp, chi phí đầu tư đến hạ tầng tái chế.

Trong nhiệm vụ này, nhóm nghiên cứu đã triển khai 5 nội dung chính, bao gồm: nghiên cứu tổng quan cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế; phân tích cơ sở pháp lý về EPR tại Việt Nam; đánh giá thực trạng thực hiện EPR tại các doanh nghiệp bao bì nhựa TP.HCM; xác định các "điểm nghẽn" rào cản; đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi.

Theo đó, nhóm đã tiến hành khảo sát 86 doanh nghiệp để đánh giá thực trạng triển khai EPR và hiệu quả thực hiện chính sách EPR đối với bao bì nhựa tại TPHCM. Kết quả khảo sát cho thấy, 61,6% doanh nghiệp đã hiểu khái niệm cơ bản về EPR, 38,4% đối tượng khảo sát cho biết đã được học tập và đào tạo về EPR. Các doanh nghiệp lớn đã bắt đầu thực hiện các chương trình tái chế, nhưng khối doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn gặp khó khăn do thiếu nguồn lực và hướng dẫn cụ thể. Ngoài ra, 66,3% doanh nghiệp được khảo sát đánh giá EPR đóng vai trò rất quan trọng và quan trọng đối với môi trường và nền kinh tế; 65,1% doanh nghiệp rất quan tâm và quan tâm đối với nhu cầu đào tạo về EPR. Hình thức đào đạo được các doanh nghiệp quan tâm là tư vấn chuyên nghiệp tại doanh nghiệp, tham gia các buổi hội thảo/tọa đàm; nội dung đào tạo liên quan đến EPR gồm: tính toán chi phí, thiết lập, quản lý hệ thống thu gom sản phẩm đã qua sử dụng, các chính sách hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp thực hiện EPR, giải pháp công nghệ và đổi mới trong lĩnh vực tái chế…

Nhóm cũng xây dựng và hiệu chỉnh bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện EPR dựa trên các khía cạnh: tỷ lệ thu hồi bao bì sau sử dụng; tỷ lệ tái chế chất thải bao bì; mức giảm phát thải CO2 sau khi thực hiện EPR; chi phí sản xuất và chi phí thực hiện EPR của doanh nghiệp. Đồng thời phân tích đánh giá các điểm nghẽn và chỉ ra những hạn chế cốt lõi của chính sách EPR khi triển khai áp dụng đối với bao bì nhựa, bao gồm hạn chế về thể chế - tổ chức; hạn chế về kinh tế, tài chính, cơ sở hạ tầng, sự phối hợp và tham gia của các bên liên quan.

Theo đó, chính sách đã thành công trong việc nâng cao nhận thức và thay đổi tư duy quản trị trong nội bộ doanh nghiệp, buộc họ phải xem xét lại quy trình và thiết kế sản phẩm theo hướng bền vững hơn để giảm thiểu chất thải và tăng cường thu hồi. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế của việc thực hiện EPR còn hạn chế do gặp phải hàng loạt rào cản, tập trung vào 4 nhóm vấn đề chính: việc áp dụng các yêu cầu tối thiểu của EPR (tỷ lệ thu hồi, tái chế, đăng ký, báo cáo) đã tạo ra tác động rõ rệt, chủ yếu là gia tăng áp lực tài chính và quản lý; hạ tầng thu gom và tái chế chưa đồng bộ, chưa được đầu tư bài bản, công nghệ tái chế chưa hiện đại, thiếu hụt các điểm thu gom; khung pháp lý về EPR còn nhiều hạn chế, thiếu tính đồng bộ, thiếu các hướng dẫn kỹ thuật chi tiết; tồn tại sự không đồng đều trong phân chia trách nhiệm thực hiện EPR giữa nhà sản xuất và các bên liên quan… 

Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện EPR cho các doanh nghiệp sản xuất bao bì nhựa phù hợp với điều kiện TP.HCM, cụ thể như hoàn thiện khung pháp lý, xây dựng cơ chế quản lý, giám sát, vận hành EPR tại TP.HCM; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu EPR liên thông, cơ chế chính sách điều chỉnh mức phí đóng góp vào Quỹ BVMT Việt Nam theo mức độ thân thiện với môi trường của bao bì nhựa...

