Chiều 17/7, Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh tổ chức buổi tập huấn chuyên đề nhằm trao đổi, hướng dẫn thông tin về Quy chế quản lý chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KHCN và ĐMST) sử dụng ngân sách nhà nước.
Đây là hoạt động sinh hoạt chuyên môn nhằm giúp đội ngũ cán bộ, công chức của Sở thống nhất cách hiểu và cách áp dụng các quy định mới trong công tác tham mưu, quản lý chương trình, nhiệm vụ KHCN và ĐMST sử dụng ngân sách nhà nước, đồng thời chuẩn bị cho việc triển khai các quy định mới theo Quyết định số 36/2026/QĐ-UBND của UBND TP. Hồ Chí Minh và Nghị quyết số 24/2026/NQ-HĐND của HĐND Thành phố.
Ông Võ Hưng Sơn, Phó Trưởng phòng Quản lý Khoa học, đã giới thiệu những nội dung mới quy định về quản lý chương trình, nhiệm vụ KHCN và ĐMST sử dụng ngân sách nhà nước TP. Hồ Chí Minh, trong đó nhấn mạnh cách tiếp cận chuyển từ quản lý từng nhiệm vụ riêng lẻ sang quản lý theo chương trình.
Ông Võ Hưng Sơn, Phó Trưởng phòng Quản lý Khoa học, hướng dẫn một số nội dung mới trong quản lý chương trình, nhiệm vụ KHCN và ĐMST
Theo quy định mới, chương trình KHCN và ĐMST là tập hợp các nhiệm vụ, cụm nhiệm vụ và chuỗi nhiệm vụ có mối liên kết với nhau, được xây dựng trên cơ sở định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố và kế hoạch phát triển KHCN và ĐMST theo từng giai đoạn. Cách tiếp cận này giúp công tác tổ chức, theo dõi và đánh giá các nhiệm vụ được thực hiện theo mục tiêu chung thay vì chỉ xem xét từng nhiệm vụ độc lập.
Một nội dung đáng chú ý là việc phân định rõ chức năng giữa cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị trực tiếp quản lý nhiệm vụ. Theo đó, Sở Khoa học và Công nghệ tập trung thực hiện chức năng quản lý nhà nước, trong khi Quỹ Phát triển Khoa học công nghệ và Đổi mới sáng tạo sẽ từng bước đảm nhiệm công tác quản lý trực tiếp các nhiệm vụ theo quy định. Việc phân công rõ vai trò của từng đơn vị sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, đồng thời tạo thuận lợi trong quá trình triển khai các chương trình, nhiệm vụ KHCN và ĐMST.
Ông Võ Hưng Sơn cũng làm rõ sự khác nhau giữa hai hình thức triển khai nhiệm vụ đặt hàng và tài trợ. Nếu nhiệm vụ đặt hàng xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể phục vụ công tác quản lý hoặc phát triển kinh tế - xã hội thì nhiệm vụ tài trợ tạo điều kiện để các tổ chức, doanh nghiệp chủ động đề xuất ý tưởng nghiên cứu từ nhu cầu thực tiễn của đơn vị mình. Theo quy định mới, đối tượng được tài trợ là các tổ chức, doanh nghiệp, không áp dụng đối với cá nhân.
Đáng chú ý, cơ chế mới cho phép nhiều tổ chức cùng được tài trợ để nghiên cứu một nội dung hoặc lĩnh vực tương đồng mà không bị xem là trùng lặp nhiệm vụ. Theo ông Sơn, thay vì chỉ lựa chọn một đơn vị như trước đây, từng hồ sơ sẽ được xem xét trên cơ sở năng lực của tổ chức chủ trì, chất lượng đề xuất và tính khả thi của giải pháp. Cách tiếp cận này khuyến khích tính cạnh tranh trong nghiên cứu để đa dạng hóa sản phẩm nghiên cứu, từ đó lựa chọn những giải pháp có chất lượng, phù hợp với nhu cầu thực tiễn.
Về cơ chế quản trị rủi ro trong nghiên cứu khoa học, việc đánh giá nhiệm vụ không chỉ căn cứ vào kết quả cuối cùng mà còn xem xét quá trình tổ chức thực hiện, mức độ tuân thủ quy trình và trách nhiệm của tổ chức chủ trì, chủ nhiệm nhiệm vụ. Nội dung này góp phần làm rõ cách thức quản lý đối với các trường hợp nhiệm vụ không đạt mục tiêu khoa học hoặc phát sinh rủi ro trong quá trình triển khai theo đúng quy định.
Bên cạnh những điểm mới về cơ chế quản lý, buổi tập huấn cũng trao đổi về quy trình triển khai chương trình, nhiệm vụ KHCN và ĐMST từ khâu xây dựng kế hoạch, thông báo đặt hàng hoặc tài trợ, tiếp nhận hồ sơ, xét chọn, thẩm định kinh phí, phê duyệt đến ký kết hợp đồng và theo dõi quá trình thực hiện.