Về kinh tế - tài chính, minh bạch nguồn thu chi từ Quỹ BVMT Việt Nam cho hoạt động tái chế tại địa phương, có các chính sách hỗ trợ riêng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Về cơ sở hạ tầng, phát triển hệ thống hạ tầng thu gom, phân loại tại nguồn và hợp thức hóa vai trò của khu vực phi chính thức thông qua việc ký kết hợp đồng với các hợp tác xã, tổ nhóm thu gom. Bên cạnh đó, đẩy mạnh tuyên truyền thay đổi thói quen phân loại rác của người tiêu dùng và khuyến khích sử dụng sản phẩm bao bì tái chế; áp dụng mô hình đồng điều tiết trong thực hiện EPR; thúc đẩy trách nhiệm của các bên liên quan như Nhà nước, doanh nghiệp, doanh nghiệp tái chế và dịch vụ môi trường, người tiêu dùng…

07KQNCLVntdtEPRh1.jpg

Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ tại Sở KH&CN TP.HCM ngày 23/1/2026

Kết quả nghiên cứu được đánh giá có ý nghĩa đóng góp vào hệ thống lý luận về EPR, cung cấp bộ chỉ số đánh giá thực tiễn cho cơ quan quản lý. Các giải pháp đề xuất có thể trực tiếp hỗ trợ trong việc vận hành, giám sát lộ trình EPR. Việc triển khai hiệu quả EPR sẽ góp phần giảm áp lực cho ngân sách Thành phố trong công tác thu gom, xử lý chất thải, hình thành thị trường tái chế minh bạch, gắn với bảo vệ môi trường, bảo vệ sinh kế cho những người lao động thu gom tự do, hướng tới mục tiêu xây dựng TP.HCM trở thành đô thị xanh và phát triển bền vững.

Lam Vân (CISAST)

Nghiên cứu đã xây dựng bộ chỉ số và đánh giá năng lực chống chịu của cộng đồng TP.HCM trước rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu, làm rõ sự khác biệt giữa các khu vực.

 

Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM vừa tổ chức Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công  nghệ “Nghiên cứu giải pháp nâng cao năng lực chống chịu cho cộng đồng người dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với việc ứng phó với các rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu” do Viện Nghiên cứu Phát triển TP.HCM chủ trì thực hiện, ThS. Trần Nhật Nguyên làm chủ nhiệm.

Nhiệm vụ được triển khai trong bối cảnh TP.HCM ngày càng chịu tác động rõ nét của các hiện tượng thời tiết cực đoan và biến đổi khí hậu, nhất là ngập úng do mưa lớn kết hợp triều cường, đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc đánh giá đúng mức độ rủi ro, khả năng chống chịu của cộng đồng cũng như đề xuất các giải pháp thích ứng phù hợp với đặc thù đô thị lớn.

Báo cáo tại hội đồng, ThS. Trần Nhật Nguyên cho biết, một trong những kết quả nổi bật của nhiệm vụ là việc triển khai khảo sát định lượng với quy mô lớn, tổng cộng 1.928 mẫu khảo sát, bao gồm hộ gia đình, hộ/cơ sở sản xuất - kinh doanh và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Song song đó, nhóm nghiên cứu đã thực hiện 03 nghiên cứu điển hình tại các địa bàn có đặc trưng thiên tai khác nhau, gồm xã Tam Thôn Hiệp (huyện Cần Giờ cũ – khu vực ngoại thành, ven biển), phường 28 (quận Bình Thạnh cũ – khu vực nội thành hiện hữu) và phường Linh Tây (TP. Thủ Đức cũ – khu vực đô thị phát triển).

ThS. Trần Nhật Nguyên - Chủ nhiệm nhiệm vụ báo cáo tại hội đồng nghiệm thu

Kết quả khảo sát cho thấy, ngập do mưa và triều cường là những rủi ro phổ biến nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sinh kế của người dân, đặc biệt tại các khu vực trũng thấp. Đáng chú ý, vẫn còn hơn 20% hộ dân và trên 50% hộ kinh doanh chưa có biện pháp ứng phó cụ thể trước rủi ro thiên tai; gần 75% hộ dân cho rằng chưa tiếp cận được sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương khi xảy ra sự cố.

Trên cơ sở tiếp cận theo khung đánh giá BRIC, nhiệm vụ đã xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực chống chịu gồm 42 chỉ thị, phản ánh toàn diện các khía cạnh về xã hội, kinh tế, hạ tầng, thể chế và năng lực cộng đồng. Bộ chỉ số được tính toán cho từng địa bàn quận, huyện (cũ), cho phép so sánh mức độ chống chịu và tính dễ bị tổn thương giữa các khu vực.

Kết quả đánh giá cho thấy sự phân hóa rõ nét giữa khu vực nội đô có chỉ số chống chịu ở mức trung bình - cao nhờ lợi thế về kinh tế, dịch vụ và hạ tầng; trong khi đó, vùng ven và ven biển có mức chống chịu thấp hơn, chịu tác động lớn từ ngập lụt, xâm nhập mặn và hạn chế về điều kiện sinh kế. Những phát hiện này cung cấp cơ sở khoa học trực quan, giúp nhận diện rõ các “điểm nóng” rủi ro trên địa bàn Thành phố.

Từ kết quả nghiên cứu, nhiệm vụ đã đề xuất 07 nhóm giải pháp trọng tâm, tập trung vào: Phát triển hạ tầng chống chịu với thiên tai và biến đổi khí hậu; hoàn thiện cơ chế, chính sách và mô hình tổ chức quản lý; tăng cường nguồn lực tài chính; ứng dụng công nghệ hiện đại trong dự báo, cảnh báo sớm; nâng cao nhận thức và vai trò của cộng đồng, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương. Các giải pháp được xây dựng theo hướng lồng ghép quản lý rủi ro thiên tai với thích ứng biến đổi khí hậu, phù hợp với mô hình chính quyền đô thị và định hướng phát triển bền vững của TP.HCM trong giai đoạn tới.

Kết luận buổi làm việc, Hội đồng đánh giá cao tính khoa học và giá trị thực tiễn của nhiệm vụ, thống nhất nghiệm thu đạt yêu cầu, đồng thời đề nghị nhóm nghiên cứu tiếp thu ý kiến góp ý của các thành viên Hội đồng để tiếp tục hoàn thiện báo cáo.

Nguyễn Tuyết

Đây là nhiệm vụ quan trọng trong việc thực hiện thúc đẩy mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới, đột phá; phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nguồn nhân lực chất lượng cao.

UBND TP.HCM vừa ban hành Quyết định số 368/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án “Ứng dụng công nghệ AI và dữ liệu lớn trong đào tạo: Phát triển các nền tảng học tập trực tuyến dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn để cá nhân hóa lộ trình học tập cho người lao động, giúp họ nhanh chóng đạt được kỹ năng phù hợp với yêu cầu cụ thể của từng ngành”.

Theo Đề án, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ tạo ra yêu cầu chuyển đổi kỹ năng số ở mọi ngành nghề, từ kỹ năng cơ bản đến các kỹ năng phức tạp hơn trong quản lý, điều hành máy móc và hệ thống thông tin. Ngoài ra, sự xuất hiện của các khu công nghệ cao tại TP.HCM đã mở ra cơ hội việc làm mới nhưng đồng thời đòi hỏi người lao động phải trang bị thêm kỹ năng chuyên môn về công nghệ, kỹ thuật số và khả năng học tập suốt đời. Đồng thời, với xu thế hội nhập quốc tế, doanh nghiệp tại Thành phố đang phải đối mặt với áp lực đáp ứng tiêu chuẩn lao động và chất lượng kỹ năng nghề nghiệp theo yêu cầu quốc tế. Điều này đòi hỏi hệ thống đào tạo phải thay đổi linh hoạt, hướng tới các tiêu chuẩn toàn cầu, tập trung vào kỹ năng ngoại ngữ và khả năng làm việc trong môi trường đa văn hóa.