Một nội dung khác cũng được đề cập là yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong công tác quản lý. Theo đó, thông tin về các chương trình, nhiệm vụ KHCN và ĐMST sẽ được cập nhật trên nền tảng số, nhiều thủ tục được thực hiện thông qua dịch vụ công trực tuyến, góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch, đồng thời tạo thuận lợi trong quá trình theo dõi, quản lý và khai thác dữ liệu. Quy định mới cũng bổ sung yêu cầu theo dõi, đánh giá tác động của nhiệm vụ sau nghiệm thu trong thời gian 5 năm, qua đó có thêm cơ sở để đánh giá hiệu quả đầu tư từ ngân sách nhà nước đối với hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Lam Vân
Smart Green Living Week 2026 tạo không gian kết nối giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp, startup, chuyên gia, nhà đầu tư và các địa phương, qua đó thúc đẩy hoàn thiện, ứng dụng các giải pháp công nghệ, vật liệu và mô hình phát triển bền vững vào thực tiễn đô thị.

Các đại biểu thực hiện nghi thức bấm nút khai mạc Smart Green Living Week 2026.
Sáng 17/7/2026, tại Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo TP.HCM (SIHUB), Smart Green Living Week 2026 chính thức khai mạc, mở đầu chuỗi hoạt động triển lãm, hội thảo chuyên đề, kết nối đầu tư và giao thương dành cho các giải pháp phục vụ phát triển đô thị xanh, thông minh và nâng cao chất lượng sống.
Chương trình do SIHUB phối hợp cùng Gallery Architecture & Materials tổ chức trong khuôn khổ Startup Connection Day 2026. Diễn ra từ ngày 17 đến 19/7, sự kiện quy tụ hơn 50 doanh nghiệp, startup và dự án đổi mới sáng tạo trong các lĩnh vực kiến trúc, vật liệu xanh, công nghệ đô thị, nhà thông minh, năng lượng sạch, môi trường, kinh tế tuần hoàn và phong cách sống bền vững.
Khoa học, công nghệ làm nền tảng cho phát triển đô thị xanh
Phát biểu khai mạc chương trình, ông Trần Trọng Tuyên, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM nhấn mạnh, tăng trưởng xanh đã trở thành yêu cầu tất yếu nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia và địa phương. Đối với TP.HCM, phát triển xanh cần được đặt trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây vừa là động lực nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, vừa là công cụ để giải quyết những bài toán lớn của đô thị như sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải, cải thiện môi trường sống và nâng cao chất lượng phục vụ người dân.
Ông Trần Trọng Tuyên, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM phát biểu khai mạc.
Định hướng này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Trong đó, doanh nghiệp được xác định là trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo; Nhà nước giữ vai trò kiến tạo cơ chế, chính sách và môi trường thuận lợi để các ý tưởng sáng tạo được phát triển, thử nghiệm và ứng dụng vào thực tiễn.
Thạc sĩ, Kiến trúc sư Nguyễn Thu Phong, Phó Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam, Chủ tịch NVC Planning & Landscape, Nhà sáng lập Gallery Architecture & Materials trình bày tham luận về Đô thị, Kiến trúc, Cảnh quan Xanh - Đời sống đương đại Việt, Dự báo xu thế và Thử nghiệm sáng tạo.
Ở góc độ chuyên môn, Thạc sĩ, Kiến trúc sư Nguyễn Thu Phong, Phó Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam, Chủ tịch NVC Planning & Landscape, Nhà sáng lập Gallery Architecture & Materials cho rằng, phát triển đô thị xanh cần bắt đầu từ tư duy thiết kế và cách tổ chức không gian sống. Công nghệ và vật liệu mới cần được lựa chọn phù hợp với điều kiện thực tế nhằm nâng cao chất lượng môi trường, hiệu quả vận hành và trải nghiệm của người dân. “Một đô thị xanh không chỉ cần nhiều cây xanh mà cần những giải pháp thiết kế, vật liệu và công nghệ phù hợp. Chúng tôi kỳ vọng chương trình sẽ giúp các ý tưởng sáng tạo sớm được ứng dụng vào thực tiễn.” Ông chia sẻ.
Mở rộng cơ hội hợp tác, thương mại hóa
Song song với không gian trưng bày sản phẩm và các giải pháp, Smart Green Living Week 2026 còn mở rộng không gian trao đổi, hợp tác giữa cơ quan quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp, startup và nhà đầu tư thông qua chuỗi hội thảo, tọa đàm chuyên đề tập trung cập nhật xu hướng sáng tạo xanh, thực hành ESG và chuyển đổi xanh, qua đó góp phần định hướng các giải pháp phù hợp với nhu cầu phát triển đô thị bền vững.
Phiên thảo luận chuyên đề về xu hướng sáng tạo xanh và phong cách sống đô thị 2026.
Các hoạt động Startup Pitching, Business Matching và workshop “Góp vật thành cảnh” tạo cơ hội để các dự án tiếp nhận phản hồi, kết nối đối tác, tìm kiếm khả năng thử nghiệm và thương mại hóa; đồng thời lan tỏa tư duy tái sử dụng vật liệu, kinh tế tuần hoàn và lối sống thân thiện với môi trường.
Với vai trò đầu mối kết nối hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, SIHUB tiếp tục tạo điều kiện để doanh nghiệp, startup, chuyên gia, viện trường, nhà đầu tư và cơ quan quản lý gặp gỡ, chia sẻ nguồn lực và xây dựng các chương trình hợp tác.
Smart Green Living Week 2026 được kỳ vọng tạo ra những kết nối có giá trị, góp phần hình thành các dự án hợp tác, thúc đẩy ứng dụng công nghệ và lan tỏa những mô hình phát triển xanh, thông minh, góp phần xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị xanh, thông minh, hiện đại và đáng sống.
Các đại biểu tham quan khu trưng bày, tìm hiểu các công nghệ và giải pháp xanh tại Smart Green Living Week 2026.
Các đại biểu chụp hình lưu niệm.
Nguyễn Tuyết
Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh vừa tổ chức hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ "Xây dựng hệ thống mốc cảnh báo lũ, ngập lụt và đề xuất mực nước tương ứng với cấp báo động tại một số vị trí thường xảy ra ngập lụt".
Nhiệm vụ do Viện Khoa học Tài nguyên Môi trường và Biến đổi khí hậu chủ trì thực hiện, TS. Trương Văn Hiếu làm chủ nhiệm. Kết quả nghiên cứu không chỉ đề xuất xây dựng hệ thống mốc cảnh báo và các ngưỡng báo động phù hợp, mà còn hình thành hệ thống dữ liệu và công cụ hỗ trợ ra quyết định phục vụ công tác ứng phó, quản lý ngập trên địa bàn Thành phố.
Từ thực tiễn ngập đô thị đến yêu cầu đổi mới công tác cảnh báo
Là đô thị nằm ở hạ lưu hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh thường xuyên chịu tác động đồng thời của triều cường, lũ thượng nguồn và mưa lớn. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nước biển dâng và quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh, tình trạng ngập lụt không còn diễn ra theo những quy luật cũ mà ngày càng phức tạp, khó dự báo.
Trong khi đó, các ngưỡng báo động thủy văn đang áp dụng được xây dựng từ nhiều năm trước. Qua phân tích chuỗi số liệu giai đoạn 2017 - 2024, nhóm nghiên cứu nhận thấy mực nước đỉnh triều tại các trạm Phú An và Nhà Bè thường xuyên vượt ngưỡng Báo động III hiện hành. Điều này dẫn đến khó khăn trong công tác cảnh báo, hỗ trợ ra quyết định ứng phó, cũng như việc chủ động phòng tránh.
Nhiệm vụ được triển khai với mục tiêu xây dựng hệ thống mốc cảnh báo lũ, ngập lụt và đề xuất mực nước tương ứng với cấp báo động tại một số vị trí thường xảy ra ngập lụt trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh nhằm hỗ trợ công tác quản lý khắc phục những tổn thất, thiệt hai do ngập lụt gây ra. Cụ thể, nhóm nghiên cứu tập trung vào 4 nội dung: xác định các vị trí cần đặt trạm mốc thủy văn báo động lũ; đề xuất giá trị mực nước tương ứng các cấp độ báo động lũ I, II, III; xây dựng phương án cảnh báo và biện pháp ứng phó linh hoạt theo từng cấp độ báo động lũ cho TP. Hồ Chí Minh; xây dựng các cột mốc cảnh báo tại hiện trường.
TS. Trương Văn Hiếu, đại diện nhóm nghiên cứu báo cáo các kết quả thực hiện nhiệm vụ
Theo đó, nhóm nghiên cứu đã khai thác chuỗi số liệu khí tượng thủy văn từ năm 1990 đến năm 2024, kết hợp khảo sát thực địa, đo đạc thủy văn, ứng dụng các mô hình MIKE 11, MIKE FLOOD để mô phỏng diễn biến ngập dưới tác động tổng hợp của triều cường, lũ và mưa đô thị. Đồng thời ứng dụng công nghệ GIS để xây dựng bản đồ ngập.