Hầu hết các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã triển khai thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và ứng dụng AI, dữ liệu lớn trong công tác quản lý, đào tạo nghề. Nhiều trường đã sử dụng phần mềm quản lý đào tạo, quản lý người học, điểm danh, hồ sơ điện tử, kết nối dữ liệu với cơ quan quản lý. Bên cạnh đó, trong chiến lược chuyển đổi số gắn với AI, dựa trên các nền tảng AI phổ biến như Google AI, Microsoft Azure AI Services và IBM Watson các trường đã xây dựng và triển khai nhiều giải pháp trong quản lý, đào tạo, giảng dạy như “Trợ lý đào tạo AI” nhằm hỗ trợ học sinh, sinh viên trong việc giải đáp thắc mắc về quy chế, lịch học, đăng ký môn học và các vấn đề liên quan đến đào tạo; ứng dụng AI để xây dựng, phát triển nền tảng tuyển dụng thông minh...

Mục tiêu của Đề án là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ AI và dữ liệu lớn trong đào tạo nhằm phát triển các nền tảng học tập trực tuyến dựa trên AI và dữ liệu lớn để cá nhân hóa lộ trình học tập cho người lao động, giúp họ nhanh chóng đạt được kỹ năng phù hợp với yêu cầu cụ thể của từng ngành nghề đào tạo; tập trung vào các ngành trọng điểm đáp ứng đào tạo nhân lực trình độ cao, theo hướng hiện đại hóa và hội nhập quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố.

taphuanAI.jpg

(Ảnh minh họa) Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM tổ chức lớp tập huấn ứng dụng AI hỗ trợ ra quyết định hiệu quả cho cấp quản lý - tháng 11/2025.

Cụ thể, Đề án đặt ra những mục tiêu đến năm 2030 rất cụ thể như trang bị các phòng lab AI tại tối thiểu 10% các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên thực hành xây dựng và huấn luyện mô hình AI, xây dựng các AI Agent, nắm vững các nguyên lý của AI, phát triển kỹ năng lập trình AI, hiểu cách AI hoạt động và ứng dụng trong thực tế, cũng như chuẩn bị cho các ngành nghề liên quan đến khoa học dữ liệu, khoa học máy tính và robot thông minh trong tương lai. Đồng thời, hình thành một nền tảng dạy học trực tuyến phục vụ các đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo kỹ năng đáp ứng yêu cầu hoạt động học tập suốt đời của người dân Thành phố. Bên cạnh đó, Đề án cũng đặt ra yêu cầu xây dựng một hệ thống trợ lý ảo AI toàn diện, có khả năng học hỏi và thích nghi, hỗ trợ cán bộ quản lý, giáo viên trong việc ra quyết định chiến lược, quản lý điều hành và giải quyết các vấn đề phát sinh. Thêm vào đó là việc phát triển và tích hợp các AI Agent chuyên ngành có khả năng phân tích dữ liệu chuyên sâu để dự báo xu hướng, đánh giá tác động của các chính sách, xác định các điểm yếu trong hệ thống giáo dục và đề xuất giải pháp tối ưu.

Theo đó, các nhiệm vụ, giải pháp sẽ bao gồm:

+ Tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức; đào tạo, bồi dưỡng năng lực số, ứng dụng công nghệ mới, AI cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý

+ Tăng cường các điều kiện đảm bảo triển khai ứng dụng công nghệ AI và dữ liệu lớn trong đào tạo

+ Phát triển hệ sinh thái chuyển đổi số hoạt động dạy học, kiểm tra, đánh giá và nghiên cứu khoa học

+ Kết nối, đồng bộ hệ thống thông tin quản lý giáo dục và đào tạo và cơ sở dữ liệu ngành giáo dục

+ Huy động các nguồn lực tham gia triển khai thực hiện ứng dụng AI, dữ liệu lớn trong đào tạo