Hình thành nền tảng dữ liệu phục vụ cảnh báo và quản lý ngập lụt
Một trong những kết quả nổi bật của đề tài là xây dựng bộ cơ sở dữ liệu số hóa về khí tượng thủy văn, địa hình, hệ thống sông rạch và các mặt cắt thủy văn phục vụ công tác dự báo, quản lý ngập. Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn và đề xuất 6 vị trí mốc cảnh báo tại các khu vực thường xuyên xảy ra ngập lụt, gồm Chợ Đệm, Cầu Chữ Y, Hiệp Phước, Tham Lương, Rạch Chiếc và Gò Dưa. Các mốc này được xác định là những điểm đại diện, có ý nghĩa trong việc theo dõi diễn biến ngập và truyền tải thông tin cảnh báo trực quan đến người dân. Tại mỗi vị trí, nhóm đề xuất mực nước tương ứng với ba cấp độ báo động dựa trên các kịch bản tổ hợp giữa triều cường, lũ và mưa, góp phần nâng cao độ chính xác của công tác cảnh báo tại từng khu vực.

Nhóm nghiên cứu cũng đề xuất điều chỉnh ngưỡng báo động tại các trạm Phú An, Nhà Bè và Thủ Dầu Một lên các mức 1,60 m, 1,70 m và 1,80 m tương ứng với các cấp độ báo động I, II và III. Đồng thời đề xuất quy trình ứng phó theo từng cấp báo động, từ theo dõi diễn biến, phát cảnh báo đến huy động lực lượng hỗ trợ và bảo đảm an toàn cho người dân khi xảy ra ngập lụt.
Kết quả nhiệm vụ cũng xây dựng được bản đồ ngập lụt số hóa tỷ lệ 1/50.000, với đầy đủ các lớp dữ liệu hành chính, sông kênh rạch, vị trí mốc và mức ngập. Đây là cơ sở để các cơ quan quản lý lựa chọn phương án vận hành công trình, tổ chức cảnh báo, huy động lực lượng và triển khai các giải pháp ứng phó phù hợp với từng tình huống ngập lụt. Đáng chú ý, kết quả mô phỏng cho thấy khoảng 32,95% diện tích nội đô có nguy cơ chịu ảnh hưởng của ngập lụt theo các kịch bản nghiên cứu. Những thông tin này không chỉ phục vụ công tác phòng, chống thiên tai mà còn cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho quy hoạch hạ tầng thoát nước, quản lý phát triển đô thị và thích ứng với biến đổi khí hậu trong dài hạn.
Hội đồng tư vấn nghiệm thu nhiệm vụ tại Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh
Theo nhóm nghiên cứu, việc xây dựng hệ thống mốc cảnh báo không đơn thuần là xác định các mực nước báo động mà hướng đến công cụ cảnh báo trực quan, giúp người dân dễ dàng nhận biết mức độ rủi ro tại hiện trường để chủ động lựa chọn phương án di chuyển, bảo vệ tài sản và bảo đảm an toàn trong mùa mưa lũ. Kết quả nghiên cứu cũng mở ra khả năng phát triển hệ thống cảnh báo ngập thông minh trên nền tảng dữ liệu số. Việc kết hợp các mốc cảnh báo thực địa với mạng lưới quan trắc tự động, bản đồ số và các nền tảng chia sẻ dữ liệu sẽ góp phần nâng cao chất lượng dự báo, hiện đại hóa công tác cảnh báo, phòng chống thiên tai trong những năm tới.
Hội đồng nghiệm thu đánh giá nhiệm vụ đã hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu, xây dựng được cơ sở dữ liệu và các sản phẩm có giá trị thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phục vụ công tác quản lý ngập lụt của Thành phố. Kết quả nghiên cứu sẽ là nguồn tham khảo quan trọng cho các cơ quan chuyên môn trong quá trình cập nhật hệ thống cảnh báo, xây dựng các kịch bản ứng phó và triển khai các giải pháp quản lý rủi ro thiên tai theo hướng chủ động, khoa học, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Lam Vân
Nhằm tăng cường kết nối, trao đổi kinh nghiệm và tìm kiếm cơ hội hợp tác trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, thương mại điện tử và phát triển doanh nghiệp, sáng 16/7/2026, Đoàn công tác thành phố Phổ Ninh, Trung Quốc do ông Lin Jianwen - Thị trưởng Chính quyền Nhân dân thành phố Phổ Ninh làm Trưởng đoàn đã đến thăm và làm việc với Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM.

Quang cảnh buổi làm việc giữa TP.HCM và thành phố Phổ Ninh.
Tiếp và làm việc với đoàn có ông Trần Trọng Tuyên - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM, cùng đại diện các phòng chuyên môn, đơn vị trực thuộc Sở; về phía thành phố Phổ Ninh có đại diện chính quyền, các cơ quan chuyên môn và cộng đồng doanh nghiệp địa phương.
Nhiều tiềm năng hợp tác từ thế mạnh của hai địa phương
Tại buổi làm việc, ông Trần Trọng Tuyên - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM đã giới thiệu khái quát về tiềm năng và định hướng phát triển của Thành phố sau quá trình hợp nhất. Với quy mô dân số, thị trường và không gian phát triển được mở rộng, cùng hệ thống khu công nghiệp, khu chế xuất, trường đại học, viện nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp quy mô lớn, TP.HCM đang đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Ông Trần Trọng Tuyên - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM phát biểu tại buổi làm việc.
Đồng thời, Thành phố tăng cường hợp tác quốc tế, hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, phát triển nhân lực, mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị quốc tế.
Ông Lin Jianwen - Thị trưởng Chính quyền Nhân dân thành phố Phổ Ninh cho biết địa phương có thế mạnh về dệt may, thương mại điện tử, logistics, dược liệu, chế biến thực phẩm và nông sản chất lượng cao; đồng thời sở hữu hệ thống sản xuất, cung ứng hàng hóa cùng mạng lưới doanh nghiệp kết nối với nhiều thị trường quốc tế. Những năm gần đây, Phổ Ninh đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong sản xuất, quản lý nhằm nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm.

Ông Lin Jianwen - Thị trưởng Chính quyền Nhân dân thành phố Phổ Ninh chia sẻ tại buổi làm việc.
Ông đánh giá Việt Nam là thị trường giàu tiềm năng, và bày tỏ mong muốn tăng cường kết nối với các cơ quan, hiệp hội và doanh nghiệp TP.HCM; đồng thời tiếp cận thông tin về chính sách và các chương trình hỗ trợ đầu tư trong những lĩnh vực hai bên cùng quan tâm.
Thúc đẩy kết nối doanh nghiệp và chuyển giao công nghệ
Tại buổi làm việc, hai bên đã trao đổi về các lĩnh vực có tiềm năng hợp tác trên cơ sở thế mạnh và nhu cầu phát triển của mỗi địa phương. Đại diện Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM đánh giá các lĩnh vực như dệt may, thương mại điện tử, logistics và chuỗi cung ứng của thành phố Phổ Ninh có nhiều điểm tương đồng với nhu cầu đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và mở rộng thị trường của các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố.
Trên tinh thần thống nhất cao, hai bên cam kết tăng cường chia sẻ thông tin, thiết lập các chương trình giao thương và kết nối cung - cầu công gắn với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp. Trọng tâm hợp tác sẽ hướng vào việc hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm đối tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đầu tư và thương mại hóa sản phẩm. Đặc biệt, hai địa phương sẽ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý chất lượng và truy xuất nguồn gốc đối với các nhóm hàng chiến lược như dệt may, dược liệu, thực phẩm và nông sản.
Bên cạnh hợp tác thương mại, hai bên sẽ tăng cường kết nối giữa mạng lưới các trung tâm đổi mới sáng tạo, vườn ươm, trường đại học và viện nghiên cứu. Thông qua đó, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp công nghệ, startup tham gia vào các chương trình ươm tạo, tăng tốc, triển lãm và diễn đàn xúc tiến đầu tư tại cả hai địa phương.
Kết thúc buổi làm việc, hai bên thống nhất tiếp tục duy trì đầu mối liên lạc, tăng cường trao đổi thông tin và nghiên cứu các nội dung hợp tác phù hợp trên cơ sở thế mạnh, nhu cầu phát triển của mỗi địa phương, góp phần thúc đẩy hợp tác về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển doanh nghiệp trong thời gian tới.

Đại diện Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM và thành phố Phổ Ninh trao quà lưu niệm tại buổi làm việc.

Đại biểu hai bên chụp ảnh lưu niệm sau buổi làm việc.
Nguyễn Tuyết
Việc xây dựng các "cầu nối" hiệu quả giữa trường đại học, doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý được xem là điều kiện tiên quyết để rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường. Đây cũng là nền tảng để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đóng góp mạnh mẽ hơn cho tăng trưởng kinh tế của TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới.
Thông điệp trên được nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế chia sẻ tại Hội thảo "Từ nghiên cứu đến thị trường: Thúc đẩy hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp nhằm thương mại hóa đổi mới sáng tạo", diễn ra ngày 15/7 tại TP. Hồ Chí Minh. Hội thảo do Sunwah Innovations, Brinc và Trung tâm Đổi mới sáng tạo Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh (VIH) đồng tổ chức. Trong khuôn khổ chương trình, Liên doanh Sunwah - Brinc cũng chính thức ra mắt, mở ra mô hình hợp tác mới nhằm kết nối trường đại học, doanh nghiệp, nhà đầu tư và các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp, góp phần thúc đẩy thương mại hóa công nghệ và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Thành phố.