+ Đẩy mạnh công tác thông tin, hỗ trợ người lao động tại các doanh nghiệp

+ Tăng cường hợp tác giữa doanh nghiệp với cơ sở giáo dục nghề nghiệp

+ Xây dựng cơ chế, chính sách triển khai thực hiện Đề án

UBND TP.HCM giao Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện Đề án theo phân công và đúng quy định của pháp luật. UBND TP.HCM giao Sở Khoa học và Công nghệ tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình “Nghiên cứu và phát triển ứng dụng AI tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020-2030”; Chương trình phổ cập trí tuệ nhân tạo cho công dân (AI for Citizens) trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2025 – 2030. Sở Khoa học và Công nghệ cũng sẽ triển khai nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích các tập đoàn công nghệ trong nước, viện nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng đề xuất các giải pháp giải quyết các bài toán đặt ra của các sở, ngành tại thành phố, thử nghiệm và ứng dụng các sản phẩm AI. Sở Khoa học và Công nghệ còn chủ trì thực hiện nhiệm vụ “Chương trình khoa học và công nghệ về trí tuệ nhân tạo” – phối hợp với ĐHQG TP.HCM, Sở Giáo dục và Đào tạo cùng các sở, ban, ngành, Trường, viện, trung tâm nghiên cứu có liên quan.

Hoàng Kim

Trong chiến lược xây dựng đô thị thông minh, TP.HCM tập trung vào 4 trụ cột chính bao gồm: Hạ tầng và Nền tảng số; Quản trị số; Kinh tế số; Xã hội số.

Ngày 21/01/2026, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM làm việc cùng đoàn công tác Đại học Chulalongkorn (Thái Lan) về chiến lược xây dựng đô thị thông minh (Smart City) và hệ thống "Một định danh" (One ID) nhằm trao đổi, chia sẻ cách thức TP.HCM triển khai và vận hành các giải pháp công nghệ trong quản lý đô thị, cũng như việc tích hợp dữ liệu và hệ thống để nâng cao chất lượng, hiệu quả cung cấp dịch vụ công cho người dân.

Theo ông Lý Minh Tuân – Trưởng phòng Chuyển đổi số (Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM), trong chiến lược xây dựng đô thị thông minh, TP.HCM tập trung vào 4 trụ cột chính bao gồm: Hạ tầng và Nền tảng số; Quản trị số; Kinh tế số; Xã hội số.

Chulalongkorn2.jpg

Ông Lý Minh Tuân chia sẻ thông tin về cách thức triển khai và vận hành các giải pháp công nghệ.

Cụ thể, về Hạ tầng và Nền tảng số, TP.HCM đã hình thành Kho dữ liệu dùng chung (Data Lake), tích hợp dữ liệu từ các sở, ban, ngành và địa phương 45 cơ sở dữ liệu dùng chung và công bố 91 tập dữ liệu mở trên Cổng dữ liệu Thành phố. Thành phố cũng có 9 trung tâm dữ liệu lớn và đang chuẩn bị hình thành 4 siêu trung tâm dữ liệu. Về Quản trị số, TP.HCM ứng dụng hệ thống quản lý văn bản và điều hành liên thông, có các Trung tâm điều hành thông minh (IOC), hướng đến mục tiêu cung cấp dịch vụ phục vụ người dân thực hiện không phụ thuộc vào địa giới hành chính. Về Kinh tế số, TP.HCM thành lập các khu công nghệ số tập trung như Khu công nghệ cao, công viên phần mềm QTSC, hỗ trợ chính sách cho các doanh nghiệp đầu tư phát triển về khoa học, công nghệ phục vụ công tác chuyển đổi số Thành phố, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ chuyển đổi số. Về Xã hội số, phong trào "Bình dân học vụ số" ở Thành phố đã có 6.590 Tổ công nghệ số cộng đồng với hơn 27.500 thành viên tham gia hỗ trợ người dân tại cơ sở để thực hiện chuyển đổi số, lan tỏa kỹ năng số đến cộng đồng.