Thương mại hóa kết quả nghiên cứu, rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường
Trong nhiều năm qua, TP. Hồ Chí Minh đã hình thành hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo với sự tham gia của các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ, quỹ đầu tư và cộng đồng khởi nghiệp. Tuy nhiên, để các kết quả nghiên cứu thực sự tạo ra giá trị kinh tế, vẫn cần các giải pháp kết nối chặt chẽ hơn giữa các chủ thể trong hệ sinh thái, từ đó thu hẹp khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường.
Tại hội thảo, các chuyên gia nhận định rằng thách thức hiện nay không nằm ở việc thiếu ý tưởng hay thiếu công nghệ. Việt Nam có nhiều nhà khoa học, nhóm nghiên cứu và doanh nghiệp giàu tiềm năng, nhưng không ít kết quả nghiên cứu vẫn dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm, chưa được thương mại hóa thành sản phẩm hoặc dịch vụ phục vụ thị trường. Vì vậy, điều cần thiết không chỉ là tạo ra thêm các công trình nghiên cứu mà phải xây dựng được những "cầu nối" hiệu quả để chuyển hóa tri thức thành giá trị thực tiễn.
Ông Nguyễn Đức Huy, Phó Giám đốc Trung tâm HCMC C4IR phát biểu tại hội thảo
Theo ông Nguyễn Đức Huy, Phó Giám đốc Trung tâm Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 tại TP. Hồ Chí Minh (HCMC C4IR), đổi mới sáng tạo chỉ thực sự tạo ra giá trị khi kết quả nghiên cứu được kết nối với nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường. Trong định hướng phát triển trở thành trung tâm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hàng đầu khu vực, TP. Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D), đồng thời gắn hoạt động nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp và các ngành kinh tế.
Một trong những nội dung được các diễn giả tại hội thảo nhấn mạnh là việc thay đổi tư duy trong hoạt động nghiên cứu. Thay vì tập trung hoàn thiện công nghệ rồi mới tìm kiếm đầu ra, các chiến lược thương mại hóa, khai thác tài sản trí tuệ và mô hình kinh doanh cần được tính toán ngay từ những giai đoạn đầu của quá trình nghiên cứu. Khi doanh nghiệp cùng tham gia xác định nhu cầu, đặt hàng và đồng phát triển giải pháp, khả năng đưa công nghệ ra thị trường sẽ cao hơn đáng kể.
Các đại biểu tham dự hội thảo
Các chuyên gia cũng cho rằng, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cần dựa trên mô hình hợp tác "Ba nhà" (Triple Helix), trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo cơ chế, chính sách; trường đại học, viện nghiên cứu tạo ra tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao; doanh nghiệp cùng các nhà đầu tư dẫn dắt nhu cầu thị trường, đầu tư và thương mại hóa công nghệ. Khi ba chủ thể tham gia ngay từ quá trình hình thành ý tưởng nghiên cứu, cơ hội hình thành các sản phẩm có giá trị thương mại sẽ được nâng lên rõ rệt.
Chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn, các diễn giả quốc tế cho rằng thương mại hóa đổi mới sáng tạo không thể chỉ dựa vào nỗ lực của từng nhà khoa học hay từng doanh nghiệp riêng lẻ. Điều quan trọng là xây dựng một hệ sinh thái đủ năng động, nơi các trường đại học, doanh nghiệp, quỹ đầu tư, cơ quan quản lý và các tổ chức hỗ trợ cùng chia sẻ nguồn lực, thông tin và cơ hội hợp tác để công nghệ có thể phát triển xuyên suốt từ ý tưởng, nghiên cứu, thử nghiệm đến thương mại hóa.
Bổ sung "mắt xích" kết nối nghiên cứu và thị trường
Việc hình thành các mô hình hợp tác như Sunwah - Brinc được kỳ vọng sẽ bổ sung một mắt xích quan trọng, cho thấy xu hướng phát triển mới của hệ sinh thái, hướng đến xây dựng cầu nối hiệu quả giữa trường đại học, doanh nghiệp khởi nghiệp, quỹ đầu tư và mạng lưới đối tác quốc tế, qua đó hỗ trợ các dự án công nghệ rút ngắn hành trình từ nghiên cứu đến thị trường.
Theo đại diện Sunwah Innovations, mục tiêu của liên doanh không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ các startup mà còn tạo ra những lộ trình thương mại hóa rõ ràng cho các kết quả nghiên cứu, kết nối hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong nước với các cơ hội toàn cầu. Trong khi đó, Brinc sẽ mang đến kinh nghiệm về tăng tốc khởi nghiệp, nguồn vốn, cố vấn chuyên môn và khả năng mở rộng thị trường quốc tế cho các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam.
Ở góc độ trường đại học, ông Trần Vũ, Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh cho biết đơn vị đang từng bước xây dựng mô hình đổi mới sáng tạo theo hướng khép kín, gắn kết nghiên cứu, đào tạo, khởi nghiệp và chuyển giao công nghệ. Bên cạnh việc hỗ trợ các nhóm nghiên cứu phát triển công nghệ, mô hình này còn thúc đẩy hình thành các doanh nghiệp khởi nguồn từ trường đại học (spin-off), đồng thời kết nối với doanh nghiệp, quỹ đầu tư và mạng lưới chuyên gia trong và ngoài nước nhằm nâng cao khả năng thương mại hóa các kết quả nghiên, dự án công nghệ trong các lĩnh vực trọng điểm như trí tuệ nhân tạo, vi mạch bán dẫn, công nghệ sinh học, năng lượng xanh...
Ông Trần Vũ, Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh trình bày tại hội thảo
Theo lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ, TP. Hồ Chí Minh hiện có nền tảng thuận lợi để hình thành các công nghệ mới, sản phẩm mới và doanh nghiệp công nghệ mới. Tuy nhiên, để khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực tăng trưởng, điều quan trọng không chỉ là tạo ra thêm các kết quả nghiên cứu mà phải xây dựng được cơ chế để tri thức được chuyển hóa thành công nghệ, sản phẩm và doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó, TP. Hồ Chí Minh tập trung triển khai các cơ chế, chính sách nhằm hoàn thiện hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo theo hướng đồng bộ, hiện đại và hội nhập quốc tế. Thành phố chú trọng phát triển mô hình đại học khởi nghiệp; hỗ trợ nghiên cứu gắn với nhu cầu doanh nghiệp; thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, bảo hộ và khai thác tài sản trí tuệ; phát triển doanh nghiệp khởi nguồn công nghệ; tăng cường kết nối cung - cầu công nghệ và mở rộng hợp tác quốc tế. Thành phố cũng triển khai Đề án phát triển mạng lưới trung tâm đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế, hướng tới hình thành các trung tâm có năng lực kết nối nguồn lực trong nước và quốc tế, tạo môi trường thuận lợi để các nhà khoa học, doanh nghiệp, nhà đầu tư và các tổ chức hỗ trợ cùng hợp tác phát triển.
Các chuyên gia, diễn giả tham gia phiên thảo luận tại hội thảo
Với vai trò cơ quan tham mưu, Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục phối hợp kết nối các chủ thể trong hệ sinh thái; thúc đẩy hợp tác nghiên cứu - phát triển, chuyển giao công nghệ, bảo hộ và khai thác tài sản trí tuệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu cũng như phát triển doanh nghiệp khởi nguồn công nghệ. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để đưa nhiều kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường, góp phần nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và tạo động lực tăng trưởng mới cho Thành phố.
Lam Vân
Kế hoạch 336/KH-UBND đề ra 3 nhiệm vụ trọng tâm gồm: phát triển hạ tầng kỹ thuật ngầm và quản lý cột treo cáp viễn thông, phát triển hạ tầng trạm thu phát sóng thông tin di động và phát triển điểm cung cấp dịch vụ viễn thông công cộng.
UBND Thành phố Hồ Chí Minh vừa ban hành Kế hoạch số 336/KH-UBND về phát triển hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2035 nhằm xây dựng hạ tầng viễn thông hiện đại, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển hạ tầng số, kinh tế số, xã hội số và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Theo Kế hoạch, Thành phố đặt mục tiêu bảo đảm 100% phủ sóng 5G tại các khu vực trung tâm phục vụ hành chính và các khu vực trọng điểm, bảo đảm chất lượng băng thông trên 100 Mbps, không có vùng lõm sóng 5G, bảo đảm 100% mạng cáp truyền dẫn phục vụ cơ quan, tổ chức và hộ gia đình có khả năng truy cập tốc độ trên 1 Gbps.
Thành phố cũng đẩy mạnh quản lý, khai thác hiệu quả hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động, tăng cường chia sẻ, sử dụng chung hạ tầng giữa các ngành, lĩnh vực và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, vận hành.

Ảnh minh họa.
Để thực hiện các mục tiêu trên, Kế hoạch đề ra 03 nhóm nhiệm vụ trọng tâm. Nhiệm vụ thứ nhất, phát triển hạ tầng kỹ thuật ngầm và quản lý cột treo cáp viễn thông, tập trung ngầm hóa cáp viễn thông gắn với ngầm hóa lưới điện, giảm dần hệ thống cột treo cáp tại khu vực trung tâm và trung tâm hành chính các xã, phường, đặc khu; đồng thời tiếp tục mở rộng, kết nối các tuyến đã triển khai; tổng khối lượng khoảng 700 tuyến (tương đương 2.000 km).
Nhiệm vụ thứ hai là phát triển hạ tầng trạm thu phát sóng thông tin di động (cột ăng ten). Thành phố sẽ tập trung nâng cao chất lượng mạng thông tin di động để đáp ứng nhu cầu phát triển các dịch vụ mới trên nền tảng 4G, 5G và các thế hệ tiếp theo, thúc đẩy việc chia sẻ, sử dụng chung hạ tầng giữa các doanh nghiệp viễn thông nhằm giảm số lượng trạm độc lập.