Về hệ thống "Một định danh" (One ID), TP.HCM sử dụng ứng dụng định danh điện tử VNeID do Trung tâm Dữ liệu quốc gia về dân cư (Bộ Công an) phát triển. Thông qua việc sử dụng VneID, người dân có thể đề nghị cấp Phiếu Lý lịch tư pháp, xác thực sinh trắc học tại sân bay Tân Sơn Nhất và nhà ga Metro số 1 (Bến Thành - Suối Tiên) - giúp rút ngắn thời gian làm thủ tục kiểm tra an ninh, chi trả trợ cấp không dùng tiền mặt, sử dụng thẻ Bảo hiểm y tế tích hợp trên VNeID. Qua đó, VNeID giúp người dân giảm việc phải đi lại và chờ đợi, ngăn chặn tình trạng giả mạo danh tính…

Chulalongkorn1.jpg

Với mục tiêu xây dựng TP.HCM trở thành đô thị thông minh, thúc đẩy chuyển đổi số trong quản trị đô thị, phát triển kinh tế số và cung cấp dịch vụ thông minh Thành phố đã triển khai nhiều những nhiệm vụ, ban hành nhiều Chương trình, Đề án, Dự án, Kế hoạch… để thúc đẩy hệ sinh thái Nhà nước – Doanh nghiệp – Viện/Trường – Startup – Cộng đồng cùng tham gia sáng tạo, cùng phát triển đô thị thông minh.

Hoàng Kim

Hệ thống cảnh báo sớm có khả năng giám sát trực quan và phát cảnh báo tự động đa phương thức khi các chỉ số dự báo vượt ngưỡng an toàn, hỗ trợ đắc lực cho công tác chủ động phòng chống dịch bệnh.

Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM vừa tổ chức Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ “Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm các bệnh truyền nhiễm liên quan đến ngập lụt tại Thành phố Hồ Chí Minh do biến đổi khí hậu”. Đây là nhiệm vụ do Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM chủ trì thực hiện, PGS.TS. Hoàng Hà Anh làm chủ nhiệm.

ngaplut.jpg

Ngập lụt là hiện tượng ngập nước của một vùng lãnh thổ do triều/lũ hoặc mưa lớn gây ra. Ngập lụt có thể do hệ thống thoát nước bị quá tải hay mực nước sông dâng cao thoát nước không kịp. Ngập lụt gây ảnh hưởng đến đời sống của người dân, phát tán các loại bệnh truyền nhiễm, giao thông ùn tắc, gây ô nhiễm môi trường… Nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm sau ngập lụt là tùy từng bối cảnh cụ thể, khác nhau giữa các quốc gia và phụ thuộc vào một số yếu tố tổng hợp.

Việc giám sát dịch bệnh đòi hỏi phải thu thập và phân tích dữ liệu liên tục và có hệ thống. Công nghệ GIS đóng vai trò chủ chốt trong việc tăng cường toàn bộ quá trình quản lý và phân tích bản đồ vùng dịch, cụ thể là giám sát dịch tễ học. GIS cung cấp các phương tiện để trực quan hóa và phân tích dữ liệu dịch tễ học, tiết lộ các xu hướng, sự phụ thuộc và các mối quan hệ giữa các mối quan hệ khó phát hiện hơn ở dạng bảng. Các chuyên gia y tế có thể truy cập nhanh chóng và dễ dàng vào khối lượng lớn dữ liệu, sử dụng nhiều công cụ phân tích động và kỹ thuật hiển thị để theo dõi và quản lý dịch bệnh.

Báo cáo tại buổi nghiệm thu, đại diện nhóm thực hiện cho biết đã xây dựng thành công hệ thống cảnh báo và dự báo các bệnh truyền nhiễm (sốt xuất huyết, tiêu chảy, thương hàn) - được phát triển trên nền tảng Web-GIS tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI/ML) và Mobile App (AppGIS), triển khai trên hạ tầng điện toán đám mây (Google Cloud Platform), đảm bảo khả năng vận hành ổn định, bảo mật và xử lý dữ liệu lớn. Hệ thống được phát triển theo mô hình kỹ thuật tổng thể từ khâu thu thập – xử lý – phân tích – hiển thị dữ liệu cho đến dự báo nguy cơ, đạt mức độ hoàn thiện cao. Mục tiêu chính của hệ thống là hỗ trợ cơ quan y tế và cộng đồng trong việc giám sát, phân tích và dự báo xu hướng bùng phát dịch bệnh tại TP.HCM theo thời gian thực.