Nhiệm vụ thứ ba là phát triển điểm cung cấp dịch vụ viễn thông công cộng. Thành phố sẽ hoàn thiện mạng lưới các điểm cung cấp dịch vụ viễn thông công cộng, xây dựng các trạm thông tin đa năng theo nguyên tắc chia sẻ, sử dụng chung hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ giữa các ngành, lĩnh vực.
Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh là cơ quan chủ trì tổ chức triển khai Kế hoạch; phối hợp với các sở, ngành, địa phương, doanh nghiệp và các đơn vị liên quan triển khai các nhiệm vụ theo lộ trình. Đồng thời, Sở là đầu mối tổng hợp thông tin, dữ liệu về hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động; theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện, báo cáo UBND Thành phố và đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai. Việc triển khai Kế hoạch 336/KH-UBND góp phần xây dựng hạ tầng viễn thông hiện đại, đồng bộ, tạo nền tảng phát triển hạ tầng số, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số và xây dựng đô thị thông minh trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Hoàng Kim
Phương pháp mới giúp giảm đau sau mổ, cải thiện thẩm mỹ và rút ngắn thời gian phục hồi ở bệnh nhân, quy trình kỹ thuật được chuẩn hóa phù hợp điều kiện trang thiết bị và nhân lực của hệ thống y tế trong nước.
Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh vừa tổ chức Hội đồng tư vấn đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không sử dụng ngân sách nhà nước “So sánh độ an toàn và hiệu quả của phẫu thuật nội soi một lỗ và nhiều lỗ trong điều trị thai ngoài tử cung tại Bệnh viện Hùng Vương”. Việc đánh giá được thực hiện trên cơ sở đề nghị của tổ chức chủ trì là Bệnh viện Hùng Vương.

Thai ngoài tử cung là cấp cứu sản phụ khoa thường gặp nhất trong ba tháng đầu thai kỳ, chiếm khoảng 1–2% các trường hợp có thai và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong mẹ trong giai đoạn này. Mục tiêu của nhiệm vụ nhằm đánh giá và so sánh tính an toàn cũng như hiệu quả giữa phẫu thuật nội soi một cổng (single-port laparoscopy – SPL) và phẫu thuật nội soi nhiều cổng (multi-port laparoscopy – MPL) trong điều trị thai ngoài tử cung tại Bệnh viện Hùng Vương.
Báo cáo tại buổi đánh giá, BSCKII. Huỳnh Xuân Nghiêm cho biết phẫu thuật nội soi cắt vòi tử cung là kỹ thuật chuẩn. Nhóm nghiên cứu thực hiện đổi mới nằm ở cách tiếp cận, là sử dụng một đường rạch duy nhất qua rốn thay vì 4 trocar (trocar là dụng cụ sử dụng trong phẫu thuật nội soi). Kỹ thuật SPL là bước tiến tiếp theo của phẫu thuật xâm lấn tối thiểu, hứa hẹn mang lại lợi ích về giảm đau sau mổ, cải thiện thẩm mỹ và rút ngắn thời gian phục hồi ở bệnh nhân.
Nhiệm vụ được thực hiện dưới hình thức nghiên cứu lâm sàng can thiệp – thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng (Randomized Controlled Trial – RCT) trên người bệnh, kết hợp với nghiên cứu hồi cứu y văn để xây dựng cơ sở khoa học và quy trình kỹ thuật chuẩn (SOP). Quy trình kỹ thuật được chuẩn hóa phù hợp điều kiện trang thiết bị và nhân lực của hệ thống y tế trong nước, chi phí triển khai thấp do tận dụng năng lực phẫu thuật nội soi sẵn có, chủ động về đào tạo, chuyển giao và cập nhật mà không phụ thuộc nguồn lực bên ngoài.
Đại diện nhóm nghiên cứu cho biết kết quả của nhiệm vụ là cơ sở để cập nhật và hoàn thiện phác đồ điều trị thai ngoài tử cung của Bệnh viện Hùng Vương và mạng lưới chỉ đạo tuyến chuyên ngành sản phụ khoa khu vực phía Nam, góp phần chuẩn hóa thực hành lâm sàng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Nhóm nghiên cứu cam kết tiếp tục đồng hành trong việc chuẩn hóa, đào tạo, chuyển giao kỹ thuật và hỗ trợ chuyên môn cho các đơn vị tiếp nhận, đồng thời sẵn sàng chia sẻ quy trình kỹ thuật, dữ liệu và kinh nghiệm triển khai nhằm bảo đảm áp dụng kỹ thuật SPL an toàn, hiệu quả trong hệ thống y tế.
Hoàng Kim