Theo đó, hệ thống cảnh báo sớm có khả năng giám sát trực quan và phát cảnh báo tự động đa phương thức (qua ứng dụng, web) khi các chỉ số dự báo vượt ngưỡng an toàn. Điều này hỗ trợ đắc lực cho các nhà quản lý y tế và cộng đồng trong việc chủ động phòng chống dịch bệnh. Hệ thống cũng đã được kiểm thử vận hành thực tế với dữ liệu của TP.HCM, chứng minh được tính khả thi, giao diện thân thiện và khả năng hỗ trợ ra quyết định nhanh chóng. Hệ thống có tiềm năng mở rộng để tích hợp thêm các loại dịch bệnh khác hoặc triển khai cho các địa phương lân cận.

Hoàng Kim

TP.HCM lần đầu tiên triển khai mô hình quỹ đầu tư mạo hiểm có sử dụng ngân sách Nhà nước, nhằm hỗ trợ các startup công nghệ và cụ thể hóa mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo theo Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị.

Quang cảnh hội nghị

Trong bối cảnh hệ sinh thái khởi nghiệp của Thành phố phát triển nhanh nhưng còn thiếu một quỹ mạo hiểm công – tư đủ thẩm quyền và cơ chế linh hoạt để dẫn dắt thị trường, đặc biệt trong giai đoạn 2026-2030, việc hình thành Quỹ được xem là bước đi cần thiết nhằm thu hút dòng vốn xã hội, thúc đẩy thương mại hóa công nghệ và phát triển doanh nghiệp đổi mới sáng tạo.

Sáng ngày 16/1/2026, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM đã tổ chức hội nghị “Giới thiệu cơ hội tham gia quỹ đầu tư mạo hiểm TP.HCM”, qua đó cung cấp thông tin, làm rõ định hướng vận hành và kêu gọi sự tham gia của các tổ chức, nhà đầu tư vào mô hình quỹ đầu tư mạo hiểm đầu tiên của Thành phố.

Quỹ đầu tư mạo hiểm: bước chuyển từ hỗ trợ sang đồng kiến tạo

TP.HCM sẽ tập trung đầu tư phát triển bốn mô hình trung tâm đổi mới sáng tạo, gồm: Trung tâm đổi mới sáng tạo cấp quốc gia, Khu Công nghệ cao TP.HCM, Tòa nhà Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo TP.HCM (SIHUB) và mô hình hợp tác công – tư (PPP). Các trung tâm này được xác định là hạt nhân kết nối hoạt động nghiên cứu, ươm tạo, thương mại hóa công nghệ và dòng vốn đầu tư mạo hiểm. (Dự kiến, trụ sở chính của Quỹ đầu tư mạo hiểm TP.HCM sẽ được đặt tại Tòa nhà SIHUB, số 123 Trương Định, phường Xuân Hòa, TP.HCM), trụ sở được thuê theo chính sách hỗ trợ chung đối với hoạt động khởi nghiệp sáng tạo, nhằm bảo đảm tính kết nối, thuận lợi cho vận hành và đồng hành cùng cộng đồng startup.

Theo các chuyên gia, để mô hình này vận hành hiệu quả, quỹ đầu tư mạo hiểm của Nhà nước cần được tiếp cận theo tư duy khác với ngân hàng, không đặt nặng mục tiêu bảo toàn vốn ngắn hạn mà đóng vai trò vốn mồi, đồng hành cùng startup, đặc biệt ở giai đoạn đầu – thời điểm rủi ro cao nhưng mang tính quyết định đối với khả năng bứt phá.

Quỹ hướng tới các mục tiêu: (1) Đầu tư và thu hút nguồn lực cho doanh nghiệp, dự án khởi nghiệp sáng tạo có tiềm năng tăng trưởng đột phá, qua đó nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng cạnh tranh và thúc đẩy phát triển các ngành công nghệ số, công nghệ cao, công nghệ lõi; (2) Góp phần phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo và thị trường đầu tư mạo hiểm của Thành phố, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế; (3) Huy động, dẫn dắt nguồn lực xã hội cho đổi mới sáng tạo thông qua mô hình quỹ công - tư; (4) Đóng góp vào tăng trưởng GRDP, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế Thành phố.

Quy mô, cơ chế vận hành và các lĩnh vực ưu tiên đầu tư

Theo lộ trình, Quỹ đầu tư mạo hiểm TP.HCM có vốn điều lệ ban đầu 500 tỷ đồng vào năm 2026, dự kiến tăng lên 5.000 tỷ đồng vào năm 2035, gấp 10 lần so với giai đoạn khởi đầu. Trong giai đoạn 2026–2035, Quỹ đặt mục tiêu đầu tư từ 50–150 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, hỗ trợ thương mại hóa ít nhất 50 sản phẩm, công nghệ, đồng thời hình thành 5–10 doanh nghiệp công nghệ quy mô lớn có khả năng IPO, M&A hoặc mở rộng ra thị trường quốc tế.

Quỹ được tổ chức theo mô hình PPP, trong đó khu vực tư nhân góp 60% vốn điều lệ, Nhà nước góp 40% và chỉ giải ngân phần vốn này sau khi khu vực tư nhân đã góp đủ, nhằm bảo đảm nguyên tắc thị trường và phát huy vai trò dẫn dắt của vốn Nhà nước.

Về định hướng đầu tư, Quỹ tập trung vào các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp khoa học – công nghệ và doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số, được thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, có sản phẩm đổi mới sáng tạo và cam kết hoạt động tại TP.HCM tối thiểu 5 năm. Các lĩnh vực ưu tiên gồm vi mạch – bán dẫn (20–25%), công nghệ số như AI, Big Data, Blockchain (25–30%), biotech – medtech (15–20%), green tech – vật liệu mới (10–15%) và tự động hóa – robot (10–15%).

Việc thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm TP.HCM là bước đi quan trọng nhằm tháo gỡ điểm nghẽn về vốn cho đổi mới sáng tạo và cụ thể hóa các chủ trương lớn của Trung ương và Thành phố. Trong quá trình này, Sở KH&CN TP.HCM giữ vai trò nòng cốt trong tham mưu, định hướng và kết nối hệ sinh thái, từng bước chuyển từ quản lý sang kiến tạo và dẫn dắt. Thông qua Quỹ, Sở góp phần khơi thông nguồn lực xã hội, thúc đẩy thương mại hóa công nghệ và hình thành các doanh nghiệp công nghệ có năng lực cạnh tranh trong khu vực và quốc tế.

 

z7438210888663ebd48545fd397b2c4db72c818cf608bd.jpg

Ông Lâm Đình Thắng, Giám đốc Sở KH&CNTP. Hồ Chí Minh.

Theo ông Lâm Đình Thắng – Giám đốc Sở KH&CN TP.HCM, Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã giao cho Thành phố mục tiêu đến năm 2030 trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp mang tầm cỡ quốc tế. Để hiện thực hóa mục tiêu này, TP.HCM cần chuyển mạnh từ vai trò hỗ trợ sang đồng kiến tạo, chủ động tham gia đầu tư cho đổi mới sáng tạo.

Trong đó, việc hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm có sử dụng ngân sách Nhà nước được xem là bước chuyển quan trọng, cho phép chính quyền Thành phố lần đầu tiên trực tiếp tham gia đầu tư mạo hiểm cho các dự án công nghệ và khởi nghiệp sáng tạo, qua đó dẫn dắt thị trường và thu hút dòng vốn xã hội cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Nguyễn Tuyết

Clip hoạt động


Bản quyền © 2018 Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Thiết kế và phát triển bởi HCMGIS
Tổng số truy cập: 11537424